Bảo vệ doanh nghiệp tư nhân trước hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Yêu cầu hoàn thiện pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong bối cảnh thị trường hiện đại

(Pháp lý). Doanh nghiệp tư nhân giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, khu vực doanh nghiệp này đang phải đối mặt với nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp cũng như năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Tóm tắt: Doanh nghiệp tư nhân giữ vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, khu vực doanh nghiệp này đang phải đối mặt với nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp cũng như năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Trước yêu cầu cấp thiết của việc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh Việt Nam nhằm bảo vệ hiệu quả doanh nghiệp tư nhân, bài viết tập trung phân tích tác động của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với doanh nghiệp tư nhân, đồng thời chỉ ra những bất cập của pháp luật cạnh tranh hiện hành trong việc nhận diện, xử lý và áp dụng chế tài đối với các hành vi này trên thị trường liên quan. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật cạnh tranh nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ doanh nghiệp tư nhân, góp phần xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh, tự do và bình đẳng tại Việt Nam.

Từ khóa: Doanh nghiệp tư nhân, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật cạnh tranh Việt Nam, nền tảng công nghệ số, năng lực cạnh tranh, thị trường liên quan, chế tài xử phạt.

PROTECTING PRIVATE ENTERPRISES FROM UNFAIR COMPETITION: THE NEED TO IMPROVE VIETNAM’S COMPETITION LAW IN THE MODERN MARKET CONTEXT

Abstract: Private enterprises play an increasingly significant role in Vietnam’s socialist-oriented market economy, contributing substantially to economic growth, employment creation, and innovation. However, these enterprises are facing various unfair competition practices that seriously undermine their legitimate rights and interests, competitiveness, and sustainable development. In response to the urgent need to improve Vietnam’s competition law to enhance the protection of private enterprises, this article analyzes the impacts of unfair competition practices on private enterprises and identifies the shortcomings of the current competition law framework in detecting, regulating, and sanctioning such practices in the relevant market. Based on this analysis, the article proposes several legal solutions to improve Vietnam’s competition law, thereby strengthening the protection of private enterprises and fostering a healthy, free, and equitable competitive environment.

Keywords: private Enterprises, unfair competition Practices, Vietnamese Competition Law, digital technology Platforms, Competitiveness, relevant Markets, Sanctions.

 

Đặt vấn đề

Trong mọi nền kinh tế, cạnh tranh là động lực thúc đẩy đổi mới, nâng cao chất lượng hàng hoá – dịch vụ và phân bổ nguồn lực hiệu quả. Đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như tại Việt Nam, cạnh tranh được xem là một động lực quan trọng thúc đẩy năng lực sáng tạo, hiệu quả sản xuất – kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, bao gồm cả khu vực nhà nước và tư nhân. Tuy nhiên, để cạnh tranh thực sự phát huy mặt tích cực, thể hiện giá trị thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế khi được đặt trong khuôn khổ pháp luật minh bạch và được thực thi hiệu quả trong thị trường lành mạnh, bình đẳng.

Tại Việt Nam, khu vực kinh tế tư nhân đang ngày khẳng định vị thế quan trọng của tăng trưởng kinh tế quốc gia với đóng góp 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước, sử dụng hơn 80% tổng số lao động trên thị trường[1]. Đây là khối kinh tế được đánh giá là lực lượng thiết yếu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao hiệu suất lao động và phát triển thị trường lao động, gia tăng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói riêng và năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung. Tuy nhiên thực tế thì các doanh nghiệp tư nhân vẫn đang phải đối mặt với nhiều rào cản, kìm hãm sự phát triển năng lực cạnh tranh. Với đặc điểm của các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam hiện nay đều có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa nên việc phát triển năng lực cạnh tranh càng trở nên khó khăn. Ngoài những bất lợi về vốn và các yếu tố liên quan thì những tác động của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ chính các đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan cũng khiến các doanh nghiệp tư nhân bị ảnh hưởng, suy yếu, thiệt hại.

 

1-1770280102.jpg

Luật Cạnh tranh năm 2004, mới nhất là Luật Cạnh tranh năm 2018, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2019 đã xây dựng cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm với thẩm quyền xử lý vi phạm thuộc về Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia. Tuy nhiên sau một thời gian dài thực thi thì Luật canh trạnh năm 2018 vẫn bộc lộ những bất cập trong việc bảo vệ hiệu quả các doanh nghiệp tư nhân trước tác động tiêu cực to lớn của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan.

1. Tác động của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường liên quan đối với các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam

Cạnh tranh là quá trình mà các doanh nghiệp tiến hành cơ cấu và phân bổ hiệu quả các nguồn lực mà doanh nghiệp đang sở hữu để thực hiện hoạt động kinh doanh trên thị trường liên quan nhằm đặt được những mục tiêu nhất định mà doanh nghiệp đề ra như phân khúc khách hàng, hệ thống phân phối, thị phần, lợi nhuận. Trong kinh tế thị trường, cạnh tranh là một động lực thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới, gia tăng hiệu suất kinh doanh một cách hiệu quả.

Theo Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng. Như vậy, cạnh tranh không lành mạnh khác với cạnh tranh lành mạnh khi hoạt động này không dựa trên năng lực sản xuất, chất lượng dịch vụ, mà dựa trên những hành vi gây tổn hại tới đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan.

Pháp luật cạnh tranh quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm[2], bao gồm: Xâm phạm thông tin bí mật kinh doanh; Cung cấp thông tin không trung thực gây ảnh hưởng xấu tới uy tín, tình trạng tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác; Ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó; Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác làm gián đoạn hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp đó; Lôi kéo khách hàng bất chính; Bán phá giá để loại bỏ doanh nghiệp khác khỏi thị trường liên quan.

Đây là những hành vi này nhằm tạo lợi thế cạnh tranh không công bằng do không dựa trên năng lực cạnh tranh thực sự của các doanh nghiệp với những nguồn lực hiện có. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh này không chỉ ảnh hưởng tới doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp với tư cách là đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan mà còn làm giảm mức độ tin tưởng của nhà đầu tư và người tiêu dùng đối với thị trường, đồng thời kìm hãm sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Khi doanh nghiệp tư nhân bị thiệt hại, khả năng tạo việc làm suy giảm, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển kinh tế nói chung.

Doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam thường có quy mô siêu nhỏ, nhỏ và vừa với nguồn lực tài chính và nhân sự thường hạn chế hơn so với doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp nước ngoài có vốn đầu tư lớn. Khi đối diện với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, doanh nghiệp tư nhân thường gặp khó khăn trong việc: Tốc độ phản ứng chậm trước sự vụ: Thiếu nhân lực pháp lý và kinh nghiệm khiến doanh nghiệp khó chứng minh hành vi vi phạm nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của mình bị xâm hại một cách kịp thời; Thiệt hại về tài chính: thiệt hại về doanh thu và thị phần của doanh nghiệp, gia tăng chi phí phát sinh khi tiến hành khiếu nại, tố cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp; gia tăng chi phí quảng cáo nhằm cải chính thông tin và thu hút khách hàng; Ảnh hưởng uy tín: suy giảm uy tín từ khách hàng, đối tác, nhà đầu tư; Thiệt hại về nguồn nhân lực: khó tiếp cận, giữ chân nguồn nhân lực có chất lượng cao; Ảnh hưởng tới chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp: do doanh nghiệp phải điều chỉnh chiến lược cạnh tranh cho phù hợp với hoàn cảnh bị ảnh hưởng bởi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh tác động trước mắt khiến tính tối ưu bị suy giảm do mang tâm thế đối phó sự vụ, chiến lược nghiên cứu và phát triển sản phẩm mang tính sáng tạo khác biệt bị cắt giảm.

2. Những bất cập của các quy định pháp luật cạnh tranh Việt Nam hiện nay

Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm tại chương VI, trong đó trọng tâm là những hành vi tác động trực tiếp đến “tài sản có tính cạnh tranh cao” của doanh nghiệp: uy tín, thông tin bí mật kinh doanh, quan hệ kinh doanh với khách hàng và đối tác, dấu hiệu nhận diện thương mại của doanh nghiệp, tính trung thực của thông tin doanh nghiệp. Điều này đặc biệt quan trọng với doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ, siêu nhỏ do các doanh nghiệp này xây dựng và giữ vững năng lực cạnh tranh của mình chủ yếu dựa vào uy tín, tệp khách hàng trung thành, bí quyết kinh doanh và tính khác biệt hơn là ưu thế về vốn hay vị thế thống lĩnh, độc quyền thị trường như các doanh nghiệp lớn trên thị trường liên quan.

* Trên thực tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh được các đối thủ cạnh tranh sử dụng sẽ gây ra tác động tiêu cực rất nhanh đối với các doanh nghiệp tư nhân do dễ thực hiện trong khi cơ chế thực thi pháp luật cạnh tranh thông qua quá trình tố tụng hành chính hay tố tụng dân sự còn chậm, thời gian kéo dài khiến việc kịp thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cũng như ngăn chặn các thiệt hại tài chính phát sinh của các doanh nghiệp tư nhân là điều không thể.

Trước đây, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể được nhìn nhận thông qua các minh chứng như tài liệu quảng cáo, nhãn mác sản phẩm gây nhầm lẫn, biển hiệu, hợp đồng phân phối... Tuy nhiên đối với nền tảng kinh tế số hiện nay thì các hành vi cạnh tranh không lành mạnh diễn ra phức tạp, tinh vi và rất khó để tìm minh chứng trên các nền tảng công nghệ số như: Hành vi thao túng thuật toán về kết quả tìm kiếm, nội dung tìm kiếm trên các nền tảng công nghệ thông dụng với người tiêu dùng; Hành vi mạo danh lập nhiều tài khoản ảo nhằm tạo các số liệu điều tra, đánh giá, bình luận của khách hàng với thông tin chưa chính xác hoặc chưa được kiểm chứng; Hành vi mua dịch vụ quảng cáo từ khóa gắn với thương hiệu đối thủ; Hành vi lập các trang web đưa thông tin giả về doanh nghiệp tư nhân với các lượt đánh giá, bình luận phản ánh sai lệch thông tin về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân; Hành vi sử dụng công nghệ để tấn công kỹ thuật gây rò rỉ dữ liệu, bí mật kinh doanh, tên miền hoặc tên thương mại của doanh nghiệp trên các nền tảng công nghệ số...[3]

Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh này trên thực tế sẽ khó chứng minh hoặc truy tìm để xác thực nguồn thông tin là khó khăn khi các minh chứng này dễ xóa, khó xác thực, việc lưu trữ thuộc các nền tảng công nghệ số xuyên biên giới. Chưa kể trên thực tế, các doanh nghiệp tư nhân thường thiếu năng lực và kinh nghiệm trong việc thu thập, bảo quản chứng cứ số, minh chứng thiệt hại khi chính doanh nghiệp phải có nghĩa vụ chứng minh hành vi vi phạm, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả

Bên cạnh đó, với tốc độ công nghệ số như hiện nay thì tốc độ lan truyền thông tin rất nhanh chóng khiến thiệt hại của các doanh nghiệp bị ảnh hưởng ngay lập tức, khó phục hồi, khó ứng phó xử lý kịp thời. Ngay khi xuất hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên các nền tảng công nghệ số thì điều mà các doanh nghiệp tư nhân cần thực hiện ngay tức khắc như gỡ bỏ nội dung thông tin chưa kiểm chứng, dừng sử dụng dấu hiệu gây nhầm lẫn về thương hiệu, ngăn chặn sự lan truyền bí mật kinh doanh hay các thông tin gây ảnh hưởng tới uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp… Tuy nhiên, cơ quan thực thi cạnh tranh là Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia lại khó có thể phản ứng và đồng hành với doanh nghiệp tư nhân một cách nhanh chóng, kịp thời để ngăn chặn thiệt hại cho doanh nghiệp khi mà thủ tục tố tụng cạnh tranh cần thời gian xác minh, điều tra. Bên cạnh đó, việc doanh nghiệp tư nhân khởi kiện ra Tòa Dân sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời lại khó khăn khi cần chính doanh nghiệp phải tự chứng minh yếu tố “nguy cơ thiệt hại không thể khắc phục”.

Bên cạnh đó, Nghị định 75/2019/NĐ-CP quy định chế tài xử phạt hành chính áp dụng sau khi đã chứng minh được hành vi vi phạm xảy ra, chứ chưa có biện pháp áp dụng khẩn cấp tạm thời trong việc cho phép cơ chế “can thiệp sớm” để giảm thiệt hại cho phía doanh nghiệp tư nhân.

* Chế tài xử phạt hành chính chưa thật sự hiệu quả trong việc răn đe, ngăn ngừa các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm trong một số trường hợp nhất định. Nghị định 75/2019/NĐ-CP quy định mức phạt tối đa 2 tỷ đồng đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể răn đe hiệu quả với một số doanh nghiệp nhỏ, nhưng có thể trở thành “chi phí kinh doanh” hợp lý đối với các doanh nghiệp lớn, có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền trên thị trường hoặc lợi ích thu được của doanh nghiệp từ hành vi cạnh tranh không lành mạnh đó lớn hơn rất nhiều so với mức phạt trần 2 tỷ đồng trong lĩnh vực lợi nhuận cao (thương mại điện tử, quảng cáo số, phân phối độc quyền…). Khi lợi ích thu được vượt xa chi phí bị phạt như tại các ngành quảng cáo trên nền tảng công nghệ số, thương mại điện tử, phân phối độc quyền…sẽ khiến các hành vi cạnh tranh không lành mạnh có xu hướng lặp lại dưới hình thức tinh vi hơn.

* Khởi kiện yêu cầu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo thủ tục tố tụng dân sự ít được doanh nghiệp tư nhân lựa chọn bởi quy trình phức tạp, chi phí chưa hợp lý, nhiều yếu tố như lượng hóa thiệt hại hay mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế của doanh nghiệp rất khó chứng minh, thời gian tiến hành thủ tục tố tụng kéo dài. Điều này về nguyên tắc là quyền của doanh nghiệp tư nhân nhưng lại khó khăn khi thực hiện trên thực tế khiến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp tư nhân bị ảnh hưởng rất nhiều, chưa được bảo vệ đúng mức.

2-1770280092.jpg

Ảnh minh họa

3. Một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật cạnh tranh Việt Nam nhằm bảo vệ các doanh nghiệp tư nhân trước tác động tiêu cực của hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường liên quan

Thứ nhất, cần hoàn thiện khái niệm và tiêu chí nhận diện hành vi cạnh tranh không lành mạnh , nhất là trong môi trường số. Trong đó, cần: Bổ sung các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đặc thù trong môi trường số như các hành vi thao túng đánh giá, xếp hạng sản phẩm trên các nền tảng thương mại điện tử, các nền tảng công nghệ số; hành vi sử dụng phần mềm, công nghệ để cản trở hoạt động kinh doanh trực tuyến của đối thủ cạnh tranh; hành vi chiếm dụng trái phép dữ liệu kinh doanh của đối thủ cạnh tranh; Chuẩn hoá tiêu chí “gây nhầm lẫn”, “không trung thực” thông qua các văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể về đánh giá mức độ tương đồng “gây nhầm lẫn”, “không trung thực” trong quảng cáo, nhận diện thương hiệu trên các nền tảng số; Hướng dẫn cụ thể các hành vi bôi nhọ, gièm pha trên nền tảng số cũng như tiêu chí xác định thông tin sai sự thật hay thông tin không được kiểm chứng; Định lượng tiêu chí đánh giá “người tiêu dùng trung bình” trong môi trường số, cơ chế điều tra nội dung quảng cáo và nhà tài trợ nội dung quảng cáo.[4]; Hướng dẫn rõ các “biện pháp bảo mật hợp lý” trong doanh nghiệp vừa và nhỏ với tiêu chuẩn kỹ thuật xác định nhằm đảm bảo doanh nghiệp tư nhân có thể chứng minh được việc doanh nghiệp tư nhân đã áp dụng các biện pháp bảo mật đạt chuẩn mà vẫn bị đối thủ cạnh tranh xâm phạm.

Thứ hai, cần tạo dựng cơ sở pháp lý đối với việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khẩn cấp tạm thời có tính chất ngăn ngừa, giảm thiểu thiệt hại cho các doanh nghiệp tư nhân bị ảnh hưởng từ hành vi cạnh tranh không lành mạnh của đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan. Điều này cho phép Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia áp dụng hoặc đề nghị áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong phạm vi nhất định như yêu cầu dừng phát tán nội dung sai lệch, tạm dừng sử dụng dấu hiệu gây nhầm lẫn, bảo toàn chứng cứ…, nhằm hạn chế thiệt hại cho doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt khi các thông tin được lan truyền nhanh chóng trên các nền tảng công nghệ số.

Bên cạnh đó, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cũng cần có những hướng dẫn cách ước tính thiệt hại của doanh nghiệp tư nhân khi bị hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ảnh hưởng trực tiếp. Thông thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp tư nhận xuất phát từ việc doanh thu suy giảm vì lượng khách hàng giảm sút đáng kể, uy tín trên thị trường liên quan bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cơ hội hợp tác kinh doanh với các nhà đầu tư truyền thống hoặc tiềm năng theo ngành dọc bị mất. Điều này có thể được ước tính dựa trên doanh thu trước–sau của doanh nghiệp tư nhân bị thiệt hại, chi phí khôi phục thương hiệu và uy tín doanh nghiệp, chi phí marketing để cải chính thông tin, hoặc lợi nhuận bất chính của bên vi phạm.

Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan Nhà nước quản lý về thông tin – truyền thông, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, cơ quan Nhà nước quản lý về an ninh mạng để chia sẻ thông tin, phối hợp điều tra, xử lý nhanh các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh trên các nền tảng công nghệ số. Trong thời đại của nền kinh tế số thì đa số chứng cứ được lư trữ tại các nền tảng công nghệ số. Nếu không có cơ chế yêu cầu lưu giữ dữ liệu, cung cấp logo, xác thực danh tính tài khoản quảng cáo, thì việc tiến hành điều tra các hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ vô cùng khó khăn.

Bên cạnh đó, Tòa án khi tiếp nhận vụ kiện dân sự của doanh nghiệp tư nhân về yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể xem xét công nhận giá trị của quyết định xử phạt hành chính do Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ban hành nhằm rút ngắn thời gian và chi phí hợp lý nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp tư nhân khi phát sinh thiệt hại từ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của đối thủ trên thị trường liên quan.

Thứ tư, các quy định về xử phạt hành chính đối hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm cần được nâng cao hơn nữa về các mức phạt nhằm tăng hiệu quả trong việc răn đe, ngăn ngừa các hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, các quy định pháp luật cạnh tranh hiện nay cần: Gắn mức phạt theo tỷ lệ với các khoản doanh thu hoặc lợi ích bất chính do gây hậu quả nghiêm trọng từ hành vi cạnh tranh không lành mạnh  thay vì mức phạt trần tuyệt đối 2 tỷ đối với mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm; Quy định áp dụng biện pháp cải chính, thu hồi các thông tin không chính xác về doanh nghiệp tư nhân trên các nền tảng số; Xem xét quy định áp dụng bổ sung các biện pháp như tạm đình chỉ hoạt động quảng cáo hay khuyến mại đối với doanh nghiệp tư nhân vi phạm trong thời hạn nhất định; hạn chế hoặc cấm tham gia các chương trình xúc tiến thương mại do nhà nước tài trợ có thời hạn nhất định; quy định áp dụng chế tài xử phạt bổ sung trong trường hợp vi phạm cố ý, nghiêm trọng; Cải thiện thủ tục xử lý tranh chấp cạnh tranh theo hướng rõ ràng, đơn giản, nhanh chóng, tiết kiệm thời gian với chi phí hợp lí mang tính hỗ trợ cho các doanh nghiệp tư nhân có quy mô siêu nhỏ và nhỏ.

Thứ năm, nâng cao năng lực cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thông qua việc tăng cường cán bộ chuyên trách là chuyên gia công nghệ thông tin để xử lý điều tra đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên nền tảng kinh tế số cũng như yêu cầu sự phối hợp từ doanh nghiệp sở hữu nền tảng số trong quá trình điều tra.[5] Điều này đòi hỏi sự đầu tư trang thiết bị, công cụ giám sát và kỹ năng phân tích thị trường số.

Thứ sáu, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cần công bố minh bạch các quyết định xử lý các vụ việc về hành vi cạnh tranh không lành mạnh của doanh nghiệp tư nhân như tài liệu tham khảo giúp doanh nghiệp tư nhân tự tra cứu để phòng ngừa, quản trị tuân thủ pháp luật cạnh tranh nghiêm chỉnh hơn.

Thứ bảy, cần thành lập Ban hỗ trợ doanh nghiệp trực thuộc Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia với chức năng hỗ trợ, tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp trực tuyến thực hiện quyền tố cáo, chuẩn bị chứng cứ số và theo dõi vụ việc cập nhật nhằm kịp thời đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp tư nhân bị ảnh hưởng bởi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan. Ban tư vấn hướng dẫn khuyến khích doanh nghiệp tư nhân khởi kiện yêu cầu áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại tại Tòa Dân sự bên cạnh việc tố cáo hành vi cạnh tranh không lành mạnh để áp dụng chế tài xử phạt hành chính tại Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.

Thứ tám, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cần tăng cường tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật về cạnh tranh nói chung và pháp luật về chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh nói riêng cho các doanh nghiệp tư nhân. Qua đó khuyến nghị các doanh nghiệp nói chung cần nghiêm túc thực hiện tuân thủ pháp luật và cam kết chấm dứt hành vi vi phạm và khắc phục hậu quả cần thiết. Điều này giúp các doanh nghiệp tư nhân cũng tự nâng cao ý thức tự bảo vệ mình hơn, giúp giảm thiệt hại cho doanh nghiệp tư nhân một cách đáng kể và kịp thời xử lý ngay khi hành vi vi phạm được phát hiện. Đây là cách tiếp cận hoàn toàn phù hợp với xu hướng quản trị tuân thủ pháp luật hiện đại trong việc ưu tiên khắc phục hậu quả kinh tế bên cạnh việc áp dụng các chế tài hành chính và chế tài hình sự.

Kết luận

Việc hoàn thiện pháp luật cạnh tranh để bảo vệ hiệu quả DNTN trước hành vi CTKLM không chỉ là yêu cầu cấp thiết xuất phát từ thực tiễn mà còn là đòi hỏi tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế trong xu hướng chuyển đổi số. Luật Cạnh tranh năm 2018 đã đánh dấu một bước tiến so với Luật Cạnh tranh năm 2004 nhưng trải qua gần 10 năm thực thi đã xuất hiện nhiều bất cập so với thực tiễn.

Để pháp luật thực sự trở thành công cụ hỗ trợ và quản lý hiệu quả của Nhà nước thì cần hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng cụ thể hơn, đặc biệt cho môi trường số; nâng cao năng lực thực thi của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia và các chế tài xử phạt; và nâng cao năng lực nhận thức, tự bảo vệ của chính các doanh nghiệp tư nhân. Khi đó, môi trường cạnh tranh tại Việt Nam mới thực sự lành mạnh, công bằng, nơi mọi doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân - "động lực quan trọng của nền kinh tế" - có thể phát triển bền vững dựa trên năng lực cạnh tranh thực tế từ đổi mới sáng tạo sản phẩm đến hiệu suất kinh doanh tăng trưởng.

-----------------------

Tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân

2. Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14

3. Nghị định 35/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Cạnh tranh

4. Nghị định 75/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy đinh về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực cạnh tranh

5. Bộ Công Thương, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (VCC), Báo cáo thường niên năm 2023, 2024

6. Bundesministerium der Justiz (Germany), Gesetz gegen den unlauteren Wettbewerb (UWG) - Act against Unfair Competition

7. European Commission , Directive 2005/29/EC Concerning unfair business-to-consumer commercial Practices in the Internal market, 2005

8. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD), Competition in Digital Markets: A Briefing Paper by the Secretariat, 2021

9. Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD), OECD Peer Reviews of Competition Law and Policy: Viet Nam, 2018


[1] Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân

[2] Điều 45 Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14

[3] Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD), Competition in Digital Markets: A Briefing Paper by the Secretariat, 2021

[4] Chỉ thị 2005/29/EC của EU

[5] Organisation for Economic Co-operation and Development (OECD), OECD Peer Reviews of Competition Law and Policy: Viet Nam, 2018

TS. Nguyễn Lan Anh

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin