Tóm tắt: Thương mại số và thương mại điện tử là hai khái niệm có liên quan nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành viên, các quy định liên quan đến thương mại số chủ yếu được đặt trong các chương về thương mại điện tử. Bài viết làm rõ sự khác biệt giữa thương mại điện tử và thương mại số, đồng thời phân tích các quy định liên quan đến thương mại số trong một số FTA tiêu biểu của Việt Nam như CPTPP, EVFTA/UKVFTA, RCEP, VKFTA và VN-EAEUFTA. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá đặc điểm và mức độ cam kết của các quy định này, qua đó đưa ra một số nhận định và khuyến nghị đối với Việt Nam trong quá trình hoàn thiện pháp luật và tham gia đàm phán các hiệp định thương mại tự do trong tương lai.
Từ khóa: Thương mại số; thương mại điện tử; hiệp định thương mại tự do; CPTPP; Việt Nam.
Digital Trade Provisions in Free Trade Agreements to Which Vietnam Is a Party
Abstract: Digital trade and e-commerce are related but not identical concepts. In the free trade agreements (FTAs) to which Vietnam is a party, provisions related to digital trade are mainly incorporated within chapters on electronic commerce. This article clarifies the differences between e-commerce and digital trade and analyzes the provisions related to digital trade in several key FTAs involving Vietnam, including the CPTPP, EVFTA/UKVFTA, RCEP, VKFTA, and VN-EAEUFTA. Based on this analysis, the article evaluates the characteristics and levels of commitment reflected in these provisions and offers several observations and recommendations for Vietnam in improving its legal framework and participating in negotiations of future free trade agreements.
Keywords: Digital trade; e-commerce; free trade agreements; CPTPP; Vietnam.
1. Mở đầu
Hiện nay, chưa có một khái niệm về thương mại số (digital trade) được thừa nhận ở phạm vi toàn cầu. Dưới góc độ thống kê, thương mại số được Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) định nghĩa, vào năm 2019, là “tất cả các giao dịch thương mại quốc tế được đặt hàng kỹ thuật số và/hoặc được giao kỹ thuật số”[1]. Giao dịch được đặt hàng số (digitally ordered trade) được hiểu là “việc mua hoặc bán hàng hóa, dịch vụ quốc tế, được thực hiện qua mạng máy tính bằng các phương pháp được thiết kế riêng cho mục đích nhận hoặc đặt hàng”[2]. Định nghĩa này được xây dựng trên cơ sở khái niệm về thương mại điện tử mà OECD đưa ra vào năm 2011[3], do đó, được hiểu tương đồng với thương mại điện tử quốc tế (international e-commerce), bao trùm các giao dịch quốc tế trong lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ[4]. Trong khi đó, giao dịch được giao kỹ thuật số (digitally delivered trade) là “tất cả các giao dịch thương mại quốc tế được giao từ xa thông qua mạng máy tính”[5]. Do đó, chỉ có dịch vụ mới có thể được giao kỹ thuật số.
Với cách hiểu như trên, thương mại số và thương mại điện tử có sự khác biệt ở phạm vi thực hiện. Nếu thương mại điện tử bao gồm thương mại điện tử trong nước (domestic e-commerce) và thương mại điện tử quốc tế/thương mại điện tử xuyên biên giới (international e-commerce/cross-border e-commerce); thì thương mại số nhấn mạnh đến tính quốc tế của giao dịch, bao gồm các giao dịch thương mại quốc tế được đặt hàng kỹ thuật số và giao dịch thương mại quốc tế được giao kỹ thuật số[6]. Việc đánh giá khái niệm nào rộng hơn khái niệm nào là tương đối khó khăn, trong khi có thể thấy hai khái niệm này đều bao trùm lên các giao dịch thương mại điện tử quốc tế (international e-commerce).

Ảnh minh họa
Các quy định có liên quan trong lĩnh vực này trong những hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam là thành viên đều nằm trong các chương về thương mại điện tử (e-commerce). Điều đặc biệt là những FTA mà Việt Nam là thành viên có quy định về thương mại điện tử lại không đưa ra định nghĩa về thương mại điện tử. Nếu giải thích cách hiểu về “thương mại điện tử” trên cơ sở Chương trình làm việc của WTO về thương mại điện tử năm 1998[7] bao gồm thương mại điện tử quốc tế và thương mại điện tử trong nước được thực hiện bởi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thì có thể thấy các quy định về thương mại số trong FTA sẽ được tìm thấy từ những quy định điều chỉnh về thương mại điện tử quốc tế trong FTA đó. Như vậy, những quy định trong FTA điều chỉnh thương mại điện tử trong nước được thực hiện bởi doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ không được coi là quy định được sử dụng để điều chỉnh thương mại số. Ngoài ra, một số FTA thế hệ mới cũng đã tìm cách đưa vào chương về thương mại điện tử những quy định điều chỉnh về giao dịch được giao kỹ thuật số, là bộ phận thứ hai của thương mại số.
Tính đến tháng 12/2025, trong số những FTA mà Việt Nam là thành viên, chỉ có sáu FTA có chứa đựng một chương riêng điều chỉnh về thương mại điện tử, đó là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu/Vương quốc Anh (EVFTA/UKVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) và Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu (VN-EAEUFTA). Với cách hiểu về thương mại số như trên, bài viết này tập trung phân tích nội dung về thương mại số trong những FTA này, từ đó, đưa ra một số đánh giá và khuyến nghị đối với Việt Nam.
Về phương pháp nghiên cứu, bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản pháp luật nhằm làm rõ nội dung các quy định liên quan đến thương mại số trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên. Bên cạnh đó, phương pháp so sánh pháp luật được sử dụng để đối chiếu các quy định giữa các hiệp định khác nhau, qua đó nhận diện sự tương đồng và khác biệt trong mức độ cam kết. Ngoài ra, bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích học thuật đối với các nghiên cứu trước đây nhằm đánh giá xu hướng phát triển của các quy định về thương mại số trong các FTA.
2. Nội dung các quy định về thương mại số trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên
Tùy thuộc vào từng FTA, các quy định về thương mại điện tử được đưa vào trong các hiệp định này có phạm vi không giống nhau (xem bảng 1).
Bảng 1: Thống kê các điều khoản về thương mại điện tử trong một số FTA của Việt Nam
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp trên cơ sở các FTA mà Việt Nam là thành viên
|
Nội dung |
CPTPP |
EVFTA/ UKVFTA |
RCEP |
VKFTA |
VN-EAEUFTA |
|
|
1.
|
Xóa bỏ thuế quan đối với sản phẩm điện tử và/hoặc trao đổi điện tử |
x |
x |
x |
x |
|
|
2. |
Không phân biệt đối xử đối với sản phẩm điện tử |
x |
|
|
|
|
|
3. |
Chứng thực điện tử và chữ ký điện tử |
x |
|
x |
x |
x |
|
4. |
Thương mại phi giấy tờ |
x |
|
x |
x |
|
|
5. |
Khung quản lý trong nước |
x |
|
x |
x |
x |
|
6. |
Bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến |
x |
|
x |
x |
|
|
7. |
Bảo vệ dữ liệu cá nhân |
x |
|
x |
x |
x |
|
8. |
Các biện pháp phòng chống các bản tin điện tử không mong đợi |
x |
|
x |
|
|
|
9. |
An ninh mạng |
x |
|
x |
|
|
|
10. |
Truyền tin xuyên biên giới |
x |
|
x |
|
|
|
11. |
Cấm địa phương hóa dữ liệu |
x |
|
x |
|
|
|
12. |
Không công bố các mã nguồn và algorithms có liên quan |
x |
|
|
|
|
|
13. |
Hợp tác |
x |
x |
x |
x |
x |
|
14. |
Minh bạch |
x |
|
x |
|
|
|
15. |
Giải quyết tranh chấp |
x |
|
x |
|
|
Từ bảng 1, có thể thấy, các quy định điều chỉnh về thương mại điện tử được đưa vào nhiều nhất trong CPTPP và RCEP. Các hiệp định EVFTA[8]/UKVFTA, VKFTA và VN-EAEUFTA chỉ có một số quy định cơ bản về thương mại điện tử. Từ những quy định chung điều chỉnh về thương mại điện tử nêu trên, có thể thấy một số quy định có thể được sử dụng để điều chỉnh về thương mại số (xem bảng 2).
Bảng 2: Các quy định có thể sử dụng để điều chỉnh thương mại số trong một số FTA của Việt Nam
Nguồn: Do tác giả tự xây dựng
|
STT |
Nội dung |
Thương mại điện tử trong nước |
Thương mại số |
|
|
Thương mại điện tử xuyên biên giới |
Thương mại được giao kỹ thuật số |
|||
|
1.
|
Xóa bỏ thuế quan đối với sản phẩm điện tử và/hoặc trao đổi điện tử |
|
x |
x |
|
2. |
Không phân biệt đối xử đối với sản phẩm số |
|
|
x |
|
3. |
Chứng thực điện tử và chữ ký điện tử |
x |
x |
x |
|
4. |
Thương mại phi giấy tờ |
|
x |
x |
|
5. |
Khung quản lý trong nước |
x |
x |
x |
|
6. |
Bảo vệ người tiêu dùng trực tuyến |
x |
x |
x |
|
7. |
Bảo vệ dữ liệu cá nhân |
x |
x |
x |
|
8. |
Các biện pháp phòng chống các bản tin điện tử không mong đợi |
x |
x |
x |
|
9. |
An ninh mạng |
x |
x |
x |
|
10. |
Truyền tin xuyên biên giới |
|
x |
x |
|
11. |
Cấm địa phương hóa dữ liệu |
|
x |
x |
|
12. |
Không công bố các mã nguồn và algorithms có liên quan |
x |
x |
x |
|
13. |
Hợp tác |
x |
x |
x |
|
14. |
Minh bạch |
x |
x |
x |
|
15. |
Giải quyết tranh chấp |
x |
x |
x |
Phân loại ở bảng 2 cho thấy các quy định về thương mại điện tử trong FTA đều có thể được sử dụng để điều chỉnh thương mại số. Các quy định này có thể được tổng hợp thành các nhóm, là: i) tiếp cận thị trường; ii) khuôn khổ pháp lý và bảo vệ người tiêu dùng; iii) nhóm các quy định tạo thuận lợi cho thương mại số; iv) giải quyết tranh chấp[9]. Cụ thể:
2.1. Nhóm các quy định về tiếp cận thị trường
Các quy định về tiếp cận thị trường đối với sản phẩm (hàng hóa/dịch vụ) số thường bao gồm:
Với quy định về thuế quan đối với sản phẩm điện tử, các FTA mà Việt Nam tham gia chứa đựng những quy định về vấn đề này bao gồm CPTPP, EVFTA/UKVFTA, RCEP và VKFTA. Về cơ bản, các quy định này thể hiện hai vấn đề chính:
- Các bên cam kết không áp dụng thuế hải quan (custom duties) đối với giao dịch điện tử giữa các Bên[10]. Mức độ cụ thể và phạm vi của cam kết này trong các hiệp định không hoàn toàn giống nhau. Nếu trong CPTPP, cam kết này được áp dụng rộng với tất cả các giao dịch điện tử, bao gồm cả các nội dung được truyền đưa bằng phương tiện điện tử; EVFTA áp dụng cho các giao dịch điện tử, không xác định rõ có được áp dụng cho các nội dung được truyền bằng phương tiện điện tử hay không, thì trong RCEP và VKFTA, cam kết này chỉ được áp dụng với các truyền dẫn điện tử. Ngoài ra, cam kết trong CPTPP, EVFTA, RCEP mang tính ràng buộc, thì cam kết trong VKFTA không mang tính ràng buộc mạnh khi thuật ngữ “có thể” được sử dụng.
Có thể thấy quy định này trong các FTA có liên quan của Việt Nam nhắc lại cam kết trong khuôn khổ của WTO[11] theo đó các Thành viên cam kết không áp dụng thuế hải quan đối với “truyền tin điện tử” giữa các Bên. Tuy nhiên, các tài liệu có liên quan của WTO không đưa ra định nghĩa thế nào là truyền tin điện tử (electronic transmissions). Đồng thời, các Thành viên WTO, trong quá trình đàm phán, có quan điểm không đồng nhất liên quan đến phạm vi áp dụng của quy định cấm này, theo đó, việc không áp dụng thuế hải quan chỉ được áp dụng cho giao dịch (với ý nghĩa là phương tiện thực hiện) hay cả với nội dung được truyền bằng phương tiện điện tử (transmitted content)[12]. Từ góc độ này, có thể thấy CPTPP đã có một bước tiến so với WTO và những FTA khác của Việt Nam tham gia ở hai góc độ: i) CPTPP đưa ra định nghĩa về truyền đưa điện tử, theo đó, truyền điện tử là “hoạt động truyền tin được thực hiện bằng các phương tiện điện từ trường, kể cả bằng các phương tiện quang tử”[13]; ii) CPTPP xác định rõ quy định không áp dụng thuế quan bao trùm lên cả nội dung được truyền đưa điện tử.
- Các bên có quyền áp dụng các khoản thuế, phí nội địa khác cho các giao dịch điện tử[14]. Quy định này được đưa vào để làm rõ cam kết của các bên liên quan đến việc không áp dụng thuế hải quan đối với giao dịch điện tử. Việc làm rõ này là phù hợp bởi thuế hải quan là thuế được thu tại biên giới khi có giao dịch điện tử được thực hiện qua biên giới, trong khi thuế và phí nội địa liên quan đến việc tiêu dùng sản phẩm số tại nội địa. Việc làm rõ này là phù hợp, giúp việc áp dụng nguyên tắc xóa bỏ thuế quan đối với giao dịch điện tử được hiểu rõ ràng và thống nhất[15].

Ảnh minh họa
Về cam kết không phân biệt đối xử, cam kết này chỉ xuất hiện trong CPTPP mà không xuất hiện trong các FTA khác của Việt Nam. CPTPP xác định rõ nguyên tắc không phân biệt đối xử (bao gồm cả nguyên tắc đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia) dành cho các sản phẩm số tương tự (like digital products)[16]. Để làm rõ hơn quy định này, CPTPP đưa ra định nghĩa về sản phẩm số, theo đó, sản phẩm số là “một chương trình máy tính, văn bản, video, hình ảnh, ghi âm hoặc sản phẩm khác được mã hóa bằng kỹ thuật số, sản xuất vì mục tiêu kinh doanh hay phân phối thương mại, và có thể được truyền đưa bằng điện tử”[17]. Định nghĩa này cho thấy sản phẩm số có thể bao gồm những sản phẩm có thể tồn tại dưới những hình thức vật lý cụ thể nhưng có thể được số hóa và truyền đưa bằng điện tử[18]. Ngoài ra, CPTPP mở rộng phạm vi áp dụng của nguyên tắc không phân biệt đối xử khi bổ sung một ghi chú liên quan đến “sản phẩm số tương tự khác”. Ghi chú 4 cho thấy nếu một Thành viên CPTPP đối xử thuận lợi hơn cho “sản phẩm số tương tự” đến từ một bên không phải là quốc gia thành viên của CPTPP, đối xử thuận lợi đó cũng phải được dành cho sản phẩm số đến từ các thành viên của CPTPP. Cuối cùng CPTPP loại trừ khỏi phạm vi áp dụng của nguyên tắc này các khoản trợ cấp[19] và sản phẩm phát thanh truyền hình[20].
Về lưu chuyển thông tin xuyên biên giới, trong số các FTA mà Việt Nam là thành viên, chỉ CPTPP và RCEP có quy định về vấn đề này. Cụ thể, cả CPTPP và RCEP quy định các Bên cho phép lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử, với điều kiện việc lưu chuyển này phục vụ cho hoạt động kinh doanh của thực thể được bảo hộ; và trường hợp ngoại lệ[21]. Các cam kết trong CPTPP và RCEP, về mức độ, đều là những cam kết mang tính ràng buộc pháp lý mạnh. Tuy nhiên, có một điểm khác biệt quan trọng giữa CPTPP và RCEP, đó là CPTPP quy định rõ thông tin được tự do luân chuyển xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử bao gồm cả thông tin cá nhân[22]. Quy định này được đánh giá là quan trọng, vì một quốc gia có thể xây dựng những chính sách không hoàn toàn giống nhau để điều chỉnh việc luân chuyển qua biên giới của thông tin cá nhân và thông tin không mang tính cá nhân. Với CPTPP, dù đó là thông tin cá nhân hay thông tin không mang tính cá nhân, việc luân chuyển xuyên biên giới những thông tin này đều phải được các Bên đảm bảo[23].
2.2. Nhóm các quy định về khuôn khổ pháp lý và bảo vệ người tiêu dùng
Nhóm các quy định về khuôn khổ pháp lý và bảo vệ người tiêu dùng được đưa vào trong các FTA mà Việt Nam là thành viên điều chỉnh các vấn đề chính là:
Về khuôn khổ pháp lý trong nước, vấn đề này được quy định trong bốn FTA là CPTPP, RCEP, VKFTA và VN-EAEUFTA. Về cơ bản, các quy định có liên quan nhấn mạnh tới việc xây dựng khuôn khổ pháp lý trong nước trên cơ sở xem xét tới một số văn bản quốc tế, như Luật mẫu của UNCITRAL về thương mại điện tử, Công ước của Liên Hợp Quốc về sử dụng phương tiện liên lạc điện tử trong hợp đồng quốc tế năm 2005. Trong bốn hiệp định, quy định có liên quan trong CPTPP thể hiện mức độ cam kết mạnh nhất, khi CPTPP yêu cầu các bên “phải duy trì” khung pháp lý “phù hợp” với các nguyên tắc của hai văn bản nêu trên. Cam kết này thể hiện nỗ lực của các thành viên tham gia trong việc hài hòa hóa khuôn khổ pháp lý trong nước điều chỉnh thương mại điện tử, trong đó có thương mại số. Ngoài ra, theo CPTPP và RCEP, các bên cũng cam kết nỗ lực để tránh tạo ra bất kỳ gánh nặng nào về quy định không cần thiết đối với giao dịch điện tử[24], trong khi CPTPP bổ sung một cam kết về minh bạch khi yêu cầu các bên tạo thuận lợi cho việc góp ý của các pháp nhân có liên quan về việc xây dựng khung pháp lý[25].
Về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và bảo vệ thông tin cá nhân, có thể thấy đây là một trong những vấn đề quan trọng trong việc xây dựng các quy định điều chỉnh về thương mại số trong FTA. Khi tham gia vào các giao dịch thương mại số, bằng cách này hay cách khác, người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng đến quyền lợi. Do đó, CPTPP, RCEP và VKFTA đã điều chỉnh vấn đề này bằng một số quy định tương đối giống nhau, như: i) thừa nhận tầm quan trọng của việc ban hành và duy trì các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng minh bạch và hiệu quả đối với thương mại điện tử; ii) việc ban hành hoặc duy trì các quy định pháp luật để bảo vệ người tiêu dùng để ngăn chặn các hành vi gian lận và lừa đảo thương mại gây tổn hại tới người tiêu dùng; iii) hợp tác giữa các cơ quan quản lý có thẩm quyền để bảo vệ người tiêu dùng. Bên cạnh đó, RCEP bổ sung thêm nghĩa vụ liên quan đến minh bạch khi yêu cầu các bên đăng tải công khai thông tin về bảo vệ người dùng để giúp người tiêu dùng có thể sử dụng các biện pháp khắc phục và doanh nghiệp có thể tuân thủ các yêu cầu của pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng[26].
Về thông tin điện tử không mong muốn: Các biện pháp phòng chống các bản tin điện tử không mong đợi chỉ được quy định trong CPTPP và RCEP với quy định, về cơ bản, là tương đồng nhau. Cả hai hiệp định quy định các bên sẽ ban hành hoặc duy trì các biện pháp liên quan đến bản tin điện tử không mong đợi thỏa mãn ba yêu cầu: i) các nhà cung cấp bản tin điện tử thương mại không mong đợi phải tạo thuận lợi cho người nhận có khả năng dừng việc nhận bản tin đó; ii) việc nhận bản tin không mong đợi phải được chấp nhận bởi người nhận; và iii) biện pháp để giảm thiểu các bản tin điện tử thương mại không mong đợi[27]. Đồng thời, cả hai hiệp định yêu cầu các bên phải xây dựng các cơ chế để người nhận bản tin thương mại không mong đợi có thể áp dụng nhằm bảo vệ lợi ích của mình (CPTPP nhấn mạnh đó là biện pháp đòi bồi thường)[28] và quy định về cơ chế hợp tác giữa các bên[29].
2.3. Nhóm các quy định về tạo thuận lợi cho thương mại số
Nhóm các quy định thứ ba về thương mại số trong các FTA mà Việt Nam là thành viên điều chỉnh các biện pháp tạo thuận lợi cho thương mại số. Nhóm quy định này thường bao trùm lên các vấn đề là:
Về chứng thực và chữ ký điện tử, vấn đề này được quy định trong bốn hiệp định là CPTPP, RCEP, VKFTA và VN-EAEUFTA. Trước hết, ba trong số các hiệp định này đưa ra định nghĩa về chứng thực điện tử, với cách hiểu không hoàn toàn đồng nhất. Trong khi RCEP đưa ra khái niệm khá rộng về chứng thực điện tử (là quá trình xác thực hoặc kiểm chứng nhằm xác lập mức độ tin cậy của một tình trạng hoặc yêu cầu), thì CPTPP và VN-EAEUFTA nhấn mạnh đến việc xác định tính xác thực của danh tính người sử dụng khi được thể hiện dưới dạng điện tử. Tuy nhiên, trong khái niệm của CPTPP, yêu cầu về đảm bảo tính toàn vẹn của một giao tiếp điện tử được thể hiện rõ. Điểm chưa rõ ràng trong khái niệm của CPTPP là khái niệm “giao tiếp điện tử”. Dù các quy định sau đó về chứng thực điện tử và chữ ký điện tử giữa các hiệp định nêu trên là tương đối giống nhau[30], thì định nghĩa khác nhau về chứng thực điện tử cũng có thể làm cho cách hiểu và phạm vi điều chỉnh của các quy định về chứng thực điện tử là khác nhau.
Về minh bạch, minh bạch là một khía cạnh không thể thiếu trong việc tạo thuận lợi cho giao dịch thương mại số. Tuy nhiên, chỉ có CPTPP và RCEP có quy định về minh bạch. Tuy nhiên, cách thức thể hiện nghĩa vụ minh bạch trong hai hiệp định này không hoàn toàn giống nhau. Nếu RCEP đưa ra một điều khoản riêng về minh bạch đối với tất cả các nghĩa vụ liên quan đến hoặc ảnh hưởng đến việc thực thi các quy định về thương mại điện tử[31], thì CPTPP đưa nghĩa vụ về minh bạch này vào một số điều khoản, như Điều 14.5.2 về tạo thuận lợi cho các pháp nhân góp ý đối với việc xây dựng khung pháp luật trong nước về giao dịch điện tử, Điều 14.8 về công bố các thông tin liên quan đến biện pháp bảo vệ thông tin cá nhân; Điều 14.9 về công bố rộng rãi các văn bản quản lý về thương mại không giấy tờ.
Về thương mại phi giấy tờ, cùng với logic về thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và chứng thực điện tử, việc số hóa các giấy tờ hành chính đối với giao dịch có thể thúc đẩy và tạo thuận lợi cho trao đổi tương mại[32]. Đồng thời, việc sử dụng các phiên bản điện tử của giấy tờ hành chính góp phần giảm chi phí và thời gian liên quan đến thực hiện thủ tục hành chính khi thực hiện giao dịch thương mại số. Trong số các FTA mà Việt Nam là thành viên, CPTPP, RCEP và VKFTA đã có quy định cụ thể về thương mại phi giấy tờ, trong đó tập trung vào nỗ lực để thừa nhận giấy tờ điện tử có giá trị như giấy tờ truyền thống, nỗ lực công bố rộng rãi các giấy tờ có liên quan dưới dạng điện tử và hợp tác trong khuôn khổ một số diễn đàn để tăng cường thừa nhận thương mại phi giấy tờ[33].
Về hợp tác, có thể thấy hợp tác được coi là cơ chế phù hợp để các bên liên quan có thể giải quyết được những vấn đề có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các cam kết về thương mại số, do đó, cả năm FTA mà Việt Nam là thành viên đều có quy định cụ thể về hợp tác. Về cơ bản, các quy định này điều chỉnh những nội dung chính liên quan đến: i) phạm vi hợp tác; ii) khẳng định tầm quan trọng của hợp tác nhằm trợ giúp cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; chia sẻ thông tin, kinh nghiệm; khuyến khích các chủ thể tư các bộ quy tắc, hợp đồng mẫu, hướng dẫn hoặc cơ chế thực thi để thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử; và tham gia vào các diễn đàn khu vực hoặc quốc tế để thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử. CPTPP có quy định đặc thù là các bên hợp tác trong việc trao đổi thông tin và chia sẻ quan điểm về việc tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ trực tuyến của người tiêu dùng giữa các bên[34].
2.4. Giải quyết tranh chấp
Để giải quyết tranh chấp phát sinh liên quan đến việc thực hiện cam kết về thương mại số, CPTPP và RCEP đưa ra một số quy định về cơ chế giải quyết tranh chấp có thể sử dụng. Nếu RCEP đưa ra cơ chế tham vấn[35] và loại trừ không áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp chung của RCEP cho toàn bộ các nghĩa vụ trong chương 12, thì CPTPP loại trừ việc áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp chung cho Việt Nam và Malaysia trong thời gian hai năm kể từ ngày CPTPP có hiệu lực đối với từng nước, cho một số nghĩa vụ cụ thể[36]. Điều này có nghĩa là nếu các tranh chấp phát sinh trong khuôn khổ của RCEP chỉ có thể được giải quyết thông qua tham vấn hoặc thông qua Ủy ban hỗn hợp RCEP, thì tính đến thời điểm tháng 09/2024, các loại trừ cơ chế giải quyết tranh chấp chung trong CPTPP đã không còn tác dụng, do đó, tranh chấp phát sinh nếu có đối với Việt Nam hay Malaysia đều có thể giải quyết bằng cơ chế giải quyết tranh chấp chung của hiệp định này.
3. Đánh giá
Từ việc phân tích các quy định về thương mại số trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên, có thể rút ra một số nhận định sau:
Thứ nhất, không có sự tách biệt rõ ràng về các quy định điều chỉnh về thương mại điện tử với quy định về thương mại số trong các FTA mà Việt Nam là thành viên. Nằm trong cùng một chương, một số điều khoản được thiết kế để điều chỉnh riêng về thương mại số (như quy định về không biệt đối xử với các sản phẩm số; quy định về lưu chuyển thông tin xuyên biên giới bằng phương tiện điện tử…), nhưng đa số các quy định còn lại có thể được áp dụng đồng thời cho thương mại điện tử và thương mại số.
Thứ hai, mức độ cam kết về thương mại số có sự khác nhau giữa các quy định và giữa các hiệp định. Nhiều quy định thể hiện mức độ cam kết thấp với việc sử dụng các động từ như “nỗ lực”, “khuyến khích”, “thừa nhận”, “ghi nhận”, “có thể”… Một số quy định lại thể hiện mức độ ràng buộc cao hơn khi sử dụng các động từ như “phải”, “sẽ áp dụng”, “không… được”. Mức độ cam kết khác nhau sẽ ảnh hưởng đến việc tuân thủ của các thành viên cũng như đến khả năng giải quyết các tranh chấp phát sinh.
Thứ ba, nhiều thuật ngữ, cụm từ được sử dụng mà chưa được định nghĩa một cách rõ ràng. Có thể kể đến các cụm từ, thuật ngữ như: giao dịch điện tử; chứng thực điện tử; tình trạng hay yêu cầu; giao tiếp điện tử, truyền dẫn điện tử… Việc thiếu định nghĩa đối với những cụm từ này có thể sẽ được bù đắp bằng việc dẫn chiếu tới những công cụ pháp lý quốc tế có liên quan hoặc bằng sự giải thích của các thiết chế giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, việc các hiệp định này dẫn chiếu trực tiếp đến các công cụ pháp lý quốc tế như một phần của chương về thương mại điện tử là không rõ ràng. Đồng thời, RCEP loại trừ việc giải quyết tranh chấp về thực hiện cam kết liên quan đến thương mại điện tử bằng ban hội thẩm và thực trạng chưa có tranh chấp nào trên thực tế phát sinh, sẽ gây khó khăn cho các chính phủ khi áp dụng những quy định này trên thực tế.
Thứ tư, các quy định điều chỉnh về thương mại số trong FTA của Việt Nam còn chưa điều chỉnh một số vấn đề đã được đưa vào trong một số FTA khác trên thế giới. Có thể kể đến các quy định về cấm địa phương hóa dữ liệu đối với dịch vụ tài chính[37]; trách nhiệm của nhà cung cấp dịch vụ trung gian[38]; mở cửa đối với dữ liệu chính phủ[39]; thanh toán điện tử[40]; dịch vụ logistics cho thương mại điện tử[41]… Điều này một mặt cho thấy xu hướng mở rộng phạm vi của các chương về thương mại số trong FTA, mặt khác, cho thấy trong tương lai, khi Việt Nam đàm phán FTA mới có chương về thương mại điện tử, có thể cân nhắc để bổ sung thêm những quy định nêu trên.
4. Kết luận
Theo kết quả rà soát về sự tương thích của những quy định về thương mại điện tử nói chung và thương mại số nói riêng trong FTA mà Việt Nam là thành viên, có thể thấy, pháp luật Việt Nam đã cơ bản phù hợp với những quy định này. Do đó, việc thực thi các quy định và cam kết này, về mặt pháp luật, không đặt ra nhiều khó khăn đối với Việt Nam. Một số đánh giá ở trên cho thấy Việt Nam có thể lưu ý về những điểm còn chưa hoàn thiện trong chính các quy định đó khi xây dựng pháp luật trong nước điều chỉnh về thương mại số cũng như khi đàm phán FTA mới có chương về thương mại điện tử. Đồng thời, Việt Nam cũng có thể sử dụng những quy định này để tham gia vào khuôn khổ đàm phán cao hơn trong WTO để xây dựng những quy tắc đa phương về vấn đề này[42].
------------------------------------
Tài liệu tham khảo
Burri, Mira, and Rodrigo Polanco. “Digital Trade Provisions in Preferential Trade Agreements: Introducing a New Dataset.” Journal of International Economic Law 23, no. 1 (2020): 187–220.
Gaitan G., Loly A., and Julien Grollier. Electronic Commerce in Trade Agreements: Experience of Small Developing Countries. Geneva: CUTS International, 2020. https://www.cuts-geneva.org/wp-content/uploads/2023/09/eAfCFTA-Study-E-Commerce_Provisions_in_RTAs-1.pdf.
Leblond, Patrick. “Uploading CPTPP and USMCA Provisions to the WTO’s Digital Trade Negotiations Poses Challenges for National Data Regulation.” In Big Data and Global Trade Law, edited by Mira Burri, 301–315. Cambridge: Cambridge University Press, 2021.
Micallef, Jan A. “Digital Trade in EU FTAs: Are EU FTAs Allowing Cross-Border Digital Trade to Reach Its Full Potential?” Journal of World Trade 53, no. 5 (2019): 855–870.
OECD. OECD Guide to Measuring the Information Society 2011. Paris: OECD Publishing, 2011. https://doi.org/10.1787/9789264113541-en.
OECD, WTO, and IMF. Handbook on Measuring Digital Trade. Paris: OECD Publishing, 2019. https://www.oecd.org/sdd/its/Handbook-on-Measuring-Digital-Trade.htm.
WTO, OECD, IMF, and UN. Handbook on Measuring Digital Trade. 2nd ed. Paris: OECD Publishing, 2023. https://www.oecd.org/en/publications/handbook-on-measuring-digital-trade-second-edition_ac99e6d3-en.html
[1] OECD, WTO & IMF, Handbook on measuring digital trade, 2019, xem tại: https://www.oecd.org/sdd/its/Handbook-on-Measuring-Digital-Trade.htm (truy cập ngày 25/12/2025).
[2] WTO, OECD, IMF & UN, Handbook on Measuring Digital Trade, second edition, 2023, p. 6, xem tại: https://www.oecd.org/en/publications/handbook-on-measuring-digital-trade-second-edition_ac99e6d3-en.html (truy cập ngày 05/09/2024).
[3] OECD, OECD Guide to Measuring the Information Society 2011, OECD Publishing, Paris, 2011, https://dx.doi. org/10.1787/9789264113541-en.
[4] WTO, OECD, IMF & UN, tlđd., tr. 6.
[5] WTO, OECD, IMF & UN, tlđd., tr. 6.
[6] WTO, OECD, IMF & UN, tlđd., tr. 14.
[7] WTO, WTO Work Programme on Electronic Commerce, adopted by the General Council on 25 September 1998, WT/L/274, 30 September 1998.
[8] Jan A. Micallef, “Digital Trade in EU FTAs: Are EU FTAs Allowing Cross Border Digital Trade to Reach Its Full Potential?”, Journal of World Trade, 2019, vol. 53, no. 5, tr. 855-870.
[9] Mira Burri & Rodrigo Polanco, “Digital Trade Provisions in Preferential Trade Agreements: Introducing a New Dataset”, Journal of International Economic Trade, vol. 23, no. 1, tr. 187-220.
[10] Điều 12.11 RCEP; Điều 10.2 VKFTA; Điều 8.51 EVFTA; Điều 14.4 CPTPP.
[11] WTO, Ministerial Decision on Work Programme on Electronic Commerce, 13 December 2017, WT/MIN(17)/65, WT/L/1032.
[12] Loly A. Gaitan G. & Julien Grollier, Electronic Commerce in Trade Agreements: Experience of Small Developing Countries, CUTS International, Geneva, 2020, tr. 19, xem tại: https://www.cuts-geneva.org/wp-content/uploads/2023/09/eAfCFTA-Study-E-Commerce_Provisions_in_RTAs-1.pdf (truy cập ngày 01/09/2024).
[13] Điều 14.1 CPTPP.
[14] Điều 12.11.5 RCEP; Điều 10.2.2 VKFTA; Điều 14.4.2 CPTPP.
[15] Loly A. Gaitan G. & Julien Grollier, tlđd., tr. 20.
[16] Điều 14.4.1 CPTPP.
[17] Điều 14.1 CPTPP.
[18] Loly A. Gaitan G. & Julien Grollier, tlđd., tr. 20.
[19] Điều 14.4.3 CPTPP.
[20] Điều 14.4.4 CPTPP.
[21] Xem Điều 14.11 CPTPP và Điều 12.15 RCEP.
[22] Điều 14.11.2 CPTPP.
[23] Loly A. Gaitan G. & Julien Grollier, tlđd., tr. 20.
[24] Điều 14.5.2.a) CPTPP và Điều 12.10.2 RCEP.
[25] Điều 14.5.2.b) CPTPP.
[26] Điều 12.7.4 RCEP.
[27] Điều 12.9.1 RCEP và Điều 14.14.1 CPTPP.
[28] Điều 12.9.2 RCEP và Điều 14.14.2 CPTPP.
[29] Điều 12.9.3 RCEP và Điều 14.14.3 CPTPP.
[30] Các quy định này điều chỉnh một số vấn đề như: i) thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử; ii) cho phép các bên tham gia giao dịch điện tử được quyết định phương pháp chứng thực phù hợp với giao dịch; iii) không ngăn cấm các bên tham gia giao dịch điện tử chứng minh trước các cơ quan hành chính hoặc tư pháp về việc giao dịch của họ tuân thủ các yêu cầu pháp luật về chứng thực; iv) không hạn chế việc thừa nhận các công nghệ chứng thực điện tử; v) quy định đặc thù về chứng thực điện tử cho giao dịch đặc thù; và vi) khuyến khích sử dụng chứng thực điện tử liên thông. Xem các Điều 12.6 RCEP; Điều 10.3 VN-EAEUFTA; Điều 14.6 CPTPP.
[31] ĐIều 12.12.1 RCEP.
[32] Loly A. Gaitan G. & Julien Grollier, tlđd., tr. 36.
[33] Điều 12.5 RCEP; Điều 14.9 CPTPP và Điều 10.7 VKFTA.
[34] Điều 14.15.c) CPTPP.
[35] Điều 12.16 và Điều 12.17.1 RCEP.
[36] Điều 14.18 CPTPP.
[37] Xem Hiệp định Thương mại Tự do Australia – Hồng Kông.
[38] Xem Hiệp định Hoa Kỳ - Canada – Mexico.
[39] Xem Hiệp định Hoa Kỳ - Canada – Mexico.
[40] Xem Điều 2.7 Hiệp định Đối tác Kinh tế số giữa Chile, New Zealand và Singapore (DEPA).
[41] Xem Điều 2.4 DEPA.
[42] Patrick Leblond, “Uploading CPTPP and USMCA Provisions to the WTO’s Digital Trade Negociations Poses Challenges for National Data Regulation”, in Mira Burri, Big Data and Global Trade Law, Cambridge University Press, 2021, tr. 301-315.