Kinh nghiệm phát triển bảo hiểm sáng chế tại Hoa Kỳ, Trung Quốc và định hướng cho Việt Nam

(Pháp lý). Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa tài sản trí tuệ, việc xây dựng cơ chế pháp lý để quản trị rủi ro đối với sáng chế trở thành yêu cầu cấp thiết.

Tóm tắt:  Bài viết nhằm làm rõ cơ sở lý luận của bảo hiểm sáng chế, phân tích sự cần thiết phát triển loại bảo hiểm sáng chế tại Việt Nam và rút ra giá trị tham khảo từ kinh nghiệm của Hoa Kỳ và Trung Quốc. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy bảo hiểm sáng chế vận hành phụ thuộc vào thể chế và mức độ phát triển thị trường của quốc gia sở tại. Trong khi Hoa Kỳ phát triển bảo hiểm sáng chế theo cơ chế thị trường, thì Trung Quốc triển khai theo mô hình Nhà nước định hướng, thị trường vận hành và thí điểm ở cấp địa phương. Từ đó, Việt Nam cần phát triển bảo hiểm sáng chế theo lộ trình thí điểm, xác định đối tượng và phạm vi ưu tiên để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phù hợp.

Từ khoá: sáng chế, bảo hiểm sáng chế, Việt Nam

EXPERIENCE IN DEVELOPING PATENT INSURANCE IN THE UNITED STATES, CHINA, AND ORIENTATIONS FOR VIETNAM

Abstract: In the context of Vietnam’s ongoing efforts to promote science, technology, innovation, and the commercialization of intellectual property, establishing a legal framework for managing patent-related risks has become an urgent necessity. This article aims to clarify the theoretical foundations of patent insurance, analyze the need for its development in Vietnam, and draw relevant lessons from the experiences of the United States and China. The study employs analytical, synthetic, comparative legal methods, as well as international experience review. The findings indicate that the operation of patent insurance is contingent upon the institutional framework and the level of market development in each country. While the United States has developed patent insurance under a market-driven mechanism, China has adopted a model characterized by state direction, market operation, and localized pilot implementation. Accordingly, Vietnam should pursue a phased, pilot-based approach to developing patent insurance, identifying priority subjects and scopes in order to establish an appropriate and effective legal framework.

Keywords: patent; patent insurance; Vietnam

1-1777450408.jpg

Ảnh minh hoạ

Đặt vấn đề

Sáng chế ngày càng được khẳng định là một loại tài sản trí tuệ có giá trị kinh tế, gắn liền với năng lực đổi mới sáng tạo và cạnh tranh quốc gia. Từ đó, đặt ra yêu cầu không chỉ là gia tăng số lượng sáng chế mà còn xây dựng cơ chế pháp lý hỗ trợ thương mại hóa hiệu quả. Tuy nhiên, quá trình khai thác sáng chế luôn tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt đối với doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế, làm suy giảm khả năng hiện thực hóa giá trị kinh tế. Trong bối cảnh đó, bảo hiểm sáng chế nổi lên như một công cụ pháp lý – tài chính hỗ trợ quản trị rủi ro, tăng cường niềm tin thị trường và thúc đẩy khai thác tài sản trí tuệ.

Tại Việt Nam, nhu cầu nghiên cứu trở nên cấp thiết khi hiệu quả thương mại hóa còn hạn chế, trong khi khuôn khổ pháp lý chuyên biệt chưa được hoàn thiện. Tuy nhiên hiện chưa có công trình nào tại Việt Nam trực tiếp nghiên cứu về bảo hiểm sáng chế, phần lớn các học giả nghiên cứu về cơ chế thế chấp, định giá tài sản trí tuệ, đặt ra nền tảng cho quá trình thương mại hóa sáng chế. Do đó, đặt ra khoảng trống và yêu cầu cấp thiết cho việc nghiên cứu bảo hiểm hoá đối với sáng chế. 

Trên cơ sở đó, bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh pháp luật để làm rõ cơ sở lý luận của bảo hiểm sáng chế, phân tích kinh nghiệm phát triển của Hoa Kỳ và Trung Quốc, đồng thời đối chiếu với bối cảnh pháp lý và nhu cầu thực tiễn tại Việt Nam nhằm đề xuất định hướng hoàn thiện phù hợp.

       1. Khái quát về bảo hiểm sáng chế

Năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ (Luật SHTT) năm 2005 được ban hành, trong đó, khái niệm sáng chế đã được quy định khoản 12 Điều 4 Luật SHTT 2005 quy định: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”. Khái niệm này được giữ nguyên không thay đổi qua các lần sửa đổi bổ sung Luật SHTT vào các năm 2009, 2019, 2022, 2025.

Trong khoa học pháp lý, bảo hiểm sáng chế (BHSC) chưa được hình thành như một khái niệm học thuật thống nhất. Theo Sách trắng về bảo hiểm SHTT của Trung Quốc, BHSC là một nhánh của bảo hiểm SHTT được định nghĩa là “cơ chế trong đó doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại kinh tế phát sinh từ quá trình sáng tạo, bảo hộ, khai thác, quản lý và dịch vụ quyền sáng chế”. Hay có học giả lại định nghĩa trực tiếp BHSC là “loại hình bảo hiểm đối với hành vi xâm phạm sáng chế và các chi phí phát sinh liên quan”. Tóm lại, khái niệm BHSC được hiểu như sau: “Bảo hiểm sáng chế là cơ chế chuyển giao và phân tán rủi ro đối với sáng chế”. Khung pháp lý về BHSC bao gồm hai trụ cột: (i) pháp luật về bảo hiểm, kinh doanh bảo hiểm và (ii) pháp luật bảo hộ đối với sáng chế. Theo đó, BHSC có các đặc điểm: Thứ nhất, BHSC mang bản chất và có cơ chế vận hành của bảo hiểm dân sự, là loại bảo hiểm phi nhân thọ. Thứ hai, đối tượng BHSC là sáng chế, một loại tài sản vô hình thuộc quyền SHCN. Thứ ba, BHSC là loại hình bảo hiểm mới, gắn với thị trường công nghệ và SHTT, có mức độ phức tạp cao.

        2. Sự cần thiết phát triển bảo hiểm sáng chế tại Việt Nam

Tại Việt Nam, trong giai đoạn 2019-2024, số lượng đơn đăng ký sáng chế tăng trung bình đạt khoảng 12,4%/năm[1]. Tuy nhiên, tỷ lệ thương mại hóa tài sản trí tuệ này chỉ đạt 0,1%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu (5%) và các nước phát triển (10%)[2]. Điều này cho thấy khoảng cách lớn giữa năng lực tạo lập và khả năng thương mại hóa sáng chế. Nguyên nhân một phần đến từ rủi ro pháp lý và chi phí cao trong việc bảo vệ và thực thi quyền của chủ thể sáng chế. Từ đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết trong chấp nhận và quản trị rủi ro sáng chế. Thực tế, BHSC đã được triển khai tại nhiều quốc gia như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Singapore… và trở thành công cụ quan trọng hỗ trợ phân tán rủi ro và thúc đẩy thương mại hóa sáng chế, qua đó cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu, áp dụng tại Việt Nam.

Trước thực tiễn đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, định hướng nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh thương mại hóa sáng chế. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “cho phép thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra, chấp nhận rủi ro, đầu tư mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo”, đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2030 tỷ lệ khai thác thương mại sáng chế đạt 8-10%. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/05/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, quy định về khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ: “...có chính sách hỗ trợ định giá, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ”; …khuyến khích sự tham gia của các tổ chức tài chính, các doanh nghiệp lớn bảo lãnh cho các khoản vay của các doanh nghiệp nhỏ và vừa; chấp nhận rủi ro do điều kiện khách quan…chính sách bảo hiểm hợp lý…”.  Hoặc theo Điều 6.1.đ, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo hiện hành “Khuyến khích hoạt động mạo hiểm trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, chính sách chia sẻ rủi ro, đầu tư mạo hiểm và các cơ chế tài chính đặc thù khác”. Điều 1.I.1, Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 12/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm 2030 xác định “xây dựng thị trường bảo hiểm hiện đại, đa dạng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của tổ chức, cá nhân và tiếp cận các tiêu chuẩn quốc tế”.

BHSC lần đầu được đề cập trong Dự thảo lần I Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật SHTT 2025 tại Điều 8a. Tài chính dựa trên quyền sở hữu trí tuệ vào sau Điều 8, với quy định tại điểm c khoản 3: "Phát triển sản phẩm bảo hiểm và các sản phẩm tài chính khác liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ.". Tuy nhiên, sau 02 lần Dự thảo, nội dung này đã không được thông qua. Thay vào đó, Điều 8 Luật SHTT 2025 thông qua không đề cập trực tiếp nhưng đã gợi mở trong việc thúc đẩy cơ chế hợp tác, chia sẻ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn với chương trình quốc gia trong hoạt động phát triển sáng chế, mở ra tiền đề để BHSC có thể được quy định cụ thể chi tiết về sau. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 quy định thời gian để xây dựng, ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn chỉ mất khoảng 1 - 2 tháng (giảm được 6 - 8 tháng). Về mặt lý thuyết, điều có thể đáp ứng yêu cầu về tính “kịp thời” và khả năng “đáp ứng” thực tiễn, khắc phục tình trạng luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư kéo dài trong nhiều năm. Trong bối cảnh này, các vấn đề tài chính liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, vốn có mối liên hệ trực tiếp với cả Luật SHTT và Luật Kinh doanh bảo hiểm, lại phát sinh đúng thời điểm hai đạo luật này đang đồng thời được sửa đổi, đã dẫn đến việc những nội dung quan trọng này bị trì hoãn, thậm chí bị “bỏ ngỏ” trong hệ thống pháp luật hiện hành, qua đó làm hạn chế khả năng triển khai trên thực tế các cơ chế bảo hiểm và cơ chế chia sẻ rủi ro đối với sáng chế.

Từ đó, cho thấy việc nghiên cứu phát triển BHSC không chỉ cần thiết mà còn khả thi và có nền tảng để triển khai.

         3. Kinh nghiệm một số quốc gia trong phát triển bảo hiểm sáng chế

        3.1. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ

Hoa Kỳ đi đầu trong việc tích hợp sáng chế vào hệ thống tài chính, nhờ vào khung pháp lý rõ ràng về quyền sở hữu, định giá và giao dịch sáng chế như quy định UCC 9Luật sáng chế. Ngoài ra, việc gắn kết định giá sáng chế với các quỹ đầu tư mạo hiểm đã giúp doanh nghiệp khởi nghiệp của quốc gia này dễ dàng tiếp cận vốn từ các nguồn khác, giảm sự phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng truyền thống. Mục đích chính của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực bảo hiểm tại Hoa Kỳ là bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ bảo hiểm[3]. Doanh nghiệp muốn kinh doanh thì phải có giấy phép của cơ quan giám sát bảo hiểm bang và tuân thủ quy định về bảo hiểm của bang đó. Năm 1871, ở cấp Liên bang đã thành lập Hiệp hội các ủy viên giám sát bảo hiểm với mục đích chính để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng bảo hiểm[4].

Từ cuối những năm 1980 đã tồn tại nhiều mô hình bảo hiểm khác nhau nhằm bảo hiểm các rủi ro gắn liền với các loại sáng chế khác nhau. BHSC bắt đầu phát triển tại Hoa Kỳ từ khoảng năm 1985 như một hệ quả gián tiếp từ cách thức các tòa án diễn giải các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự chung của doanh nghiệp. Việc hình thành các sản phẩm BHSC chuyên biệt nhằm ngăn chặn khả năng bên được bảo hiểm yêu cầu bồi thường thiệt hại liên quan đến sáng chế theo điều khoản về tổn hại phát sinh từ hoạt động quảng cáo trong các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự chung[5]. Nguồn gốc của việc bảo hiểm rủi ro sáng chế có thể truy về những năm 1970, khi các điều khoản bảo hiểm đối với tổn hại liên quan đến quảng cáo trong các hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự chung đa rủi ro thương mại, cũng như trong một số hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm của giám đốc và cán bộ quản lý (D&O insurance), được xây dựng với phạm vi rất rộng và được các tòa án diễn giải theo hướng mở. Đồng thời, tranh chấp sáng chế, có thể vô cùng tốn kém trong hệ thống tài phán của Hoa Kỳ, với chi phí mà mỗi bên tham gia tố tụng phải gánh chịu dao động từ vài trăm nghìn đến vài triệu đô la Mỹ[6]. Những điều kiện này đặt ra yêu cầu phải có một phân tích chuyên sâu về các khía cạnh khác nhau liên quan đến tranh chấp sáng chế, bởi các yếu tố này có thể kìm hãm sự tăng trưởng của các doanh nghiệp ĐMST.

Hiện nay, các sản phẩm bảo hiểm được cung cấp thương mại tại Hoa Kỳ bao gồm hai loại hợp đồng tiêu chuẩn chính, cũng như các hợp đồng bảo hiểm đa rủi ro kết hợp các rủi ro này với những phạm vi bảo hiểm khác: Bảo hiểm thực thi quyền đối với chính sáng chế của bên được bảo hiểm - loại hình này thường cũng bao gồm bảo vệ trước các thủ tục yêu cầu tuyên bố vô hiệu; và bảo hiểm phòng vệ đối với các cáo buộc xâm phạm sáng chế của bên thứ ba. Về nguyên tắc, hai loại hợp đồng này thường không bao gồm khoản bồi thường thiệt hại mà bên được bảo hiểm phải trả.

Trong loại hình Bảo hiểm thực thi bằng sáng chế, người được bảo hiểm là chủ thể quyền, nhằm bảo vệ chủ thể quyền khỏi các tổn thất do bên thứ ba xâm phạm. Phạm vi bảo hiểm là chi phí kiện tụng để thực thi bằng sáng chế (hoặc một phần chi phí hợp lý), thường bao gồm: (1) Chi phí kiện tụng cần thiết mà người được bảo hiểm phải chi khi khởi kiện người xâm phạm; (2) Chi phí kiện tụng cần thiết mà người được bảo hiểm phải chi để chống lại phản tố của người xâm phạm về việc bằng sáng chế là "vô hiệu"; (3) Chi phí cần thiết mà chủ thể quyền phải chi trong các thủ tục như xem xét lại hiệu lực bằng sáng chế tại cơ quan liên quan để đối phó với nỗ lực tuyên bố bằng sáng chế vô hiệu của người xâm phạm. Trong bảo hiểm này, các điều khoản hợp đồng bảo hiểm thường bao gồm điều khoản đồng chi trả, không bao gồm trách nhiệm bồi thường hoặc tổn thất liên đới, tiền phạt, bồi thường trừng phạt, bồi thường mang tính răn đe và thiệt hại bội phần.

Đối với Bảo hiểm trách nhiệm xâm phạm bằng sáng chế, người được bảo hiểm là chủ thể có khả năng xâm phạm quyền bằng sáng chế của người khác. Công ty bảo hiểm sẽ thanh toán cho người được bảo hiểm chi phí kiện tụng cần thiết (phát sinh trong quá trình bảo vệ) và/hoặc chi phí bồi thường thiệt hại xâm phạm đã được phán quyết theo thỏa thuận hợp đồng. Tuy nhiên, nhìn chung, phạm vi bảo hiểm trách nhiệm xâm phạm bằng sáng chế bao gồm các khoản mục sau: (1) Chi phí kiện tụng phát sinh khi người được bảo hiểm tham gia vào quá trình bảo vệ trong vụ kiện xâm phạm bằng sáng chế trong thời hạn bảo hiểm, (2) Chi phí kiện tụng phát sinh khi người được bảo hiểm đệ đơn phản tố để tuyên bố bằng sáng chế của nguyên đơn là "vô hiệu", (3) Chi phí phát sinh khi người được bảo hiểm khởi động hoặc tham gia vào các thủ tục như xem xét lại hiệu lực bằng sáng chế; (4) Khoản phí bồi thường thiệt hại xâm phạm mà người được bảo hiểm có nghĩa vụ phải trả cho chủ sở hữu bằng sáng chế (nguyên đơn).

Việc sở hữu BHSC tại Hoa Kỳ mang lại những lợi ích đáng kể. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường rơi vào vị thế đàm phán yếu, đến mức có thể buộc phải cấp phép với các điều kiện bất lợi, hoặc thậm chí chấp nhận hành vi xâm phạm quyền SHTT của mình do thiếu nguồn lực cần thiết để tiến hành các biện pháp pháp lý. Trong trường hợp này, BHSC phát huy vai trò đặc biệt quan trọng khi giúp củng cố vị thế đàm phán của doanh nghiệp, và vì vậy được xem là nền tảng hữu hiệu để đạt được các thỏa thuận dàn xếp ngoài tòa án.

Có thể thấy, Hoa Kỳ đại diện cho mô hình thị trường thuần túy, nơi BHSC hình thành và phát triển chủ yếu từ nhu cầu quản trị rủi ro của doanh nghiệp trong bối cảnh chi phí tranh chấp sáng chế rất cao. Đặc điểm nổi bật của mô hình Hoa Kỳ là tính thương mại cao, phí bảo hiểm lớn, hợp đồng phức tạp và phạm vi áp dụng chủ yếu đối với các doanh nghiệp sở hữu danh mục sáng chế có giá trị.

        3.2. Kinh nghiệm của Trung Quốc

Trung Quốc luật hóa chính sách thúc đẩy khai thác thương mại sáng chế. Bộ luật Dân sự đầu tiên của nước này, được ban hành năm 2020, đưa thiết chế về hợp đồng trong lĩnh vực công nghệ vào một chương riêng. Song song, đạo luật về sáng chế cũng liên tục được sửa đổi để đáp ứng sự phát triển chóng mặt của công nghệ số. Đáng chú ý nhất là cơ chế “giấy phép mở” trong Luật Sáng chế sửa đổi năm 2020. Các chính sách ưu đãi cũng được áp dụng, bao gồm cả bảo hiểm. Cùng với mục tiêu thúc đẩy việc khai thác, sử dụng sáng chế và tạo điều kiện huy động vốn, bảo đảm việc thực hiện các quyền nghĩa vụ, đồng thời chuẩn hóa thủ tục đăng ký thế chấp quyền sáng chế, Trung Quốc đã ban hành Biện pháp về đăng ký thế chấp quyền sáng chế, trên cơ sở Luật Sáng chế và Luật Tài sản cùng quy định có liên quan[7].

BHSC chính thức xuất hiện tại Trung Quốc vào cuối năm 2010, với việc giới thiệu sản phẩm “Bảo hiểm chi phí điều tra xâm phạm sáng chế[8]. Sản phẩm này được triển khai trên cơ sở hợp tác giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp bảo hiểm. Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện đã đưa ra những định hướng chiến lược rõ ràng cho sự phát triển của BHSC, thể hiện qua các văn kiện chính sách quan trọng. Năm 2015, trong “Một số ý kiến của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện về việc cải cách thể chế, cơ chế nhằm đẩy nhanh thực hiện chiến lược phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo”, chủ trương “thúc đẩy thí điểm BHSC” lần đầu tiên được nêu trong một văn kiện cấp trung ương. Đến năm 2021, “Kế hoạch quốc gia về bảo hộ và sử dụng quyền SHTT trong giai đoạn Kế hoạch 5 năm lần thứ 14” đề ra các phương hướng cụ thể: “Khuyến khích đổi mới sản phẩm tài chính như bảo hiểm sở hữu trí tuệ và bảo lãnh tín dụng, phát huy vai trò của tài chính trong việc hỗ trợ chuyển hóa quyền sở hữu trí tuệ”; “Mở rộng dịch vụ giá trị gia tăng trong các lĩnh vực đầu tư, tài chính, bảo hiểm và thẩm định giá quyền sở hữu trí tuệ”; “Khuyến khích các tổ chức bảo hiểm triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở nước ngoài.” Để cụ thể hoá, CNIPA đã ban hành “Kế hoạch thực hiện xây dựng hệ thống bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ” trong đó có nội dung “Phát huy vai trò của bảo hiểm sở hữu trí tuệ, hoàn thiện hệ thống sản phẩm bảo hiểm bao phủ đầy đủ các loại hình và các khâu trong toàn bộ vòng đời của quyền sở hữu trí tuệ[9].

Tháng 1 năm 2024, Cục Quản lý và Giám sát Tài chính Nhà nước đã ban hành "Thông báo về việc tăng cường dịch vụ tài chính cho toàn bộ vòng đời của các doanh nghiệp công nghệ"[10]. Đây là biện pháp quan trọng để thực hiện lời kêu gọi của hội nghị công tác tài chính trung ương về việc tập trung phát triển tài chính khoa học và công nghệ. Theo đó, BHSC được nhận định là một mắt xích quan trọng trong hệ thống tài chính khoa học và công nghệ: một mặt, bảo hiểm cung cấp khả năng tăng cường tín dụng và bảo vệ rủi ro cho các doanh nghiệp công nghệ có rủi ro cao; mặt khác, đặc điểm trung và dài hạn của quỹ bảo hiểm phù hợp hơn với bản chất dài hạn của đổi mới khoa học công nghệ và nghiên cứu phát triển[11]. Phát triển BHSC là một trong những lĩnh vực đổi mới trọng điểm trong tài chính SHTT và là một phương tiện quan trọng để thúc đẩy sự hội nhập sâu rộng giữa nguồn lực SHTT và nguồn lực tài chính tại Trung Quốc.

Ở cấp độ địa phương, nhiều chương trình thí điểm được triển khai với mô hình “Chính phủ định hướng – thị trường vận hành”, trong đó chính quyền hỗ trợ phí bảo hiểm nhằm khuyến khích doanh nghiệp tham gia. Tiêu biểu nhất là chương trình thí điểm bảo hiểm SHTT tại Bắc Kinh (2020–2023). Bên cạnh đó, các địa phương như Chiết Giang, Quảng Đông và Giang Tô cũng triển khai chính sách tương tự, mở rộng quy mô BHSC và thử nghiệm cơ chế hỗ trợ phí bảo hiểm cho doanh nghiệp đổi mới. Từ đó chuẩn hóa cơ chế vận hành, tăng tỷ lệ tham gia BHSC, đồng thời khẳng định vai trò của BHSC như một công cụ hỗ trợ quản trị rủi ro và khuyến khích đổi mới công nghệ trong hệ sinh thái sáng tạo của Trung Quốc.

Trong quá trình thực tiễn, các chi nhánh địa phương của PICC đã xây dựng nhiều mô hình kinh doanh đặc thù nhằm thích ứng với điều kiện thực tế và nhu cầu của từng khu vực, điển hình gồm: Mô hình Đức Dương: kết hợp “vay ngân hàng + bảo hiểm bảo đảm + bồi thường rủi ro tài chính”, được Quốc vụ viện công nhận là mô hình có thể nhân rộng; Mô hình Tô Châu: cơ chế “chính – tài – bảo hiểm”, gắn kết giữa bảo hiểm và tín dụng trong khai thác quyền sáng chế; Mô hình Trung Quan Thôn: đưa bảo hiểm nghề nghiệp vào hoạt động thế chấp quyền SHTT nhằm giảm thiểu rủi ro xử lý tài sản trí tuệ. Các mô hình này phản ánh định hướng phát triển “chính phủ dẫn dắt – thị trường kết nối – chuyên nghiệp vận hành”, với đổi mới sản phẩm làm trung tâm và khu vực thí điểm làm đột phá khẩu[12].

Như vậy, trái ngược với Hoa Kỳ, Trung Quốc tiêu biểu cho mô hình Nhà nước định hướng - thị trường vận hành - địa phương thí điểm. BHSC được thể chế hóa trong các chiến lược quốc gia về SHTT và đổi mới sáng tạo, đồng thời triển khai thông qua các chương trình thí điểm có hỗ trợ ngân sách, đặc biệt là trợ cấp phí bảo hiểm. Đáng chú ý, BHSC tại Trung Quốc không phát triển độc lập mà được tích hợp chặt chẽ với công cụ tài chính dựa trên quyền SHTT như thế chấp, bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ đầu tư, qua đó kết nối quyền sáng chế với dòng vốn trong toàn bộ chuỗi đổi mới sáng tạo.

        4. Định hướng phát triển bảo hiểm sáng chế tại Việt Nam

Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm của các nước, có thể thấy BHSC không tồn tại như một mô hình đồng nhất trên phạm vi toàn cầu, mà được hình thành và vận hành gắn chặt với bối cảnh thể chế, trình độ phát triển thị trường, mức độ rủi ro pháp lý và vai trò can thiệp của Nhà nước. Từ góc độ đó, có thể rút ra một số giá trị tham khảo cơ bản sau đây.

Thứ nhất, về khung pháp lý. Để các bên xác lập quan hệ BHSC, bên cạnh pháp luật về bảo hiểm nói chung, cần xây dựng một số quy định cụ thể về giao dịch BHSC để các bên an tâm về mặt pháp lý như xác định rõ trường hợp, loại sáng chế nào được ưu tiên,  được dùng để bảo hiểm; thứ tự ưu tiên, ưu đãi bảo hiểm… Đối với pháp luật sáng chế nói riêng, pháp luật SHTT nói chung, pháp luật cần khẳng định rõ sáng chế có thể bảo hiểm hoá và cần cơ chế tài chính, phát triển bảo hiểm SHTT. Trong mô hình tại Hoa Kỳ, nhà nước hầu như không can thiệp vào hoạt động BHSC mà để thị trường tự điều chỉnh, pháp luật chứa đựng rất ít các quy chế đặc thù. Trong khi đó, các quốc gia như Hàn Quốc, Trung Quốc có xu hướng đề cao vai trò chủ động, trợ cấp, hỗ trợ, thúc đẩy của nhà nước và xây dựng các quy định chi tiết, cụ thể, đặc thù về BHSC. Việc thừa nhận khả năng bảo hiểm đối với sáng chế không chỉ góp phần giảm thiểu rủi ro pháp lý và rủi ro thương mại cho chủ sở hữu, mà còn tạo thêm công cụ bảo đảm cho các giao dịch khai thác, chuyển giao và thế chấp quyền SHTT. Bên cạnh đó, Nhà nước cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế tài chính nhằm phát triển thị trường bảo hiểm SHTT, bao gồm việc ban hành khung pháp lý riêng cho sản phẩm bảo hiểm liên quan đến sáng chế; quy định rõ phạm vi bảo hiểm (như rủi ro tranh chấp xâm phạm, chi phí tố tụng, thiệt hại do bị tuyên vô hiệu văn bằng bảo hộ…); cơ chế định giá tài sản trí tuệ làm cơ sở xác định mức phí và mức bồi thường; cũng như chính sách khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm tham gia cung cấp loại hình dịch vụ này. Việc phát triển bảo BHSC sẽ góp phần gia tăng niềm tin của các tổ chức tín dụng khi nhận sáng chế làm tài sản bảo đảm, thúc đẩy hoạt động thương mại hóa sáng chế và tạo lập một hệ sinh thái tài chính – pháp lý đồng bộ cho thị trường tài sản trí tuệ.

Do đó, kiến nghị trong thời gian tới, cần quy định về tài chính đối với quyền SHTT và có hướng dẫn cụ thể tại Nghị định hướng dẫn Luật SHTT sửa đổi 2025. Cụ thể Điều này bao gồm nội dung: “bảo lãnh vay vốn trên cơ sở thế chấp quyền sở hữu trí tuệ; ưu tiên phát triển sản phẩm bảo hiểm sáng chế”. Để thương mại hoá, trọng tâm là hoạt động thế chấp quyền SHTT, bảo hiểm sáng chế có vai trò quan trọng trong quan hệ thế chấp và tín dụng. Lựa chọn ưu tiên phát triển sản phẩm bảo hiểm đối với đối tượng SHTT là sáng chế là bởi xuất phát từ đặc thù đây là loại tài sản trí tuệ có giá trị kinh tế lớn, khả năng khai thác thương mại trực tiếp cao, song đồng thời tiềm ẩn mức độ rủi ro pháp lý và thị trường cao hơn so với các đối tượng quyền SHTT khác, đặc biệt là rủi ro tranh chấp xâm phạm và chi phí thực thi quyền.

Thứ hai, về cách tiếp cận chính sách. BHSC cần được nhìn nhận như một công cụ quản trị rủi ro pháp lý - tài chính trong lĩnh vực sáng chế, chứ không đơn thuần là một sản phẩm bảo hiểm thương mại. Trung Quốc tiếp cận BHSC từ góc độ chính sách công, coi đây là công cụ hỗ trợ doanh nghiệp - đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong quá trình thương mại hóa và bảo vệ sáng chế. Đối với Việt Nam, trong bối cảnh thị trường bảo hiểm chưa phát triển đầy đủ và nhận thức của doanh nghiệp về rủi ro sáng chế còn hạn chế, việc Nhà nước giữ vai trò khởi xướng và dẫn dắt chính sách là cần thiết. Tuy nhiên, vai trò này nên được giới hạn ở mức tạo khuôn khổ pháp lý, hỗ trợ ban đầu và chia sẻ rủi ro.

Thứ ba, về vai trò và mức độ can thiệp của Nhà nước. Kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy Nhà nước có thể đóng vai trò tích cực thông qua các biện pháp như trợ cấp phí bảo hiểm, hỗ trợ thí điểm địa phương và kết nối BHSC với các công cụ chính sách khác (tín dụng, định giá tài sản trí tuệ). Đối với Việt Nam, nhà nước có thể hỗ trợ giai đoạn đầu thông qua cơ chế thí điểm, đồng tài trợ hoặc bảo lãnh một phần rủi ro, nhưng không nên thay thế hoàn toàn vai trò của doanh nghiệp bảo hiểm. Từ đó giúp giảm rủi ro cho thị trường non trẻ, vừa tránh nguy cơ lệ thuộc vào ngân sách nhà nước hoặc phát sinh rủi ro đạo đức. Theo Xinming Ma, CEO công ty định giá Beijing Zhongjinhao Assets Appraisal, có lý do chính giúp Trung Quốc vượt xa các nước khác trong khu vực về thị trường TSTT[13], cụ thể: Một là, các cơ quan Chính phủ Trung Quốc bao gồm CNIPA, Cục Khoa học và Công nghệ, Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin, Cục Giám sát Tài chính… đã hỗ trợ mạnh mẽ về chính sách tài chính SHTT. Hai là, các tổ chức tài chính, công ty bảo lãnh, công ty bảo hiểm, cơ quan đánh giá SHTT và cơ quan dịch vụ SHTT, đã tạo ra một số mô hình sáng tạo có lợi cho sự phát triển của thị trường tài chính SHTT. Ba là, các cơ quan đánh giá và dịch vụ đã phát triển các công cụ và mô hình kiểm soát và đánh giá rủi ro. Thị trường SHTT của Trung Quốc đã đưa lên chương trình nghị sự của các công ty, thúc đẩy việc cải thiện dần dần các chuẩn mực và hệ thống tiêu chuẩn có liên quan để đánh giá giá trị của SHTT.

Thứ tư, về lộ trình và phương thức triển khai tại Việt Nam. Từ tổng hợp kinh nghiệm, có thể thấy rằng BHSC không thể hình thành và phát triển trong thời gian ngắn, mà cần một lộ trình từng bước. Giai đoạn đầu nên tập trung vào việc nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về rủi ro sáng chế, hoàn thiện khung pháp lý nền tảng và triển khai các mô hình thí điểm có kiểm soát. Giai đoạn tiếp theo mới tính đến việc mở rộng sản phẩm, đa dạng hóa loại hình bảo hiểm và tăng cường vai trò của thị trường. Theo đó, giá trị tham khảo quan trọng nhất từ kinh nghiệm quốc tế đối với Việt Nam không nằm ở việc lựa chọn một mô hình cụ thể, mà ở tư duy tiếp cận: coi BHSC là một bộ phận cấu thành của hệ thống quản trị rủi ro sáng chế, gắn kết chặt chẽ với chính sách đổi mới sáng tạo, phát triển doanh nghiệp và hội nhập kinh tế quốc tế. Chỉ khi được đặt trong một tổng thể như vậy, BHSC mới có thể phát huy vai trò thực chất trong việc thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Kết luận

Bảo hiểm sáng chế không chỉ là một công cụ tài chính – pháp lý nhằm phân bổ và kiểm soát rủi ro, mà còn là thiết chế hỗ trợ trực tiếp cho quá trình thương mại hóa sáng chế trong nền kinh tế tri thức. Tuy nhiên, hiệu quả của công cụ này phụ thuộc vào sự hội tụ của nhiều điều kiện nền tảng, bao gồm mức độ phát triển của thị trường bảo hiểm, tính minh bạch và khả năng định giá của hệ sinh thái sở hữu trí tuệ, cũng như vai trò điều tiết chủ động của Nhà nước. Đối với Việt Nam, việc phát triển bảo hiểm sáng chế nên được triển khai theo lộ trình thận trọng, đồng thời từng bước hoàn thiện khuôn khổ pháp luật. Trên cơ sở đó, công cụ này mới có thể đóng vai trò thực chất trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ và tài sản trí tuệ.

-----------------------------------

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. CNIPA, 2018, truy cập ngày 12/10/2025, https://www.cnipa.gov.cn/art/2018/2/9/art_410_134566.html.

2. Nguyễn Hải, 2025, Trang thông tin điện tử Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh Nghệ An, truy cập ngày 21/06/2025, https://ngheandost.gov.vn/hoat-dong-khcn/viet-nam-co-22-san-giao-dich-cong-nghe-ty-le-thuong-mai-hoa-sang-che-con-thap-8865.html.

3. Khan, Zorina, 1995, “Property Rights and Patent Litigation in Early Nineteenth-Century America.” The Journal of Economic History 55, no. 1: 58–97.

4. Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, 2024, “Báo cáo thường niên hoạt động sở hữu trí tuệ năm 2024 .”

5. The State Intellectual Property Office, 2010, truy cập ngày 05/12/2025, https://ipkey.eu/sites/default/files/legacy-ipkey-docs/measures-for-the-registration-of-a-pledge-of-patent-rights.pdf.

6. Lanjouw J. O and Mark Schankerman, 2001, “Characteristics of Patent Litigation: A Window on Competition.” RAND Journal of Economics 32, no. 1: 129–151.

7. Shokin, V. O. 2017. “Global Economy and Examples of the Best World Practices of State Regulation of the Insurance Market.” Russian Journal of Entrepreneurship 18, no. 1: 91.

8. Stockbiz, 2024, Viện Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, truy cập ngày 20/01/2026. https://bcsi.edu.vn/tin-tuc/so-huu-tri-tue/trao-luu-cho-vay-the-chap-bang-tai-san-tri-tue.html.

9. Lê Thị Thu Thủy, 2021, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, truy cập ngày 20/12/2025. https://danchuphapluat.vn/quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-hoat-dong-kinh-doanh-bao-hiem-2897.html.


[1] Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, 2024, “Báo cáo thường niên hoạt động sở hữu trí tuệ năm 2024 .”

[2] Nguyễn Hải, 2025, Trang thông tin điện tử Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh Nghệ An, truy cập ngày 21/06/2025, https://ngheandost.gov.vn/hoat-dong-khcn/viet-nam-co-22-san-giao-dich-cong-nghe-ty-le-thuong-mai-hoa-sang-che-con-thap-8865.html.

[3] Lê Thị Thu Thuỷ, 2021, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, truy cập ngày 20/12/2025. https://danchuphapluat.vn/quan-ly-nha-nuoc-doi-voi-hoat-dong-kinh-doanh-bao-hiem-2897.html.

[4] Shokin, V. O, 2017, “Global Economy and Examples of the Best World Practices of State Regulation of the Insurance Market.” Russian Journal of Entrepreneurship 18, no. 1: 91.

[5] Khan, Zorina, 1995, “Property Rights and Patent Litigation in Early Nineteenth-Century America.” The Journal of Economic History 55, no. 1: 58–97.

[6] Lanjouw J. O. and Mark Schankerman, 2001, “Characteristics of Patent Litigation: A Window on Competition.” RAND Journal of Economics 32, no. 1: 129–151.

[7] The State Intellectual Property, 2010, truy cập ngày 05/12/2025. https://ipkey.eu/sites/default/files/legacy-ipkey-docs/measures-for-the-registration-of-a-pledge-of-patent-rights.pdf.

[8] 广州日, 2010, China News, truy cập ngày 11/12/2025. https://www.chinanews.com.cn/fortune/2010/12-22/2738495.shtml.

[9] 国家知识产, 2021, truy cập ngày 25/12/2025. https://www.cnipa.gov.cn/module/download/downfile.jsp?classid=0&filename=5b9683fb547342d79485c1344ee61d67.pdf&showname=%25E7%259F%25A5%25E8%25AF%2586%25E4%25BA%25A7%25E6%259D%2583%25E4%25BF%259D%25E6%258A%25A4%25E4%25BD%2593%25E7%25B3%25BB%25E5%25BB%25BA%.

[10] 国家金融督管理, 2024, 国家金融督管理, truy cập ngày 15/12/2025, https://www.nfra.gov.cn/cn/view/pages/governmentDetail.html?docId=1147325&itemId=861&generaltype=1.

[11] 中国金融, 2024, truy cập ngày 11/12/2025, https://zscqj.beijing.gov.cn/zscqj/ztzl/zscqbxsd/gzyl/543377047/index.html.

[12] CNIPA, 2018, truy cập ngày 12/10/2025, https://www.cnipa.gov.cn/art/2018/2/9/art_410_134566.html.

[13] Stockbiz, 2024, Viện Chiến lược thương hiệu và cạnh tranh, truy cập  ngày 20/01/2026, https://bcsi.edu.vn/tin-tuc/so-huu-tri-tue/trao-luu-cho-vay-the-chap-bang-tai-san-tri-tue.html.

Trần Đại Dương (Trường Kinh tế, ĐH Bách Khoa, email: duong.trandai@hust.edu.vn); Vũ Thị Hồng Hà (Trường ĐH Luật Hà Nội, email: vuthihongha04.hlu@gmail.com)

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin