Tăng cường trách nhiệm giải trình và đánh giá tác động chính sách trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam

(Pháp lý). Trong bối cảnh cải cách thể chế và nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật ở Việt Nam, việc tăng cường trách nhiệm giải trình và đánh giá tác động chính sách trong quy trình lập pháp có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả và khả thi của các văn bản pháp luật.

Tóm tắt: Trong bối cảnh cải cách thể chế và nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật ở Việt Nam, việc tăng cường trách nhiệm giải trình và đánh giá tác động chính sách trong quy trình lập pháp có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm tính minh bạch, hiệu quả và khả thi của các văn bản pháp luật. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến trách nhiệm giải trình và đánh giá tác động chính sách trong quá trình xây dựng luật. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá thực trạng thực hiện các cơ chế này trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam, chỉ ra những hạn chế như việc đánh giá tác động chính sách còn mang tính hình thức, trách nhiệm giải trình chưa được thực hiện đầy đủ và cơ chế giám sát chưa hiệu quả. Từ những phân tích trên, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách và tăng cường trách nhiệm giải trình trong quy trình lập pháp, góp phần nâng cao chất lượng pháp luật và hiệu quả quản trị nhà nước.

Từ khóa: Trách nhiệm giải trình; Đánh giá tác động chính sách; Quy trình lập pháp; Chất lượng pháp luật; Quản trị nhà nước.

Enhancing accountability and Regulatory Impact Assessment in the legislative process in Vietnam

Abstract: Regulatory Impact Assessment or Regulatory Impact Analysis (RIA), is a mandatory requirement in legislative activities in many countries with advanced judicial systems. In Vietnam, the requirement for assessing and forecasting the impact of laws in the legislative process was first stipulated in the Law on the Promulgation of Legal Documents in 2008 (effective January 1, 2009). According to the Law on the Promulgation of Legal Documents in 2015, amended and supplemented in 2020, RIA is called a Policy Impact Assessment Report – one of the mandatory documents in the application dossier for drafting or the draft dossier of many important legal documents, and must be reviewed by competent authorities. This content continues to be affirmed in the Law on Promulgation of Legal Documents in 2025. Using qualitative research methods, this article focuses on clarifying the role of RIA in the legislative process and the necessity of strengthening the accountability of drafting agencies during the stages of gathering opinions, incorporating feedback, and social critique. Based on the experience of policy impact assessment in the legislative process of several countries, the authors recommend some lessons learned for Vietnam.

Keywords: Accountability; Policy Impact Assessment; Legislative Process; Legal Quality; Public Governance.

            1. Đặt vấn đề

          Theo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, từ năm 2006 đến năm 2015, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN tiến bộ trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, kiểm soát hiệu quả giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự giám sát của Nhân dân. Công tác lập pháp có sự cải tiến, hoàn thiện qua các nhiệm kỳ Quốc hội. Việc quyết định vấn đề quan trọng của đất nước đã được Quốc hội thực hiện ngày càng có kết quả tốt hơn. Hoạt động giám sát của Quốc hội có nhiều đổi mới, chất lượng và hiệu quả được nâng cao. Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, bắt đầu từ Đại hội VI (1986) đến Đại hội XIV (2026) vừa tròn 40 năm, trong giai đoạn này, bên cạnh các thành tựu đã đạt được, cần nhìn nhận thực tế rằng quy trình xây dựng pháp luật còn hạn chế, chưa bảo đảm tính chuyên nghiệp, khoa học, hiệu quả; năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức, cơ quan hoạch định chính sách còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thể chế hoá, cụ thể hoá phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong bối cảnh mới, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Năng lực dự báo hạn chế, dẫn đến một số chủ trương, chính sách, giải pháp đề ra chưa phù hợp, chưa thực sự tạo động lực và nguồn lực cho phát triển. Một số cơ chế, chính sách, quy định pháp luật còn chưa đồng bộ, thống nhất, khả thi, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu chưa đầy đủ. Tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế, yếu kém, chưa quyết liệt, hiệu lực và hiệu quả chưa cao; kiểm tra, kiểm soát thiếu chặt chẽ. Đây chính là nguyên nhân cơ bản làm cho nhiều chủ trương không được hiện thực hoá đúng, kịp thời.[1] Để góp phần giải quyết tình trạng này, việc nghiên cứu làm rõ vai trò của RIA trong quá trình lập pháp và sự cần thiết phải tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan soạn thảo trong giai đoạn tổng hợp ý kiến, tiếp thu các ý kiến góp ý và phản biện xã hội là rất cần thiết. Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là trách nhiệm giải trình và đánh giá tác động chính sách có vai trò như thế nào trong việc nâng cao chất lượng quy trình lập pháp? Những khuyến nghị nào có thể giúp tăng cường trách nhiệm giải trình thông qua cơ chế đánh giá tác động chính sách trong quy trình lập pháp?

          Trên thế giới có khá nhiều công trình nghiên cứu về RIA, trong khi đó tại Việt Nam, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài còn hạn chế. Một nghiên cứu gần đây có thể kể đến là bài viết Đánh giá tác động của chính sách trong xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay của tác giả Lê Tuấn Phong. Trong bài viết này, tác giả phân tích khái quát lý luận, thực tiễn về đánh giá tác động của chính sách trong xây dựng pháp luật; các quy định của pháp luật hiện hành và đề xuất các kiến nghị. Theo đó, tác giả chỉ ra một số hạn chế và bất cập trong hoạt động đánh giá thực tế như việc đánh giá tác động kinh tế - xã hội trước khi ban hành luật thường bị xem nhẹ; Thiếu dữ liệu định lượng và tính dự báo; Quy trình thiếu tính ràng buộc và tham vấn; Nội dung đánh giá chồng chéo; Bỏ sót tính ổn định của hệ thống pháp luật.[2] Bên cạnh đó còn có một số bài viết Phân tích chính sách trong hoạt động lập pháp của một số nước trên thế giới của tác giả Trần Thị Quyên, Sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay: thực trạng và kiến nghị hoàn thiện của tác giả Nguyễn Thị Việt Hà hay Trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực trong quản lý hành chính nhà nước: cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam của tác giả Trần Thanh Ngân. Những nghiên cứu này được thực hiện trước khi Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 có hiệu lực, do đó phần nào đã không còn phù hợp với bối cảnh mới của Việt Nam như đã đề cập ở trên. Khoảng trống nghiên cứu cần được làm rõ đó là việc thực hiện đầy đủ và hiệu quả cơ chế đánh giá tác động chính sách trong quy trình lập pháp hiện hành sẽ góp phần tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan có thẩm quyền lập pháp, từ đó nâng cao chất lượng và tính minh bạch của văn bản pháp luật.

1-1773804427.jpg

Ảnh minh hoạ

       2. Khái quát về chính sách và đánh giá tác động chính sách

         2.1. Khái quát về chính sách

Chính sách là một thuật ngữ khá quen thuộc với người dân, có nhiều cách hiểu khác nhau, tùy theo bối cảnh và nhận thức. Theo Từ điển Tiếng Việt, “chính sách” là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra[3]. Điều 3 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định: “Chính sách là tập hợp các giải pháp cụ thể của Nhà nước để giải quyết một hoặc một số vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định, phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng”. Theo Tài liệu tập huấn Kỹ năng phân tích, đánh giá tác động chính sách trong quy trình xây dựng VBQPPL của Văn phòng Chính phủ và GIZ có nêu, các nhà nghiên cứu quốc tế có một số giải thích phù hợp với nhận thức và bối cảnh của Việt Nam, trong đó chính sách có thể là: (1) Tập hợp những hành động có mục đích nhằm giải quyết một vấn đề công; (2) Là những gì Nhà nước làm hoặc không làm với tính toán và chủ đích để giải quyết một vấn đề cụ thể mà Nhà nước có trách nhiệm giải quyết; (3) Là quyết định mang tính quyền lực nhà nước nhằm sử dụng nguồn lực để thúc đẩy giá trị ưu tiên; (4) Là quá trình mà một xã hội tạo ra và quyết định có tính bắt buộc những hành vi nào được chấp nhận và hành vi nào không.[4]

         2.2. Phương pháp đánh giá tác động chính sách và vai trò của đánh giá tác động chính sách

          2.2.1. Vai trò của đánh giá tác động chính sách

Nâng cao chất lượng các chính sách pháp luật, giúp giảm chi phí tổn do sai sót về chính sách. Việc thực hiện RIA có thể mang lại những lợi ích cơ bản sau đây:

Thứ nhất, việc áp dụng đánh giá tác động chính sách (RIA) góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của Nhà nước trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách, pháp luật. Thông qua RIA, các cơ quan có thẩm quyền buộc phải xem xét và nhận diện đầy đủ các tác động tiềm tàng của chính sách hoặc quy định pháp luật, cũng như lợi ích và rủi ro mà chúng mang lại đối với xã hội. Nhờ đó, quá trình lựa chọn chính sách có thể hướng tới lợi ích chung của toàn xã hội thay vì phục vụ lợi ích riêng của một nhóm chủ thể nhất định. Đồng thời, việc ra quyết định ban hành chính sách trở nên khách quan và toàn diện hơn, qua đó hạn chế nguy cơ hình thành các quy định mang tính cục bộ hoặc thiên về lợi ích của từng địa phương hay ngành cụ thể.

Thứ hai, RIA hỗ trợ các chủ thể có thẩm quyền quyết định, như Quốc hội hoặc Chính phủ, tiếp cận vấn đề một cách toàn diện và có hệ thống. Thông qua công cụ này, các cơ quan ra quyết định có thể phân tích sâu hơn những tác động có thể phát sinh trong tương lai từ các lựa chọn chính sách, bao gồm cả lợi ích dự kiến và các chi phí xã hội liên quan. Đồng thời, RIA cung cấp các căn cứ và bằng chứng về hiệu quả, chi phí và lợi ích của từng phương án chính sách hoặc quy định pháp luật, cho phép so sánh giữa các giải pháp khác nhau. Trên cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền có thể lựa chọn phương án phù hợp nhất với chi phí xã hội thấp nhất.

Thứ ba, việc áp dụng RIA góp phần thay đổi cách tiếp cận của các chủ thể tham gia vào quá trình lập pháp, bao gồm cả cơ quan thẩm định, thẩm tra và cơ quan quyết định chính sách. Thay vì chỉ dựa trên một phương án duy nhất, các cơ quan này sẽ xem xét nhiều lựa chọn khác nhau, từ đó ưu tiên phương án có chi phí thấp nhất nhưng vẫn bảo đảm đạt được mục tiêu chính sách. Đồng thời, quá trình đánh giá đòi hỏi phải phân tích cẩn trọng mối quan hệ giữa lợi ích dự kiến và các chi phí có thể phát sinh để xác định liệu tác động tích cực của sự thay đổi chính sách có vượt trội so với những tác động tiêu cực hay không. Cách tiếp cận này giúp thay thế phương thức ra quyết định mang tính chủ quan, vốn ít chú trọng đến việc cân nhắc đầy đủ giữa lợi ích và chi phí, cả về phương diện định tính lẫn định lượng.

Thứ tư, RIA tăng cường tính minh bạch và tham vấn các bên có liên quan.
           RIA giúp cho bên có liên quan hiểu được lý do tại sao phải ban hành quy định và dự kiến các tác động sẽ xảy ra; qua đó, tăng cường sự minh bạch của quá trình ra quyết định. Việc tham vấn là bắt buộc trong quá trình thực hiện RIA, do đó giúp sự tham gia nhiều hơn của xã hội vào quá trình hoạch định chính sách.

Thứ năm, việc áp dụng RIA sẽ góp phần làm nâng cao chất lượng các quy định pháp luật được ban hành. Các văn bản pháp luật mới ra đời có được tính nhất quán với các chính sách và văn bản pháp luật sẵn có hoặc do các cơ quan nhà nước khác ban hành, nâng cao tính liên toàn của cả hệ thống pháp luật, tạo ra những lợi ích khác từ việc có hệ thống pháp luật với chất lượng cao như: chi phí tuân thủ thấp, giảm thiểu rủi ro pháp lý, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp...

Tất cả các lợi ích trên đã được chứng minh thông qua thực tiễn các kết quả áp dụng RIA ở nhiều quốc gia. RIA đã giúp làm giảm chi phí soạn thảo và thực thi chính sách, pháp luật thông qua việc giảm số lượng các chính sách không cần thiết, kém chất lượng, thực thi chính sách có hiệu quả hơn do chất lượng được nâng cao. RIA khi được thực hiện cùng với các công cụ khác sẽ tạo ra một hệ thống pháp luật minh bạch, chi phí tuân thủ thấp, hiệu quả hơn, phù hợp hơn với cơ chế thị trường và hệ thống pháp luật này sẽ nâng cao hiệu quả và phát triển kinh tế của quốc gia nói chung.[5]

          2.2.2. Chủ thể thực hiện đánh giá tác động chính sách

Theo khoản 4 Điều 3 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025, đánh giá tác động của chính sách là việc phân tích, dự báo khả năng ảnh hưởng của từng giải pháp nhằm lựa chọn phương án tối ưu, phù hợp với mục tiêu của chính sách. Điều 29 Luật Ban hành VBQPPL năm 2025 quy định cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách; Nội dung đánh giá tác động của chính sách bao gồm: (a) Tác động đối với hệ thống pháp luật được đánh giá trên cơ sở phân tích về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của chính sách; tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; (b) Tác động về kinh tế - xã hội được đánh giá trên cơ sở phân tích, dự báo chi phí, lợi ích, tác động tích cực, tiêu cực về một hoặc một số nội dung liên quan đến sản xuất, kinh doanh, việc làm, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, y tế, giáo dục, môi trường, quốc phòng, an ninh; các vấn đề khác có liên quan đến kinh tế - xã hội; (c) Tác động về giới (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân tích về cơ hội, điều kiện, năng lực thực hiện và thụ hưởng các quyền, lợi ích của mỗi giới; (d) Tác động của thủ tục hành chính (nếu có) được đánh giá trên cơ sở phân tích về sự cần thiết của thủ tục hành chính để thực hiện chính sách. Quy định này khá tương đồng với các quy định của một số quốc gia trên thế giới.

Quá trình tiến hành RIA sẽ được tổng kết và thể hiện cụ thể trong một văn bản riêng, gọi là báo cáo RIA. Báo cáo RIA tóm tắt các bước và các kết quả đạt được của toàn bộ quá trình thực hiện RIA. Báo cáo RIA thường bao gồm những nội dung sau: Tóm tắt; Các vấn đề cần điều chỉnh; Mục đích điều chỉnh; Danh mục các giải pháp; Xác định tác động, lợi ích, chi phí của các giải pháp; Phân tích, đánh giá, so sánh tác động, lợi ích, chi phí giữa các giải pháp; Quá trình và kết quả đạt được trong quá trình tham vấn cộng đồng; Giải pháp được lựa chọn và lý do lựa chọn; Kế hoạch theo dõi và đánh giá trong quá trình thực hiện; Báo cáo RIA nên được trình bày một cách đơn giản, dễ hiểu và không quá phức tạp; khuyến khích sử dụng các bảng và biểu đồ để minh họa, nên tập trung vào phân tích hơn là mô tả hoàn cảnh và mục tiêu chính sách. Một báo cáo RIA tốt thường có những đặc điểm như: Rõ ràng, chính xác và cụ thể; Là một văn bản độc lập, giải thích rõ vấn đề cần giải quyết, đưa ra các phương án và các lựa chọn mà không cần viện dẫn đến tài liệu nào khác; Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu; Sử dụng thông tin, dữ liệu và bằng chứng tốt nhất có được tại thời điểm đó; Cần chọn lọc các tác động cần đưa vào báo cáo RIA; Cần trình bày các tác động tích cực và tiêu cực lớn theo trình tự thống nhất trong từng phương án.

Có 3 loại báo cáo RIA có thể được áp dụng, (1) RIA đầy đủ được thực hiện đối với soạn thảo quy định pháp luật quan trọng, chủ yếu sử dụng phương pháp định lượng chuyên sâu. (2) RIA đơn giản được thực hiện trong quá trình xây dựng văn bản pháp luật, sử dụng kết hợp phương pháp phân tích định lượng và định tính. (3) RIA sơ bộ được thực hiện khi chuẩn bị đề nghị xây dựng văn bản pháp luật, chủ yếu theo phương pháp định tính.

Mặc dù phân chia các loại báo cáo RIA như trên nhưng thực tiễn áp dụng lại không có sự khác biệt quá rạch ròi giữa các báo cáo này. Điểm khác nhau cơ bản nằm ở độ sâu chi tiết khi phân tích, đánh giá tác động, lợi ích, chi phí trong quá trình thực hiện và trong báo cáo RIA. Đối với RIA đầy đủ thì yêu cầu nhiều hơn phân tích mang tính định lượng, thu thập số liệu nhiều hơn, tham vấn nhiều hơn. Trong khi đó, RIA đơn giản có thể có nhiều phân tích định tính hơn, ít tính toán mang tính định lượng; đối với Quy định sử dụng các loại báo cáo RIA của các nước cũng khác nhau, tùy vào bối cảnh.

          2.2.3. Quy trình đánh giá tác động chính sách

Quy trình thực hiện đánh giá tác động chính sách bao gồm các bước mà cơ quan soạn thảo phải tuân theo một cách tuần tự. Tuy nhiên, mức độ công việc trong mỗi bước là khác nhau tùy thuộc vào tầm quan trọng, mức độ ảnh hưởng của đề xuất chính sách, pháp luật. Quy trình RIA thường bao gồm các bước chung sau đây:

Bước 1: Xác định vấn đề bất cập, đặc biệt cần làm rõ các vấn đề mà Nhà nước dự định can thiệp bằng quy định pháp luật.

Bước 2: Xác định các mục tiêu chính sách.

Bước 3: Xác định rõ ràng các phương án có thể đạt mục tiêu nêu trên, kể cả phương án không cần can thiệp bằng quy định pháp luật.

Bước 4: Đánh giá các tác động của mỗi phương án, bao gồm lợi ích mà nó mang lại, chi phí nó tạo ra và các tác động khác, nếu có.

Bước 5: Tham vấn các bên liên quan cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc và khách quan nhằm tạo điều kiện để các bên liên quan tiếp cận và đóng góp ý kiến.

Bước 6: Trình bày tóm tắt tác động của các phương án và thuyết minh cho giải pháp đề xuất.

Bước 7: Dự kiến cách thức để thực hiện mỗi phương án, nếu được chấp thuận, bao gồm cả các biện pháp đảm bảo tuân thủ, cách thức và tiêu chí đánh giá kết quả thực hiện sau này.

Bước 8: Xác định hệ thống đánh giá, kiểm tra và giám sát việc thực hiện quy định sau khi được ban hành; thu thập thông tin có liên quan để phục vụ cho việc xây dựng chính sách, pháp luật trong tương lai.[6]

          3. Kiến nghị tăng cường trách nhiệm giải trình trong quy trình lập pháp

Trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực là hai trụ cột cơ bản của quản trị công hiện đại, thể hiện bản chất dân chủ và pháp quyền của Nhà nước. Trên cơ sở kế thừa khung lý luận quốc tế và đối chiếu với thực tiễn Việt Nam, tác giả Trần Thanh Ngân phân tích mối quan hệ giữa quyền lực hành chính, cơ chế giải trình và kiểm soát quyền lực trong quản lý nhà nước. Kết quả cho thấy, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc hoàn thiện thể chế pháp lý và mở rộng không gian giám sát xã hội, song vẫn còn những hạn chế về văn hóa giải trình, tính độc lập của thiết chế giám sát và hiệu lực chế tài[7]. Cơ quan xây dựng chính sách chịu trách nhiệm tiến hành những thay đổi dự kiến về chính sách sẽ chịu trách nhiệm thực hiện RIA. Tuy nhiên, kiến nghị trong một số trường hợp cụ thể, cơ quan này có thể ủy nhiệm cho một tổ chức chuyên môn hoặc một đơn vị độc lập để tiến hành công việc này để tăng cường tính minh bạch trong quá trình đánh giá tác động chính sách. Bên cạnh đó cần xem xét việc yêu cầu một cơ quan chịu trách nhiệm giám sát việc tuân thủ các quy định về RIA và bảo đảm chất lượng của các đánh giá đã được tiến hành. Việc đưa RIA vào quá trình ra quyết định của các cơ quan nhà nước sẽ không thể thiếu sự hỗ trợ về chính trị, hành chính và của công chúng.

Quá trình thực hiện RIA nên bắt đầu ngay khi có những thảo luận đầu tiên về kế hoạch xây dựng chính sách và phải tiến hành song song với quá trình xây dựng đề xuất chính sách. Báo cáo RIA sơ bộ cần được lập càng sớm càng tốt nhằm xác định vấn đề cần phân tích cũng như các phương án thay thế và coi đó là một nội dung đầu vào cho quá trình tham vấn ý kiến công chúng. RIA là quá trình mang tính dự báo và đánh giá một cách có hệ thống các tác động, chủ yếu các tác động về lợi ích/chi phí của một đề xuất chính sách. RIA không thay thế trình tự, thủ tục ban hành chính sách, luật pháp mà phải được lồng ghép vào đó để trở thành một nguồn thông tin góp phần cung cấp các chứng cứ rõ ràng cho cơ quan soạn thảo lựa chọn phương án tốt nhất, chuẩn bị dự thảo để cơ quan có thẩm quyền thảo luận và thông qua chính sách, pháp luật.

---------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Minh Dương, Đánh giá dự báo tác động pháp luật tại Việt Nam: Hoạt động không thể thiếu trong quy trình lập pháp đăng tại https://pbgdpl.gov.vn/Pages/chi-tiet-tin.aspx?ItemID=890&l=Nghiencuutraodoi

2. Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, trang 83, đăng tại https://xdcs.cdnchinhphu.vn/446259493575335936/2026/2/6/bao-cao-tong-ket-40-nam-17703880527452025545925-1770393521372639383648.pdf

3. Lê Tuấn Phong, Đánh giá tác động của chính sách trong xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11 (411), tháng 6/2020. https://lapphap.vn/Pages/TinTuc/210557/danh-gia-tac-dong-cua-chinh-sach-trong-xay-dung-phap-luat-o-nuoc-ta-hien-nay.html

4. Hoàng Phê (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr.15

5. Văn phòng Chính phủ và GIZ (2019), Tài liệu tập huấn Kỹ năng phân tích, đánh giá tác động chính sách trong quy trình xây dựng VBQPPL, trang 4

6. Trần Thanh Ngân, Trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực trong quản lý hành chính nhà nước: cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, đăng tại https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/11/27/trach-nhiem-giai-trinh-va-kiem-soat-quyen-luc-trong-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-co-so-ly-luan-va-thuc-tien-o-viet-nam/


[1] Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam, trang 83, đăng tại https://xdcs.cdnchinhphu.vn/446259493575335936/2026/2/6/bao-cao-tong-ket-40-nam-17703880527452025545925-1770393521372639383648.pdf

[2] Lê Tuấn Phong, Đánh giá tác động của chính sách trong xây dựng pháp luật ở nước ta hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11 (411), tháng 6/2020. https://lapphap.vn/Pages/TinTuc/210557/danh-gia-tac-dong-cua-chinh-sach-trong-xay-dung-phap-luat-o-nuoc-ta-hien-nay.html

[3] Hoàng Phê (1997), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr.15

[4] Văn phòng Chính phủ và GIZ (2019), Tài liệu tập huấn Kỹ năng phân tích, đánh giá tác động chính sách trong quy trình xây dựng VBQPPL, trang 4

[5] Văn phòng Chính phủ và GIZ (2019), Tài liệu tập huấn Kỹ năng phân tích, đánh giá tác động chính sách trong quy trình xây dựng VBQPPL, trang 6

[6] Văn phòng Chính phủ và GIZ (2019), Tài liệu tập huấn Kỹ năng phân tích, đánh giá tác động chính sách trong quy trình xây dựng VBQPPL, trang 9

[7] Trần Thanh Ngân, Trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực trong quản lý hành chính nhà nước: cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, đăng tại https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/11/27/trach-nhiem-giai-trinh-va-kiem-soat-quyen-luc-trong-quan-ly-hanh-chinh-nha-nuoc-co-so-ly-luan-va-thuc-tien-o-viet-nam/

PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Thuỷ; ThS. Mai Thị Chúc Hạnh

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin