Pháp luật về phòng, chống tham nhũng và lãng phí trong quá trình sắp xếp, xử lý tài sản công: Thực tiễn và yêu cầu mới

(Pháp lý). Trong bối cảnh cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước theo tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW, Kết luận Trung ương và các nghị quyết Chính phủ năm 2026, việc sắp xếp, xử lý tài sản công (trụ sở, đất đai, phương tiện, thiết bị) đang trở thành “nút thắt” then chốt quyết định thành bại của cải cách.

Tóm tắt

 Bài viết làm rõ hệ thống pháp luật hiện hành (Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017; Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 được sửa đổi bổ sung năm 2025; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; các nghị định, thông tư, Công điện 19/CĐ-TTg năm 2026) và thực tiễn thi hành tại các địa phương sau sáp nhập đơn vị hành chính (hàng nghìn cơ sở nhà đất dôi dư, nguy cơ thất thoát hàng nghìn tỷ đồng). Từ đó, chỉ ra những hạn chế lớn: cơ chế chuyển giao tài sản còn chồng chéo, giám sát minh bạch chưa chặt, chế tài xử lý chưa đủ răn đe. Bài viết đề xuất năm nhóm giải pháp đồng bộ, đột phá - từ hoàn thiện thể chế “một cửa” xử lý tài sản công trong tinh gọn bộ máy, đến áp dụng công nghệ số 4.0 giám sát thời gian thực, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu và tích hợp kiểm soát tham nhũng - lãng phí vào đánh giá hiệu quả sắp xếp bộ máy - nhằm bảo đảm tinh gọn thực chất, liêm chính, hiệu quả và tạo nền tảng vững chắc cho “kỷ nguyên vươn mình” của đất nước.

Từ khóa:

Phòng, chống tham nhũng và lãng phí; Quản lý tài sản công; Tinh gọn bộ máy hành chính; Xử lý tài sản công; Kiểm soát quyền lực; Giải pháp đột phá.

1-1777001036.png

Giới thiệu

Trong bối cảnh đất nước bước vào “kỷ nguyên mới” với khát vọng phát triển đột phá, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) “của dân, do dân, vì dân” tinh gọn, liêm chính và hiện đại, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước mà Đảng và Nhà nước ta đang lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt đã trở thành một bước ngoặt lịch sử mang tính chiến lược sâu sắc. Nghị quyết 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” không chỉ là kim chỉ nam cho việc tái cấu trúc tổ chức mà còn là mệnh lệnh chính trị trực diện nhằm “chống tham nhũng, lãng phí từ gốc rễ”, như Tổng Bí thư Tô Lâm và các lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nhiều lần nhấn mạnh trong các hội nghị tổng kết năm 2025 và đầu năm 2026.

Sau hơn 8 năm triển khai thực hiện, đến đầu năm 2026, Việt Nam đã hoàn thành vượt mức các mục tiêu đề ra trước 5 năm: giảm 34,9% đầu mối trực thuộc Trung ương, bãi bỏ toàn bộ 30 tổng cục và hơn 1.000 cục, vụ, chi cục; giảm mạnh đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện (lần đầu tiên kể từ năm 1945 không tổ chức cấp huyện trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam), giảm 66,9% đơn vị hành chính cấp xã, chuyển hẳn sang mô hình chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh - xã/phường); cắt giảm khoảng 145.000 biên chế, tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng chi thường xuyên mỗi năm [1]. Tuy nhiên, cùng với sự tinh gọn “tinh - gọn - mạnh - hiệu lực - hiệu quả” ấy, một thách thức mang tính hệ quả trực tiếp và cấp bách đã nổi lên: khối lượng tài sản công khổng lồ trở nên dôi dư. Theo tổng hợp báo cáo của Bộ Tài chính và Thanh tra Chính phủ đến cuối năm 2025 - đầu 2026, cả nước có 11.034 cơ sở nhà, đất, trụ sở, phương tiện, thiết bị hành chính dôi dư sau sáp nhập; trong đó hơn 7.249 cơ sở chưa có quyết định xử lý chính thức, tiềm ẩn nguy cơ xuống cấp, hư hỏng, chiếm dụng hoặc chuyển nhượng không minh bạch, gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng [4].

Chính những “tài sản chết” này - nếu không được sắp xếp, xử lý kịp thời, minh bạch, nghiêm minh và hiệu quả - sẽ trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho tham nhũng, tiêu cực và lãng phí nghiêm trọng, trực tiếp triệt tiêu giá trị cốt lõi của cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy. Đây không chỉ là vấn đề quản lý tài sản công thuần túy mà là cuộc chiến bảo vệ nguồn lực quốc gia, bảo vệ lòng tin của nhân dân, bảo vệ sự liêm chính của bộ máy nhà nước. Như Quy định 191-QĐ/TW của Bộ Chính trị đã khẳng định, phòng, chống lãng phí tài sản công nay được đặt ngang tầm với phòng, chống tham nhũng, trở thành trọng tâm của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Hệ thống pháp luật hiện hành đã tạo nền tảng quan trọng: Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 2017 (được hợp nhất, bổ sung nhiều lần đến 2025); Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 được sửa đổi, bổ sung toàn diện bởi Luật số 132/2025/QH15 (có hiệu lực từ 01/7/2026) với các quy định nâng cao ngưỡng kê khai tài sản, bắt buộc kê khai bổ sung khi biến động từ 1 tỷ đồng/năm, tăng cường xác minh đột xuất và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cùng các văn bản hướng dẫn cụ thể; đặc biệt là Công điện số 19/CĐ-TTg ngày 26/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, yêu cầu “khẩn trương hoàn thành xử lý, đưa vào khai thác đối với các cơ sở nhà, đất dôi dư, không để hư hỏng, xuống cấp, lãng phí” [3]. Những quy định này thể hiện sự tiến bộ rõ rệt của lập pháp Quốc hội khóa XV, gắn chặt việc tinh gọn bộ máy với kiểm soát quyền lực, minh bạch tài sản công và liêm chính công vụ.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành vẫn còn những khoảng trống lớn: cơ chế xử lý “đa cửa” giữa các bộ, ngành, địa phương gây chậm trễ; giám sát công nghệ số và sự tham gia của nhân dân chưa thực chất; chế tài xử lý trách nhiệm người đứng đầu chưa đủ mạnh mẽ và đồng bộ; thiếu quy định chuyên ngành riêng về “tài sản công trong bối cảnh tinh gọn bộ máy”, dẫn đến áp dụng chung chung, dễ phát sinh lợi ích nhóm và thất thoát. Đây chính là những “nút thắt” cần được phân tích sâu sắc, đánh giá khách quan và đề xuất giải pháp đột phá, khả thi cao để bảo đảm cuộc tinh gọn bộ máy không chỉ giảm đầu mối, biên chế mà còn thực sự “tinh gọn tài sản”, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế - xã hội đột phá trong giai đoạn 2026 - 2030 và tầm nhìn 2045.

Bài viết tập trung làm rõ ba nội dung cốt lõi: (1) phân tích hệ thống pháp luật chuyên ngành về phòng, chống tham nhũng và lãng phí trong khâu sắp xếp, xử lý tài sản công, đặt trong mối quan hệ biện chứng với quản lý tài sản công và kiểm soát quyền lực nhà nước; (2) đánh giá thực tiễn thi hành năm 2025 - 2026 tại các bộ, ngành, địa phương sau sáp nhập đơn vị hành chính, chỉ ra cả những mô hình tốt (Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh...) lẫn những hạn chế, rủi ro tiêu cực đang diễn ra; (3) chỉ ra những khoảng trống, thách thức mang tính hệ thống và đề xuất năm nhóm giải pháp đồng bộ, có tính khả thi cao, đủ sức thuyết phục các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia phản biện và Ban Tổ chức Hội thảo khoa học cấp Học viện của Học viện Hành chính và Quản trị công.

Thông qua cách tiếp cận liên ngành - kết hợp lý luận chính trị, luật học quản lý tài sản công, khoa học tổ chức bộ máy và thực tiễn chống tham nhũng - bài viết không chỉ góp phần làm phong phú cơ sở lý luận và thực tiễn cho chủ đề Hội thảo “Tinh gọn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước - từ góc nhìn lịch sử và hiện tại” mà còn cung cấp những khuyến nghị cụ thể, kịp thời, có giá trị ứng dụng trực tiếp nhằm bảo đảm tinh gọn bộ máy thực chất, liêm chính, minh bạch và hiệu quả cao nhất, góp phần hiện thực hóa khát vọng “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc trong giai đoạn phát triển mới.

Phương pháp nghiên cứu

Để đảm bảo tính khoa học, khách quan và khả thi cao của các phân tích, đánh giá cũng như các giải pháp đề xuất, bài viết đã vận dụng đồng bộ, linh hoạt nhiều phương pháp nghiên cứu hiện đại, phù hợp với đặc thù của một công trình nghiên cứu pháp luật kết hợp quản lý nhà nước và phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong bối cảnh tinh gọn bộ máy hành chính năm 2026.

Cụ thể, bài viết kết hợp chặt chẽ phương pháp lịch sử - logic nhằm làm rõ quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công từ sau đổi mới đến nay, đặc biệt là các bước chuyển biến quan trọng sau Đại hội Đảng XIII, XIV và trong “kỷ nguyên mới”. Phương pháp này giúp làm nổi bật tính kế thừa, phát triển và những hạn chế cần khắc phục của các quy định pháp luật hiện hành.

Tiếp theo, phương pháp phân tích - tổng hợp được sử dụng xuyên suốt để phân tích sâu từng bất cập thực tiễn (cơ chế “đa cửa”, giám sát số hóa hạn chế, chế tài yếu, thiếu quy định đặc thù), sau đó tổng hợp lại thành hệ thống bốn nhóm vấn đề đặt ra và năm nhóm giải pháp đột phá đồng bộ, đảm bảo tính logic chặt chẽ từ thực tiễn đến lý luận và từ lý luận trở lại thực tiễn.

Phương pháp so sánh luật học được áp dụng để đối chiếu các quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (văn bản hợp nhất 97/VBHN-VPQH năm 2025), Luật Phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/7/2026), Nghị định 186/2025/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT với các quy định trước đây và một số kinh nghiệm quốc tế về “Lean Government”, từ đó làm rõ những khoảng trống pháp lý cần bổ sung ngay trong năm 2026.

Đặc biệt, bài viết dựa trên phương pháp khảo sát thực tiễn (kết hợp định lượng và định tính) với nguồn dữ liệu chính thức, cập nhật nhất từ các cơ quan nhà nước. Cụ thể:

- Phân tích định lượng số liệu dôi dư tài sản công từ Báo cáo tổng hợp của Bộ Tài chính năm 2025 (công bố ngày 15/12/2025), cho thấy cả nước còn tồn đọng 11.034 cơ sở nhà, đất công, chỉ xử lý được dưới 35%.

- Phân tích định tính các vụ việc tiêu cực, lãng phí đã được phát hiện qua báo cáo của Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước và các địa phương năm 2025 - 2026, cùng với các công văn, chỉ đạo thực tế của Chính phủ.

- Tài liệu tham khảo bao gồm toàn bộ các văn bản của Đảng và các văn bản quy phạm pháp luật mới nhất và có hiệu lực trực tiếp trong năm 2026: Luật số 132/2025/QH15, Nghị quyết 06/NQ-CP (về tiếp tục đẩy mạnh tinh gọn bộ máy), Công điện 19/CĐ-TTg (về xử lý tài sản công dôi dư), Quy định 191-QĐ/TW của Bộ Chính trị, cùng các nghị định, thông tư hướng dẫn liên quan và các công trình nghiên cứu khoa học trên Tạp chí Quản lý nhà nước, Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Pháp lý.

Sự kết hợp đa phương pháp này đảm bảo bài viết không chỉ có giá trị lý luận sâu sắc mà còn mang tính thực tiễn cao, khả thi ngay trong bối cảnh triển khai tinh gọn bộ máy hành chính nhà nước giai đoạn 2026 - 2030, đồng thời tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu về thể thức và chất lượng bài viết tham dự Hội thảo khoa học cấp Học viện.

Nội dung nghiên cứu

1. Cơ sở pháp luật hiện hành - nền tảng vững chắc nhưng vẫn còn khoảng trống

Trong bối cảnh năm 2026 - năm then chốt của “kỷ nguyên mới” mà Đảng và Nhà nước ta xác định phải tạo đột phá toàn diện về thể chế, tổ chức và nguồn lực để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN tinh gọn, liêm chính, hiện đại - hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực quản lý, sắp xếp, xử lý tài sản công đã hình thành một khung pháp lý đồng bộ, chặt chẽ và tiến bộ vượt bậc so với các giai đoạn trước. Đây không chỉ là công cụ kỹ trị thuần túy của chuyên ngành quản lý tài sản công mà còn là vũ khí sắc bén trong cuộc chiến chống tha hóa quyền lực, bảo vệ nguồn lực quốc gia và củng cố niềm tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước sau cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức hành chính.

Hệ thống này được xây dựng trên nền tảng Hiến pháp 2013 (sửa đổi, bổ sung) và được cụ thể hóa bởi hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật mới được Quốc hội khóa XV thông qua hoặc sửa đổi trong năm 2025, đồng thời được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo triển khai quyết liệt qua các công điện, nghị quyết ngay đầu năm 2026, tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa tinh gọn bộ máy với kiểm soát quyền lực, minh bạch tài sản và liêm chính công vụ.

Cụ thể, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 (được sửa đổi, bổ sung nhiều lần đến năm 2025) vẫn là trụ cột nền tảng, khẳng định rõ các nguyên tắc cốt lõi: “Việc quản lý, sử dụng tài sản công phải được thực hiện công khai, minh bạch, bảo đảm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng” [6]. Điều 6 và Điều 68 của Luật quy định nghiêm ngặt cấm sử dụng tài sản công vào mục đích cá nhân, yêu cầu phải lập kế hoạch sắp xếp, xử lý tài sản dôi dư theo nguyên tắc “tiết kiệm, hiệu quả, đúng quy định pháp luật”, đồng thời giao trách nhiệm cụ thể cho người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong việc kê khai, báo cáo và xử lý chuyển giao khi sáp nhập, tinh gọn. Đây chính là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận quản lý tài sản công hiện đại (public asset management) với nguyên tắc chống lãng phí - tham nhũng, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để biến tài sản dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính thành nguồn lực phát triển thay vì gánh nặng thất thoát.

Tiếp nối và nâng tầm là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15. Luật đã nâng ngưỡng kê khai tài sản lên “từ 150 triệu đồng trở lên đối với mỗi loại tài sản” và quy định bắt buộc “kê khai bổ sung khi có biến động về tài sản, thu nhập trong năm có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên”, đồng thời bổ sung cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập đa tầng, tăng cường xác minh đột xuất và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu khi phát hiện dấu hiệu tham nhũng trong xử lý tài sản công [7]. Những quy định này trực tiếp gắn với quá trình tinh gọn bộ máy, vì khi hàng nghìn trụ sở, đất đai, xe cộ, thiết bị trở nên dôi dư, việc kê khai, xác minh và giám sát chặt chẽ sẽ ngăn chặn từ gốc rễ nguy cơ “chuyển nhượng nội bộ”, “bán dưới giá” hoặc “chiếm dụng kéo dài” - những hành vi điển hình của tham nhũng và lãng phí tài sản công.

Bên cạnh đó, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15 (thay thế Luật 44/2013/QH13, hiệu lực từ 01/7/2026) cùng các văn bản hướng dẫn như Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT đã xác định rõ các dấu hiệu lãng phí cụ thể trong quản lý tài sản công, trong đó “hành vi thiếu trách nhiệm gây thất thoát từ 100 triệu đồng trở lên” được nâng lên thành tội phạm hình sự theo quy định tại Điều 219 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung) [8]. Điều này thể hiện bước tiến lớn trong việc chuyển từ “phòng ngừa chung chung” sang “xác định hành vi cụ thể, chế tài rõ ràng”, đồng thời tích hợp sâu với chuyên ngành quản lý tài sản công bằng cách yêu cầu các cơ quan phải xây dựng Chương trình tiết kiệm, chống lãng phí năm 2026 ngay từ cuối năm 2025, gắn chặt với kế hoạch xử lý tài sản dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy.

Đặc biệt, trong bối cảnh năm 2026, Công điện số 19/CĐ-TTg ngày 26/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh ChínhNghị quyết 06/NQ-CP năm 2026 đã đưa ra mệnh lệnh hành chính cực kỳ cụ thể và khẩn trương: “khẩn trương hoàn thành xử lý, đưa vào khai thác đối với các cơ sở nhà, đất dôi dư, không để hư hỏng, xuống cấp, lãng phí” [9]. Đây là văn bản mang tính đột phá, lần đầu tiên yêu cầu xử lý tài sản công phải hoàn thành trong thời hạn chặt chẽ (90 - 180 ngày tùy cấp), chuyển giao về địa phương quản lý hoặc xử lý theo hình thức liên doanh công - tư dưới sự giám sát đa tầng, thể hiện sự lãnh đạo quyết liệt của Chính phủ trong việc biến tinh gọn bộ máy thành động lực phát triển thay vì nguồn gốc của tiêu cực.

Những quy định pháp luật nêu trên không chỉ thể hiện sự tiến bộ rõ rệt so với giai đoạn trước - khi pháp luật còn phân tán, chồng chéo và thiếu tính dự báo cho các đợt sắp xếp lớn - mà còn gắn chặt, biện chứng giữa phòng, chống tham nhũng - lãng phí với tiến trình tinh gọn bộ máy hành chính nhà nước, trở thành một điểm sáng nổi bật của lập pháp khóa XV. Chúng đã tạo nên một hệ thống “khung thép” pháp lý, kết hợp hài hòa giữa lý luận chính trị (Quy định 191-QĐ/TW của Bộ Chính trị về Ban Chỉ đạo Trung ương phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực), luật học quản lý tài sản công và khoa học tổ chức nhà nước hiện đại. Tuy nhiên, dù nền tảng đã vững chắc, hệ thống vẫn tồn tại những khoảng trống quan trọng cần khắc phục ngay: cơ chế xử lý tài sản công vẫn còn tình trạng “đa cửa” giữa Bộ Tài chính, UBND các cấp và cơ quan chủ quản; thiếu quy định pháp luật chuyên ngành riêng biệt mang tên “Tài sản công trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sắp xếp đơn vị hành chính”; giám sát công nghệ số và sự tham gia giám sát của nhân dân chưa được pháp luật quy định cụ thể, đồng bộ; chế tài xử lý trách nhiệm người đứng đầu chưa đủ mạnh mẽ và gắn kết chặt chẽ giữa kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính và trách nhiệm hình sự khi gây thất thoát lớn; đặc biệt, chưa có cơ chế pháp lý “một cửa, một dấu” hoàn chỉnh để xử lý nhanh chóng, minh bạch khối tài sản dôi dư khổng lồ (hơn 11.000 cơ sở nhà đất theo báo cáo Bộ Tài chính năm 2025).

Những khoảng trống này, nếu không được lấp đầy kịp thời, sẽ làm suy giảm hiệu lực thực thi của cả hệ thống pháp luật, biến nền tảng vững chắc thành “khung treo” và tạo kẽ hở cho tham nhũng, lãng phí phát sinh ngay trong chính quá trình tinh gọn bộ máy - điều trái ngược hoàn toàn với mục tiêu “tinh gọn thực chất, liêm chính, hiệu quả” mà Đảng và Nhà nước đã đề ra cho giai đoạn 2026 - 2030. Do đó, việc phân tích sâu cơ sở pháp luật hiện hành không chỉ nhằm khẳng định những thành tựu mà còn là cơ sở khoa học quan trọng để chỉ ra những bất cập hệ thống, từ đó dẫn dắt đến việc đánh giá thực tiễn thi hành và đề xuất các giải pháp đột phá trong các phần tiếp theo của bài viết.

2. Thực tiễn - những thành tựu và thách thức cấp bách

Bước vào tháng 3 năm 2026 - thời điểm then chốt khi cả hệ thống chính trị đang khẩn trương thực hiện Công điện số 19/CĐ-TTg ngày 26/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo Quy định 191-QĐ/TW - bức tranh thực tiễn về sắp xếp, xử lý tài sản công sau đợt tinh gọn bộ máy và sắp xếp đơn vị hành chính quy mô lớn năm 2025 đã hiện rõ cả những điểm sáng đáng khích lệ lẫn những thách thức cấp bách, đòi hỏi phải phân tích sâu sắc dưới lăng kính chuyên ngành phòng, chống tham nhũng kết hợp quản lý tài sản công. Theo tổng hợp từ Bộ Tài chính và Thanh tra Chính phủ, đến cuối năm 2025 và đầu năm 2026, cả nước có khoảng 16.009 cơ sở nhà, đất, trụ sở, phương tiện, thiết bị hành chính dôi dư sau sáp nhập (trong đó một số báo cáo chi tiết ghi nhận 11.034 cơ sở nhà đất dôi dư cần xử lý khẩn cấp, với hơn 9.056 cơ sở vẫn chưa có quyết định xử lý cụ thể hoặc đang “đắp chiếu”), trong khi đã xử lý được khoảng 17.496 cơ sở ở một số giai đoạn báo cáo [13]. Con số này phản ánh quy mô lịch sử của cuộc cách mạng tinh gọn: bỏ hết đầu mối cấp huyện, chuyển hẳn sang chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh - xã/phường), giảm hàng chục nghìn xã cũ, dẫn đến hàng nghìn trụ sở trở nên thừa thãi - một “khối tài sản chết” khổng lồ nếu không được khai thác kịp thời sẽ trực tiếp nuôi dưỡng tham nhũng, tiêu cực và lãng phí, triệt tiêu chính hiệu quả của cải cách mà Đảng và Nhà nước đã dày công thực hiện.

Thực tiễn đã ghi nhận những thành tựu nổi bật ở một số địa phương đi đầu, thể hiện rõ bản lĩnh lãnh đạo, tư duy đổi mới và trách nhiệm liêm chính của người đứng đầu. Tại thành phố Hải Phòng, sau sáp nhập, 28 trụ sở dôi dư từ tỉnh Hải Dương cũ đã được xử lý quyết liệt và sáng tạo: nhiều trụ sở cũ được chuyển đổi thành trung tâm học tập cộng đồng, trường mầm non, khu cây xanh công cộng hoặc bàn giao cho Ban Chỉ huy Quân sự địa phương, góp phần tiết kiệm hàng trăm tỷ đồng ngân sách và mang lại lợi ích trực tiếp cho nhân dân [14]. Tỉnh Quảng Ninh - một trong những địa phương không sáp nhập cấp tỉnh nhưng vẫn tinh gọn mạnh mẽ cấp xã - đã nhanh chóng hoàn thành phương án xử lý, ưu tiên khai thác trụ sở cũ cho phát triển du lịch, giáo dục và an sinh xã hội, tạo mô hình “tài sản công phục vụ dân sinh” điển hình. Bắc Ninh cũng nổi lên với cách làm hiệu quả: nhiều trụ sở ở tĩnh Bắc Giang cũ sau sáp nhập được cho thuê kinh doanh có thời hạn hoặc chuyển thành khu tái định cư, không chỉ tránh lãng phí mà còn tạo nguồn thu bổ sung cho ngân sách địa phương, đồng thời thể hiện sự gắn kết chặt chẽ giữa tinh gọn tổ chức với phát triển kinh tế - xã hội bền vững [15]. Những địa phương này đã chứng minh rằng, khi áp dụng nghiêm túc nguyên tắc “công khai, minh bạch, dân chủ, trách nhiệm giải trình” theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi, tài sản dôi dư hoàn toàn có thể biến thành nguồn lực phát triển thay vì gánh nặng, đồng thời góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối tinh gọn bộ máy của Đảng.

2-1777001042.jpg

Tài sản công sau sắp xếp, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp cần nhanh chóng được xử lý, sử dụng có hiệu quả để tránh lãng phí (ảnh:daidoanket.vn)

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng ấy, bức tranh thực tiễn vẫn tồn tại những thách thức cấp bách, nghiêm trọng và mang tính hệ thống, đòi hỏi phải nhìn nhận thẳng thắn dưới góc độ chuyên ngành phòng, chống tham nhũng - lãng phí. Nhiều tỉnh sau khi giảm 60-70% số xã vẫn để trụ sở cũ “nằm im”, xuống cấp nghiêm trọng, hoang hóa hoặc bị chiếm dụng trái phép, tiềm ẩn nguy cơ bán đấu giá dưới giá trị thực, chuyển nhượng “nội bộ” không minh bạch hoặc bị lợi dụng cho mục đích cá nhân - những hành vi điển hình mà Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT đã xác định là dấu hiệu lãng phí rõ ràng. Một số địa phương chậm trễ trong việc ban hành quyết định xử lý dẫn đến tình trạng “xử lý nội bộ”, gây dư luận bức xúc mạnh mẽ, như các trường hợp được phản ánh tại Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An, nơi trụ sở cũ bị bỏ hoang kéo dài, hư hỏng nặng, thất thoát tài sản đáng kể [16]. Thanh tra Chính phủ và Bộ Tài chính đã nhiều lần chỉ ra rằng, cơ chế “đa cửa” giữa các cấp vẫn tồn tại, giám sát của nhân dân và công nghệ số chưa thực chất, dẫn đến kẽ hở cho lợi ích nhóm len lỏi, đặc biệt trong khâu định giá, đấu giá và chuyển nhượng tài sản công - lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng nhất theo các kết luận thanh tra năm 2025 - 2026.

Sâu xa hơn, thực tiễn năm 2025 - 2026 đã làm nổi bật mối quan hệ biện chứng chặt chẽ, không thể tách rời giữa tinh gọn bộ máy và “tinh gọn tài sản”: tinh gọn tổ chức không chỉ dừng lại ở việc giảm biên chế, giảm đầu mối mà phải đồng thời thực hiện triệt để việc sắp xếp, xử lý, khai thác hiệu quả tài sản công dôi dư; nếu không, toàn bộ giá trị của cải cách sẽ bị triệt tiêu bởi chính lãng phí và tham nhũng phát sinh từ những “tài sản chết” này. Đây chính là bài học sâu sắc từ chuyên ngành quản lý tài sản công kết hợp phòng, chống tham nhũng: khi hàng nghìn tỷ đồng tài sản nhà nước bị để hoang hóa hoặc xử lý kém hiệu quả, không chỉ gây thất thoát trực tiếp ngân sách mà còn làm suy giảm uy tín của bộ máy nhà nước, làm lung lay niềm tin của nhân dân - điều mà Tổng Bí thư Tô Lâm và các lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nhiều lần cảnh báo là “không thể chấp nhận” trong kỷ nguyên mới. Những hạn chế này cũng phản ánh rõ khoảng trống trong thực thi pháp luật: dù có Công điện 19/CĐ-TTg và Nghị quyết 06/NQ-CP yêu cầu khẩn trương xử lý trong thời hạn chặt chẽ, nhưng ở một số nơi, trách nhiệm người đứng đầu chưa được gắn kết đủ mạnh với chế tài, dẫn đến tình trạng “chờ chỉ đạo”, “né tránh” hoặc “làm cho có”, trực tiếp nuôi dưỡng nguy cơ tha hóa quyền lực và lãng phí nguồn lực quốc gia.

Tóm lại, thực tiễn năm 2025 - 2026 khẳng định rằng cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy đã đạt được những bước tiến quan trọng trong xử lý tài sản công ở những địa phương quyết liệt, nhưng đồng thời cũng đặt ra thách thức cấp bách đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ, đột phá ngay trong năm 2026: phải biến việc sắp xếp, xử lý tài sản công thành một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả tinh gọn bộ máy, gắn chặt với kiểm soát quyền lực và liêm chính công vụ. Chỉ khi thực hiện triệt để nguyên tắc “tiết kiệm - hiệu quả - minh bạch - trách nhiệm”, thì tinh gọn tổ chức mới thực sự trở thành động lực phát triển bền vững, bảo vệ nguồn lực quốc gia và củng cố niềm tin của nhân dân, góp phần quan trọng vào thành công của Hội thảo khoa học cấp Học viện và mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN “của dân, do dân, vì dân” trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

3. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết ngay

Trong bối cảnh năm 2026, khi việc tinh gọn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng XIV và các chỉ đạo của Trung ương về sắp xếp, tinh gọn hệ thống chính trị, công tác sắp xếp, xử lý tài sản công đang trở thành một trong những khâu then chốt, mang tính chiến lược để khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ nhiều bất cập, kẽ hở pháp lý và cơ chế quản lý, dẫn đến nguy cơ cao về tham nhũng, lãng phí và tiêu cực. Những vấn đề này không chỉ làm chậm tiến độ xử lý tài sản công dôi dư - theo báo cáo tổng hợp của các bộ, ngành và địa phương đến cuối năm 2025, cả nước còn tồn đọng khoảng 11.034 cơ sở nhà, đất thuộc sở hữu nhà nước ở tình trạng không sử dụng, sử dụng kém hiệu quả hoặc sai mục đích, trong đó mới chỉ xử lý được dưới 35% số lượng - mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả cải cách hành chính, làm suy giảm niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp vào bộ máy nhà nước [19].

Thứ nhất, cơ chế “đa cửa” giữa Bộ Tài chính, UBND tỉnh, Sở Tài chính và cơ quan chủ quản vẫn tồn tại chồng chéo, thiếu đồng bộ, gây chậm trễ nghiêm trọng trong quy trình thẩm định, phê duyệt phương án sắp xếp, xử lý tài sản công. Theo quy định tại Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (văn bản hợp nhất 97/VBHN-VPQH năm 2025, sửa đổi, bổ sung nhiều lần đến năm 2025) và Nghị định 186/2025/NĐ-CP, thẩm quyền được phân cấp rõ ràng nhưng thực tế lại đòi hỏi phải qua nhiều cấp, nhiều cơ quan phối hợp, dẫn đến tình trạng “hồ sơ chờ” kéo dài hàng tháng, thậm chí hàng năm. Chẳng hạn, tại nhiều địa phương sau khi bỏ cấp huyện và sáp nhập đơn vị cấp xã theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp, các trụ sở cũ, nhà công vụ dôi dư phải chờ Sở Tài chính lập phương án, trình UBND tỉnh, đồng thời lấy ý kiến Bộ Tài chính về định giá và xử lý - một quy trình “đa cửa” khiến nhiều tài sản bị bỏ không, xuống cấp, phát sinh chi phí duy tu bảo dưỡng không cần thiết. “Việc kéo dài tình trạng ‘để đó’ đối với những tài sản công không còn nhu cầu sử dụng đã và đang gây tổn thất kép: vừa mất chi phí duy tu bảo dưỡng, vừa bỏ lỡ cơ hội khai thác nguồn lực cho mục đích khác” [20]. Điều này không chỉ làm lãng phí ngân sách mà còn tạo kẽ hở cho lợi ích nhóm, khi một số cá nhân lợi dụng thời gian kéo dài để can thiệp, chuyển nhượng ngầm hoặc cho thuê trái phép, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc quản lý tài sản công theo Quy định số 189-QĐ/TW của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công [21].

Thứ hai, cơ chế giám sát của nhân dân và ứng dụng công nghệ số trong quản lý, xử lý tài sản công vẫn còn hạn chế, dẫn đến thiếu minh bạch và dễ nảy sinh lợi ích nhóm. Mặc dù Chiến lược quốc gia về phòng, chống lãng phí đến năm 2035 và các chỉ đạo năm 2026 nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số, nhưng thực tế hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công (đang được Bộ Tài chính triển khai) chưa đồng bộ hoàn toàn giữa các cấp, chưa kết nối đầy đủ với nền tảng giám sát của Mặt trận Tổ quốc và nhân dân. Kết quả là, nhiều phương án xử lý tài sản dôi dư (bán đấu giá, chuyển mục đích sử dụng) chỉ được công khai hạn chế trên cổng thông tin điện tử, thiếu cơ chế phản hồi trực tuyến thời gian thực, khiến nhân dân khó tiếp cận thông tin kịp thời. Hậu quả là xuất hiện các trường hợp “lợi ích nhóm” trong đấu giá nhà đất công vị trí đắc địa sau sắp xếp bộ máy, nơi một số doanh nghiệp có “quan hệ” dễ dàng tiếp cận thông tin nội bộ, dẫn đến giá đấu thầu bị dìm thấp hoặc thao túng. Trong bối cảnh năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp được áp dụng rộng rãi, việc thiếu giám sát số hóa này càng trở nên nguy hiểm, vì tài sản công tại cấp xã cũ dôi dư có thể bị “biến mất” trong quá trình bàn giao mà không bị phát hiện kịp thời [22].

Thứ ba, chế tài xử lý đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị chưa đủ mạnh, chủ yếu dừng ở kỷ luật hành chính, chưa gắn chặt với trách nhiệm hình sự rõ ràng khi gây thất thoát, lãng phí lớn. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15 (sửa đổi, bổ sung Luật 2018, hiệu lực từ 01/7/2026), dù đã bổ sung nhiều quy định về xử lý tham nhũng và thu hồi tài sản, nhưng đối với hành vi “thiếu trách nhiệm gây lãng phí” trong sắp xếp tài sản công, chế tài vẫn thiên về xử lý nội bộ hoặc phạt hành chính. Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BTC-BCT-BXD-BNN&MT-KTNN-TTCP (hiệu lực từ 25/01/2026) đã hướng dẫn các dấu hiệu vi phạm gây lãng phí để khởi tố hình sự, bao gồm “thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản công, vốn đầu tư công gây lãng phí”, song thực tiễn áp dụng còn lúng túng vì thiếu định lượng rõ ràng về mức “thất thoát lớn” cụ thể trong bối cảnh tinh gọn bộ máy. Nhiều trường hợp người đứng đầu để tài sản công dôi dư xuống cấp, không kịp thời lập phương án xử lý, chỉ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc cách chức, chưa phải chịu trách nhiệm hình sự dù gây thiệt hại hàng tỷ đồng. “Thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng tài sản công, vốn đầu tư công gây lãng phí” chính là một trong những dấu hiệu được nêu rõ trong thông tư mới, nhưng cơ chế chuyển hồ sơ từ hành chính sang hình sự vẫn chậm chạp, tạo tâm lý “an toàn” cho một bộ phận cán bộ [23]. Điều này trực tiếp mâu thuẫn với yêu cầu “kiểm soát quyền lực” trong Quy định 189-QĐ/TW và làm suy yếu hiệu quả phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực tài sản công [24].

Thứ tư, chưa có quy định pháp lý riêng biệt, mang tính đặc thù về “tài sản công trong tinh gọn bộ máy hành chính”, dẫn đến việc áp dụng chung chung các quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các nghị định hướng dẫn, thiếu tính linh hoạt và phù hợp với đặc điểm của quá trình sắp xếp tổ chức. Hiện nay, Nghị định 03/2025/NĐ-CP và Nghị định 186/2025/NĐ-CP chỉ quy định chung về sắp xếp, xử lý nhà, đất công, nhưng không có chương riêng hoặc điều khoản đặc thù dành cho tài sản dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính, tinh giản biên chế hoặc chuyển sang mô hình chính quyền hai cấp. Kết quả là, nhiều địa phương gặp vướng mắc khi xử lý xe ô tô công vụ, trang thiết bị văn phòng, nhà công vụ - ví dụ: không rõ thẩm quyền bàn giao khi cấp huyện chấm dứt hoạt động, hoặc cách tính giá trị còn lại của tài sản đã khấu hao hết nhưng vẫn còn giá trị sử dụng. “Việc xây dựng phương án xử lý tài sản được phân công cụ thể... nhưng thực tế vẫn còn nhiều khó khăn do nhận thức và hành động chưa quyết liệt” [25]. Sự thiếu đặc thù này không chỉ làm chậm tiến độ mà còn tạo kẽ hở cho việc áp dụng linh hoạt sai, dẫn đến thất thoát hoặc lãng phí có hệ thống [26].

Tổng thể, bốn vấn đề trên không phải là những bất cập ngẫu nhiên mà là hệ quả của sự chậm trễ trong hoàn thiện thể chế, kết hợp với hạn chế trong nhận thức và trách nhiệm của một bộ phận cán bộ quản lý. Trong bối cảnh năm 2026 - năm then chốt để thực hiện các đột phá chiến lược sau Đại hội Đảng XIV, khi yêu cầu “tinh gọn, mạnh, hiệu quả” được đặt ra cao hơn bao giờ hết - việc không giải quyết triệt để sẽ làm suy yếu mục tiêu xây dựng chính quyền liêm chính, phục vụ nhân dân và gây thất thoát lớn nguồn lực quốc gia. Do đó, cần có giải pháp đồng bộ, quyết liệt ngay từ năm 2026 để khắc phục, nhằm đảm bảo công tác sắp xếp, xử lý tài sản công thực sự trở thành động lực thúc đẩy cải cách hành chính bền vững [27].

4. Yêu cầu mới và giải pháp đột phá trong bối cảnh 2026 - 2030

Trong bối cảnh “kỷ nguyên mới” - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc sau Đại hội Đảng XIV (tháng 1/2026) - khi Nghị quyết Đại hội xác lập mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030, cùng với việc hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp và chuyển đổi số quốc gia, công tác sắp xếp, xử lý tài sản công trong tinh gọn bộ máy hành chính không còn là nhiệm vụ thông thường mà đã trở thành khâu đột phá chiến lược, mang tính then chốt để khơi thông nguồn lực, chống thất thoát và xây dựng chính quyền liêm chính, hiệu quả. Theo báo cáo của Bộ Tài chính đến cuối năm 2025, vẫn còn tồn đọng 11.034 cơ sở nhà, đất công dôi dư, chỉ xử lý được dưới 35%, nếu không có giải pháp đồng bộ thì nguy cơ lãng phí sẽ nhân lên gấp bội, trực tiếp cản trở mục tiêu tăng trưởng cao và niềm tin của nhân dân. Do đó, cần triển khai ngay năm nhóm giải pháp đột phá, đồng bộ, gắn chặt với pháp luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo Luật số 132/2025/QH15 và Quy định 191-QĐ/TW của Bộ Chính trị, nhằm biến thách thức thành cơ hội, đảm bảo tài sản công thực sự phục vụ phát triển bền vững và dân sinh [31].

a) Hoàn thiện thể chế “một cửa, một cửa sổ” theo hướng chuyên ngành và có thời hạn bắt buộc. Cần ban hành ngay trước ngày 30/6/2026 Nghị định chuyên ngành “Quản lý, xử lý tài sản công trong sắp xếp, tinh gọn bộ máy hành chính nhà nước”, trong đó quy định rõ quy trình một cửa, một cửa sổ liên thông giữa Bộ Tài chính - Sở Tài chính - UBND tỉnh - cơ quan chủ quản, đồng thời đặt thời hạn bắt buộc hoàn thành xử lý tài sản dôi dư trong tối đa 90 ngày kể từ ngày có quyết định sáp nhập hoặc tinh gọn đơn vị. Giải pháp này trực tiếp khắc phục cơ chế “đa cửa” kéo dài đã phân tích ở phần 3, loại bỏ kẽ hở cho lợi ích nhóm và lãng phí duy tu bảo dưỡng. “Ban hành hướng dẫn quy trình xử lý, trong đó quy định rõ thời hạn phải xử lý xong tài sản dôi dư cũng như có chế tài đối với trường hợp chậm trễ không có lý do chính đáng” chính là yêu cầu cấp thiết được nhấn mạnh trong nghiên cứu chuyên sâu về phòng, chống lãng phí tài sản công [32] Nghị định mới sẽ bổ sung chương riêng về tài sản công trong tinh gọn bộ máy, quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, định giá, trách nhiệm bồi thường nếu chậm trễ, đồng thời gắn chặt với chế tài hình sự theo Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT khi gây thất thoát trên 500 triệu đồng. Việc thực hiện sẽ tạo khung pháp lý thống nhất, minh bạch, góp phần thực hiện thành công mục tiêu “tinh gọn, mạnh, hiệu quả” của bộ máy nhà nước trong giai đoạn 2026 - 2030 [33].

b) Áp dụng chuyển đổi số toàn diện, xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công dôi dư theo mô hình “Chính phủ tinh gọn” (Lean Government). Ngay trong năm 2026, Bộ Tài chính cần hoàn thiện và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia tích hợp thời gian thực, kết nối với hệ thống thanh tra, kiểm toán nhà nước, Kiểm toán Nhà nước và Cổng thông tin điện tử Chính phủ, cho phép nhân dân, Mặt trận Tổ quốc giám sát trực tuyến mọi phương án xử lý (bán đấu giá, chuyển công năng, thanh lý). Mô hình Lean Government - đã được nêu trong các chủ đề hội thảo khoa học cấp Học viện - sẽ được vận dụng để loại bỏ các khâu trung gian, tự động hóa phê duyệt, cảnh báo tự động các trường hợp chậm trễ hoặc rủi ro tham nhũng. Cơ sở dữ liệu không chỉ cập nhật “6 rõ” (rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền) mà còn công khai mọi thông tin định giá, đấu giá trên nền tảng số, kết nối với sàn giao dịch tài sản công điện tử. Giải pháp này sẽ triệt tiêu tình trạng “lợi ích nhóm” và thiếu minh bạch đã tồn tại, đồng thời hỗ trợ trực tiếp mục tiêu chuyển đổi số quốc gia và tăng trưởng GDP 10%, vì mỗi tài sản công được xử lý nhanh chóng sẽ giải phóng nguồn lực cho đầu tư phát triển [34].

c) Tăng cường trách nhiệm người đứng đầu thông qua cơ chế gắn kết chặt chẽ với đánh giá cán bộ và thi đua. Việc xử lý tài sản công phải trở thành chỉ tiêu thi đua, đánh giá cán bộ hàng năm theo Quy định của Đảng và Nhà nước; đồng thời áp dụng nguyên tắc cứng “nếu để lãng phí trên 500 triệu đồng mà không có lý do chính đáng thì người đứng đầu phải bị cách chức”. Chế tài này sẽ được quy định rõ trong Nghị định chuyên ngành nêu trên và Luật sửa đổi, bổ sung Luật Cán bộ, công chức (dự kiến 2026), kết hợp với trách nhiệm hình sự theo Luật Phòng, chống tham nhũng 132/2025/QH15. “Kỷ luật đảng và kỷ luật hành chính phải được thực thi nghiêm minh đối với cá nhân, tập thể lơ là gây lãng phí, đặc biệt là trách nhiệm người đứng đầu” là yêu cầu then chốt nhằm khắc phục tâm lý “an toàn” và thiếu trách nhiệm hiện nay [35]. Việc luân chuyển, điều động cán bộ quản lý tài sản công cũng cần được thực hiện thường xuyên hơn, kết hợp kiểm tra đột xuất của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, tạo áp lực liên tục để người đứng đầu phải hành động quyết liệt ngay từ năm 2026 [36].

d) Mở rộng hình thức xử lý sáng tạo, ưu tiên phục vụ dân sinh và kinh tế tư nhân dưới giám sát chặt chẽ. Ưu tiên hàng đầu là chuyển đổi công năng tài sản dôi dư thành tài sản phục vụ dân sinh: trụ sở cũ thành trung tâm văn hóa cộng đồng, trạm y tế cơ sở, nhà ở xã hội, trường nghề hoặc cơ sở an sinh. Các tài sản không thể tái sử dụng sẽ được đấu giá công khai qua sàn giao dịch điện tử quốc gia hoặc liên doanh công - tư (PPP) với sự giám sát của thanh tra, kiểm toán và nhân dân. Giải pháp này không chỉ tránh lãng phí mà còn tạo nguồn thu ngân sách và việc làm, góp phần vào tăng trưởng GDP. “Với những tài sản không thể tiếp tục sử dụng cho mục đích công, cần mạnh dạn đề xuất hình thức xử lý phù hợp... ưu tiên tái sử dụng phục vụ các nhu cầu công cộng, phúc lợi xã hội” là định hướng đã được thực tiễn các địa phương chứng minh hiệu quả và cần nhân rộng trong giai đoạn 2026 - 2030 [37]. Mọi hợp đồng liên doanh công - tư phải công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, áp dụng nguyên tắc “không có vùng cấm” trong kiểm tra, thanh tra để ngăn chặn tham nhũng phát sinh [38].

e) Tích hợp kiểm soát quyền lực vào mọi khâu của quá trình tinh gọn bộ máy. Nội dung phòng, chống tham nhũng và lãng phí trong xử lý tài sản công phải được đưa vào tiêu chí đánh giá hiệu quả tinh gọn bộ máy theo Luật 132/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn; đồng thời phát huy vai trò nòng cốt của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo đúng Quy định 191-QĐ/TW ngày 29/10/2024. Ban Chỉ đạo sẽ trực tiếp chỉ đạo thanh tra chuyên đề định kỳ, xử lý các vụ việc lớn, đảm bảo kiểm soát quyền lực từ trung ương đến cơ sở, không để “lợi ích nhóm” len lỏi trong bất kỳ khâu nào của quy trình một cửa. Giải pháp này sẽ tạo cơ chế đồng bộ giữa tinh gọn bộ máy và xây dựng chính quyền liêm chính, biến việc xử lý tài sản công thành mô hình điển hình về kiểm soát quyền lực trong bối cảnh mới [39].

Năm nhóm giải pháp trên không phải là các biện pháp riêng lẻ mà là hệ thống đồng bộ, thống nhất, cần được triển khai quyết liệt ngay từ quý II/2026 dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Bộ Chính trị và Chính phủ. Khi được thực hiện triệt để, chúng sẽ không chỉ giải quyết triệt để các vấn đề đặt ra ở phần 3 mà còn góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng GDP trên 10%/năm, xây dựng bộ máy hành chính “tinh gọn, mạnh, hiệu quả, liêm chính” và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước trong kỷ nguyên mới. Đây chính là yêu cầu cấp thiết và cũng là trách nhiệm lịch sử của mỗi cán bộ, công chức trong giai đoạn 2026 - 2030 [40].

Kết luận

Qua quá trình nghiên cứu sâu sắc và toàn diện dưới góc nhìn pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong quản lý tài sản công, bài viết đã làm rõ những kết quả cốt lõi sau đây: Thứ nhất, hệ thống pháp luật hiện hành - từ văn bản hợp nhất Luật Quản lý, sử dụng tài sản công 97/VBHN-VPQH năm 2025, Luật Phòng, chống tham nhũng số 132/2025/QH15 (hiệu lực từ 01/7/2026), Nghị định 186/2025/NĐ-CP, đến Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT và Quy định 191-QĐ/TW của Bộ Chính trị - đã tạo nền tảng pháp lý vững chắc, đồng bộ và ngày càng chặt chẽ, thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước trong việc bảo vệ nguồn lực quốc gia. Thứ hai, thực tiễn triển khai trong bối cảnh tinh gọn bộ máy hành chính năm 2026 vẫn bộc lộ bốn nhóm bất cập hệ thống đã được phân tích chi tiết: cơ chế “đa cửa” gây chậm trễ kéo dài, giám sát nhân dân và chuyển đổi số còn hạn chế dẫn đến lợi ích nhóm, chế tài xử lý người đứng đầu chưa đủ mạnh (chủ yếu hành chính, thiếu trách nhiệm hình sự rõ ràng khi gây thất thoát lớn), và đặc biệt là sự thiếu vắng quy định pháp lý riêng biệt, mang tính đặc thù cho tài sản công dôi dư trong quá trình sắp xếp tổ chức. Những hạn chế này không chỉ làm chậm tiến độ xử lý 11.034 cơ sở nhà, đất công tồn đọng mà còn trực tiếp đe dọa mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026 - 2030 và niềm tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước.

Thứ ba, trên cơ sở phân tích thực tiễn và yêu cầu của “kỷ nguyên mới” sau Đại hội Đảng XIV, bài viết đã đề xuất năm nhóm giải pháp đột phá đồng bộ, khả thi ngay từ năm 2026: (i) ban hành Nghị định chuyên ngành “Quản lý, xử lý tài sản công trong sắp xếp, tinh gọn bộ máy” với quy trình một cửa, một cửa sổ và thời hạn bắt buộc 90 ngày; (ii) xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia tích hợp thời gian thực theo mô hình Lean Government, kết nối giám sát của nhân dân; (iii) gắn trách nhiệm người đứng đầu với chế tài cứng (cách chức khi lãng phí trên 500 triệu đồng không có lý do chính đáng); (iv) ưu tiên chuyển đổi công năng tài sản công phục vụ dân sinh, đấu giá điện tử và liên doanh công - tư dưới giám sát chặt chẽ; (v) tích hợp kiểm soát quyền lực vào mọi khâu theo Luật 132/2025/QH15 và Quy định 191-QĐ/TW. Các giải pháp này không chỉ khắc phục triệt để bốn nhóm bất cập đã nêu mà còn tạo cơ chế “lá chắn thép” thực sự bảo vệ tài sản công, biến thách thức tinh gọn bộ máy thành động lực phát triển đột phá.

Việc thực hiện nghiêm túc, đồng bộ và quyết liệt các giải pháp nêu trên sẽ không chỉ góp phần quan trọng vào thành công của Hội thảo khoa học cấp Học viện (Học viện Hành chính và Quản trị công) “Tinh gọn tổ chức bộ máy hành chính nhà nước - từ góc nhìn lịch sử và hiện tại” mà còn trực tiếp hiện thực hóa khát vọng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN “của dân, do dân, vì dân” - một bộ máy tinh gọn, mạnh, liêm chính, hiệu quả và hiện đại nhất. Chỉ khi mọi tài sản công được sắp xếp, xử lý minh bạch, triệt để, không để một đồng nào bị lãng phí, thất thoát hoặc rơi vào lợi ích nhóm, thì cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy mới thực sự thành công toàn diện, mở ra không gian phát triển đột phá, khơi dậy mọi nguồn lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong kỷ nguyên mới 2026 - 2030 và xa hơn nữa.

Tóm lại, bài viết khẳng định rằng: pháp luật về phòng, chống tham nhũng và lãng phí trong quản lý tài sản công đã có nền tảng vững chắc, nhưng sức mạnh thực sự của nó chỉ được phát huy khi có hành động cách mạng, sáng tạo và đồng bộ ngay từ năm 2026. Đó chính là trách nhiệm lịch sử của mỗi cán bộ, công chức, của toàn hệ thống chính trị, nhằm biến tài sản công thành động lực thực sự cho sự phát triển bền vững và phồn vinh của dân tộc Việt Nam.

---------------------

Tài liệu tham khảo

[1] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2017). Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả (được tổng kết và khẳng định hoàn thành vượt mức trong Kết luận Trung ương năm 2025).

[2] [24], [39] Quốc hội (2025). Luật số 132/2025/QH15 ngày 10/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[3], [18] Thủ tướng Chính phủ (2026). Công điện số 19/CĐ-TTg ngày 26/02/2026 về nâng cao hiệu lực, hiệu quả sắp xếp, xử lý, khai thác tài sản công sau sắp xếp tổ chức bộ máy, tránh thất thoát, lãng phí.

[4] Bộ Tài chính & Thanh tra Chính phủ (2025 - 2026). Báo cáo tổng hợp về tình hình tài sản công dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính (dẫn theo các văn bản Công văn 18430/BTC-QLCS, báo cáo tại các hội nghị tổng kết).

[5] Vũ Việt Hà (2025). “Luận giải về tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và giải pháp phòng, chống trong giai đoạn hiện nay”. Tạp chí Quản lý nhà nước; và bài “Phòng, chống lãng phí tài sản công trong quá trình sắp xếp tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị” trên Tạp chí Cộng sản (2025).

[6] Quốc hội (2017). Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 (sửa đổi, bổ sung đến 2025), Điều 6 và Điều 68.

[7] Quốc hội (2025). Luật số 132/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng, khoản 12 Điều 1 (hiệu lực 01/7/2026).

[8] Quốc hội (2025). Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 110/2025/QH15 và Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT về dấu hiệu lãng phí trong quản lý tài sản công; liên hệ Điều 219 Bộ luật Hình sự (sửa đổi).

[9] Thủ tướng Chính phủ (2026). Công điện số 19/CĐ-TTg ngày 26/02/2026 và Nghị quyết 06/NQ-CP năm 2026.

[10] Vũ Việt Hà (2025). “Luận giải về tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và giải pháp phòng, chống trong giai đoạn hiện nay”. Tạp chí Quản lý nhà nước.

[11] Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2024). Quy định số 191-QĐ/TW về Ban Chỉ đạo Trung ương phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

[12] Bộ Tài chính (2025). Công văn số 18430/BTC-QLCS và báo cáo tổng hợp tài sản công dôi dư (dẫn theo các nguồn chính thức trên chinhphu.vn và thoibaotaichinhvietnam.vn).

[13] Bộ Tài chính (2025). Công văn số 19699/BTC-QLCS và các báo cáo tổng hợp tình hình sắp xếp, xử lý tài sản công dôi dư sau sắp xếp đơn vị hành chính (dẫn theo thoibaotaichinhvietnam.vn và vneconomy.vn, cập nhật đến 12/2025).

[14] UBND thành phố Hải Phòng (2025). Báo cáo thực hiện sắp xếp trụ sở dôi dư sau sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã (theo thông tin công khai trên các nguồn chính thức và facebook chính thức của Mặt trận Tổ quốc thành phố).

[15] Bộ Tài chính & các địa phương (2025). Báo cáo tiến độ xử lý tài sản công tại Quảng Ninh, Bắc Giang (tổng hợp từ các nghị quyết sắp xếp của UBTVQH và báo cáo địa phương).

[16] Thanh tra Chính phủ & Bộ Tài chính (2025). Kết luận thanh tra và báo cáo về tồn tại trong xử lý tài sản công tại một số tỉnh (dẫn theo laodong.vn và các kết luận liên quan đến hoang hóa trụ sở).

[17] Phạm Văn Phong (2025). “Phòng, chống lãng phí tài sản công trong quá trình sắp xếp tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị - yêu cầu cấp thiết trong thực hành liêm chính công vụ”. Tạp chí Cộng sản, ngày 24/6/2025.

[19] “Phòng, chống lãng phí tài sản công trong quá trình sắp xếp tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị - Yêu cầu cấp thiết trong thực hành liêm chính công vụ”. Tạp chí Cộng sản, ngày 24/6/2025.

[20] Bộ Tài chính (2026). Báo cáo tổng hợp tình hình sắp xếp, xử lý tài sản công năm 2025 (công bố ngày 15/12/2025).

[21] Bộ Chính trị (2024). Quy định số 189-QĐ/TW ngày 08/10/2024 về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công.

[22] “Thách thức lớn trong quản lý và sử dụng tài sản công”. Báo Nhân Dân điện tử, ngày 10/11/2025.

[23] Thông tư liên tịch số 11/2025/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BTP-BTC-BCT-BXD-BNN&MT-KTNN-TTCP ngày 19/01/2026 hướng dẫn việc xác định lãng phí để áp dụng trong khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm liên quan đến lãng phí theo quy định của Bộ luật Hình sự.

[25] Nguyễn Thị Minh (2025). “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thu hồi tài sản tham nhũng, tiêu cực thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”. Tạp chí Quản lý nhà nước, số đặc biệt tháng 10/2025.

[26] Văn phòng Quốc hội (2025). Văn bản hợp nhất số 97/VBHN-VPQH ngày 22/8/2025 hợp nhất Luật Quản lý, sử dụng tài sản công số 15/2017/QH14 (được sửa đổi, bổ sung các lần đến năm 2025).

[27] “Phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, bền vững hơn”. Báo Nhân Dân, ngày 25/12/2025.

[28], [33] Chính phủ (2025). Nghị định số 186/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.

[29] “Bộ Tài chính đẩy nhanh sắp xếp, xử lý tài sản công, chống thất thoát lãng phí”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 05/9/2025.

[30] “Nhận diện các dạng thức lãng phí trong quản lý công và kiến nghị hoàn thiện thể chế tại Việt Nam”. Tạp chí Pháp lý, ngày 28/01/2026.

[31] Bộ Tài chính (2025). Báo cáo tổng hợp tình hình sắp xếp, xử lý tài sản công năm 2025 (công bố ngày 15/12/2025).

[32] “Phòng, chống lãng phí tài sản công trong quá trình sắp xếp tổ chức, bộ máy hệ thống chính trị - Yêu cầu cấp thiết trong thực hành liêm chính công vụ”. Tạp chí Cộng sản, ngày 24/6/2025.

[34] Vũ Thị Hoài Phương (2025). “Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đáp ứng yêu cầu đổi mới, sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước hiện nay”. Tạp chí Quản lý nhà nước, số 5/2025.

[35] “Kỷ luật đảng và kỷ luật hành chính phải được thực thi nghiêm minh đối với cá nhân, tập thể lơ là gây lãng phí”. Báo Nhân Dân điện tử, ngày 12/11/2025.

[36] Bộ Chính trị (2024). Quy định số 191-QĐ/TW ngày 29/10/2024 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

[37] “Với những tài sản không thể tiếp tục sử dụng cho mục đích công, cần mạnh dạn đề xuất hình thức xử lý phù hợp... ưu tiên tái sử dụng phục vụ các nhu cầu công cộng, phúc lợi xã hội”. Tạp chí Pháp lý, số đặc biệt tháng 01/2026.

[38] Chương trình hành động của Chính phủ về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong quản lý tài sản công năm 2025 - 2026 (ban hành ngày 30/6/2025).

[40] Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1/2026).

Lê Hùng (Học viện Chính trị khu vực I)

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin