
Viện trưởng VKSND tối cao Việt Nam Nguyễn Huy Tiến (bên trái) và ông Murali Pillai, Bộ trưởng Bộ Pháp luật Singapore ký Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam - Singapore ngày 28/10/2024
1. Cơ sở tương trợ tư pháp về hình sự giữa các quốc gia Asean
1.1. Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các nước ASEAN
Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các nước ASEAN ra đời ngày 29/11/2004 trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xu thế toàn cầu hóa, trên thế giới nói chung và khu vực ASEAN nói riêng đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của các tội phạm xuyên quốc gia. Những loại tội phạm này không chỉ ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên quốc tế, trong khu vực mà còn đe dọa trực tiếp đến sự phát triển kinh tế và xã hội của mỗi quốc gia thành viên. Mặt khác, ASEAN là khu vực có hệ thống pháp luật đa dạng, các quốc gia thành viên đều có sự khác biệt với nhau, vì vậy đã tạo ra những hạn chế trong việc giải quyết vụ án hình sự. Do đó, để đối phó có hiệu quả với các loại tội phạm, giúp các vụ án hình sự được giải quyết một cách triệt để, đúng quy định pháp luật thì các quốc gia phải có sự hợp tác với nhau thông qua con đường tương trợ tư pháp.
Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các quốc gia ASEAN gồm 32 điều, đề cập đến các vấn đề pháp lý cơ bản như phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự, hình thức và nội dung yêu cầu tương trợ, việc thực hiện yêu cầu tương trợ, vấn đề bảo mật và hạn chế sử dụng chứng cứ thu thập được…, cụ thể:
- Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự:
Các quốc gia thành viên phải dành cho nhau các biện pháp tương trợ tư pháp rộng rãi nhất phù hợp với luật pháp quốc gia và Hiệp định trong việc điều tra, truy tố và thủ tục tố tụng tiếp theo, như: Thu thập, cung cấp chứng cứ hoặc trợ giúp trong các vấn đề hình sự; Tống đạt giấy tờ, tài liệu tư pháp; Tiến hành khám xét, thu giữ; Cung cấp bản gốc hoặc bản sao có xác nhận tài liệu, hồ sơ, chứng cứ có liên quan; Xác định hoặc truy tìm tài sản do phạm tội mà có và phương tiện phạm tội; Hạn chế giao dịch đối với tài sản hoặc phong tỏa tài sản có được từ việc thực hiện tội phạm có thể bị thu hồi hoặc tịch thu; Thu hồi, tịch thu tài sản do phạm tội mà có;... Các hình thức tương trợ khác theo thỏa thuận và phù hợp với mục đích của Hiệp định này và pháp luật của quốc gia được yêu cầu.
Phạm vi tương trợ chỉ áp dụng đối với việc tương trợ giữa các quốc gia thành viên trong ASEAN. Các quy định của Hiệp định này không tạo ra bất cứ quyền nào cho một cá nhân trong việc thu thập, ngăn cản hoặc cản trở việc đưa ra hoặc loại bỏ bất kỳ chứng cứ nào hoặc cản trở việc thực hiện các yêu cầu tương trợ. Tuy nhiên, do đặc thù của từng quốc gia thành viên trong ASEAN nên có một số vấn đề pháp lý không được Hiệp định điều chỉnh như: Bắt hoặc giam giữ một người nhằm mục đích dẫn độ người đó; Thi hành bản án hình sự của quốc gia yêu cầu tại quốc gia được yêu cầu, trừ trong phạm vi được pháp luật của quốc gia được yêu cầu cho phép; Chuyển giao người bị giam giữ để thi hành hình phạt; và Chuyển giao vụ án hình sự.
Thêm vào đó, Hiệp định này không cho phép bất cứ quốc gia thành viên nào thực hiện trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia thành viên khác quyền tài phán hay các chức năng thuộc thẩm quyền tuyệt đối của các cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên khác theo quy định của pháp luật của quốc gia đó. Quy định này nhằm nhấn mạnh và đề cao việc tôn trọng nguyên tắc chủ quyền quốc gia trong quan hệ quốc tế. Ngoài ra, Hiệp định này còn ghi nhận quyền từ chối tương trợ tư pháp của quốc gia thành viên được yêu cầu.
- Cơ quan đại diện quốc gia thực hiện tương trợ tư pháp:
Mỗi quốc gia thành viên phải chỉ định một Cơ quan trung ương để gửi và nhận yêu cầu tương trợ theo Hiệp định này. Các cơ quan trung ương liên hệ trực tiếp với nhau hoặc có thể lựa chọn hình thức liên hệ thông qua đường ngoại giao. Do đó, cơ quan trung ương thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự ở mỗi quốc gia ASEAN là các cơ quan khác nhau tùy theo sự phân công và hệ thống pháp luật của mỗi nước. Ví dụ ở Việt Nam và Lào đều là Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ở Indonesia là Bộ Pháp luật và Nhân quyền, còn ở Singapore là Bộ pháp luật,…
- Hình thức yêu cầu tương trợ:
Yêu cầu tương trợ tư pháp phải được gửi dưới hình thức bằng văn bản. Hoặc có thể gửi bằng bất kỳ phương tiện nào có khả năng tạo ra một bản sao cho phép quốc gia được yêu cầu chứng thực được. Ngoài ra, trong trường hợp khẩn cấp, hoặc trong trường hợp mà pháp luật của quốc gia được yêu cầu cho phép, yêu cầu tương trợ có thể bằng lời nói nhưng phải được chuyển sang bằng văn bản trong thời hạn 5 ngày.
Nội dung yêu cầu tương trợ về hình sự phải bao gồm các thông tin gồm: tên của cơ quan yêu cầu và cơ quan có thẩm quyền tiến hành điều tra hoặc thủ tục tố tụng hình sự liên quan, mục đích và tính chất của yêu cầu, mô tả về tính chất vấn đề hình sự, tình trạng hiện tại của vụ án và các yếu tố pháp lý liên quan, mô tả tội phạm và mức hình phạt, các yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi hoặc sự việc cần xác minh, chứng cứ và thông tin cần thiết, lý do và điều kiện thủ tục đặc biệt cần tuân theo, thời hạn thực hiện yêu cầu, yêu cầu bảo mật và những cam kết khác theo yêu cầu pháp luật của quốc gia được yêu cầu. Ngoài ra, có thể bao gồm các thông tin như đặc điểm nhận dạng và nơi ở của đối tượng điều tra, người cần thu thập chứng cứ, người nhận giấy tờ, cách thức tống đạt giấy tờ, các câu hỏi cho người làm chứng, tài liệu, hồ sơ, chứng cứ cần thu thập, và lệnh của Tòa án.
Để thống nhất và thuận tiện cho việc trao đổi thì tất cả các yêu cầu và tài liệu kèm theo phải được lập bằng tiếng Anh và nếu có thể, kèm theo bản dịch sang tiếng của quốc gia được yêu cầu.
Các cơ quan trung ương sẽ là các cơ quan đại diện thực hiện chuyển toàn bộ các yêu cầu và văn bản, thư từ kèm theo. Trong trường hợp khẩn cấp và được pháp luật của quốc gia được yêu cầu cho phép, yêu cầu và mọi tài liệu, thư từ kèm theo có thể được chuyển thông qua Tổ chức Cảnh sát quốc tế (Interpol) hoặc Tổ chức Cảnh sát Đông Nam Á (Aseanapol).
- Thực hiện yêu cầu tương trợ:
Yêu cầu tương trợ phải được thực hiện ngay theo cách thức do pháp luật và thực tiễn của quốc gia được yêu cầu quy định, nhưng sẽ thực hiện yêu cầu tương trợ theo cách thức mà quốc gia yêu cầu đã nêu, trong phạm vi pháp luật và thực tiễn cho phép. Điều này đảm bảo rằng các quốc gia đều tuân thủ các quy định pháp lý nội bộ trong khi vẫn đáp ứng được các yêu cầu của đối tác.
Thêm vào đó, Quốc gia được yêu cầu có thể thu xếp để Quốc gia yêu cầu tham gia vào các thủ tục tố tụng hình sự phát sinh từ yêu cầu tương trợ hoặc đại diện cho lợi ích của Quốc gia yêu cầu, nhưng phải trong phạm vi được pháp luật và tình hình thực tiễn cho phép. Quốc gia được yêu cầu cũng phải đảm bảo rằng tiến độ thực hiện các yêu cầu tương trợ sẽ được đáp ứng một cách kịp thời, nhằm đảm bảo tiến trình giải quyết vụ án không bị gián đoạn hoặc kéo dài.
Ngoài ra, Quốc gia được yêu cầu phải giữ bí mật về yêu cầu tương trợ, nội dung yêu cầu, tài liệu kèm theo yêu cầu, việc tương trợ cũng như những hành động được tiến hành theo yêu cầu đó.

Ảnh minh hoạ
1.2. Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam với một số quốc gia ASEAN
Hiện nay Việt Nam đã ký các Hiệp định tương trợ tư pháp song phương về hình sự với 4 quốc gia ở ASEAN lần lượt là Indonesia, Lào, Campuchia và Singapore. Trong đó, Indonesia là quốc gia thuộc ASEAN đầu tiên mà Việt Nam ký kết Hiệp định tương trợ tư pháp song phương về hình sự. Mỗi Hiệp định song phương sẽ có những đặc điểm riêng nhất định, nhưng nhìn chung đều phải tuân thủ và dựa trên khuôn khổ các điều ước quốc tế và Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các nước ASEAN.
- Việt Nam và Indonesia:
Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và Indonesia được ký kết vào ngày 27/6/2013, có hiệu lực từ ngày 22/01/2016. Đây là một thỏa thuận quan trọng giữa hai quốc gia nhằm mở rộng tối đa các biện pháp hợp tác trong điều tra, truy tố và xét xử tội phạm cũng như truy tìm, phong tỏa, tạm giữ hoặc tịch thu tài sản do phạm tội mà có, cũng như công cụ, phương tiện phạm tội thông qua tương trợ tư pháp về hình sự. Hiệp định này gồm 25 Điều, quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự giữa hai quốc gia.
Phạm vi tương trợ của Hiệp định này được xây dựng theo khuôn khổ phạm vi của Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự giữa các quốc gia ASEAN. Ngoài ra, phạm vi tương trợ còn được mở rộng bao hàm cả tội phạm về thuế, nghĩa vụ hải quản và quản lý ngoại hối hoặc các vấn đề về thu nhập khác. Tuy nhiên, Hiệp định này lại từ chối áp dụng việc: Bắt hoặc tạm giam một người vì mục đích dẫn độ người đó; Chuyển giao người đang bị giam giữ để thi hành án; và chuyển giao thủ tục tố tụng hình sự.
Về cơ quan trung ương đại diện trực tiếp thực hiện việc tương trợ thì ở Việt Nam là Viện kiểm sát nhân dân tối cao, còn ở Indonesia là Bộ Pháp luật và Nhân quyền. Việc liên hệ sẽ được thực hiện trực tiếp giữa hai cơ quan này hoặc qua kênh ngoại giao.
Yêu cầu tương trợ phải lập thành văn bản hoặc có thể lập bằng hình thức khác trong trường hợp khẩn cấp nhưng ngay sau đó phải được xác lập bằng văn bản. Ngôn ngữ được thể hiện bằng Tiếng Anh và có thể kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ khác theo sự chấp nhận của Bên được yêu cầu. Nội dung của yêu cầu tương trợ phải nêu rõ: Thông tin cơ quan thực hiện thủ tục tố tụng liên quan đến yêu cầu tương trợ; Mục đích và nội dung yêu cầu tương trợ; Mô tả bản chất của vụ việc và tiến độ giải quyết, tóm tắt nội dung, các tình tiết có liên quan và trích dẫn pháp luật áp dụng; Mức độ và lý do bảo mật; Thời hạn mong muốn thực hiện yêu cầu; và các thông tin hoặc cam kết cần thiết khác.
Ngoài ra yêu cầu tương trợ có thể có thêm các nội dung về: Nhận dạng, quốc tịch và nơi cư trú của đối tượng trong vụ án hình sự; Chi tiết về thủ tục hoặc yêu cầu cụ thể cần phải tuân thủ và lý do cho việc này; Đối với yêu cầu thu thập chứng cứ của một người thì phải đưa ra căn cứ và mô tả chi tiết về chứng cứ hoặc lời khai cần thu thập; Mô tả về chứng cứ cần được cung cấp. Bên cạnh đó, trong 02 trường hợp đặc biệt là: (i) Đối với các yêu cầu về thu thập chứng cứ, khám xét và thu giữ, hoặc truy tìm, phong tỏa, tạm giữ và tịch thu tài sản do phạm tội mà có, công cụ phương tiện phạm tội thì phải nêu rõ thông tin hoặc căn cứ xác định sự tồn tại của các yêu cầu; (ii) Trong trường hợp tạo điều kiện cho người bị giam giữ có mặt để cung cấp chứng cứ hoặc hỗ trợ điều tra thì phải chỉ dẫn về một người hoặc nhóm người sẽ bị giam giữ trong quá trình chuyển giao, địa điểm ở và thời gian dự kiến trao trả.
Tuy nhiên không phải mọi yêu cầu tương trợ đều được chấp nhận mà có thể bị từ chối tuyệt đối hoặc có thể bị từ chối tương đối. Trong đó từ chối tương đối là thuộc trường hợp: (i) Gây phương hại đến sự an toàn của bất kỳ người nào; (ii) Thuộc trường hợp từ chối điều tra, truy tố hay trừng phạt theo quy định của bên được yêu cầu.
Về việc thực hiện: Yêu cầu tương trợ tư pháp phải được thực hiện ngay khi có yêu cầu. Tuy nhiên, việc thực hiện có thể bị hoãn nếu việc thực hiện gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử đang tiến hành ở bên được yêu cầu.
Ngoài những nội dung nêu trên thì Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự giữa Việt Nam vào Indonesia còn đề cập đến các vấn đề tương trợ khác như quy định về thu thập, cung cấp chứng cứ; thủ tục tống đạt giấy tờ, khám xét và thu giữ, sự có mặt trong quá trình thực hiện yêu cầu, chuyển giao người đang bị giam giữ, điều tra lại, đảm bảo an toàn, xử lý tài sản do phạm tội mà có, công cụ phương tiện phạm tội, bảo mật và giới hạn sử dụng,…
- Việt Nam và Lào:
Hiệp định tương trợ tư pháp về Hình sự giữa Việt Nam và Lào được ký kết vào ngày 08/01/2020. Đây là một thỏa thuận quan trọng giữa hai quốc gia nhằm tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tư pháp hình sự, bảo đảm việc thực thi các nghĩa vụ pháp lý giữa hai nước khi có các vụ việc liên quan đến hình sự, đặc biệt là trong trường hợp có yêu cầu hỗ trợ điều tra, truy tố, xét xử, hoặc thi hành án. Hiệp định này gồm 24 Điều, quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự giữa hai quốc gia.
Mục đích của Hiệp định là tạo ra cơ chế hợp tác tối đa, chặt chẽ trong các vấn đề về hình sự nhưng vẫn đảm bảo sự phù hợp với quy định pháp luật của mỗi bên.
Phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và Lào gồm: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu; Triệu tập người làm chứng và người giám định; Thu thập chứng cứ và lấy lời khai; Chuyển giao truy cứu trách nhiệm hình sự; Chuyển giao tạm thời người đang chấp hành hình phạt tù tại Bên được yêu cầu đến Bên yêu cầu để hỗ trợ điều tra hoặc cung cấp chứng cứ; Tổ chức đưa người khác hỗ trợ điều tra hoặc cung cấp chứng cứ tại Bên yêu cầu; Áp dụng các biện pháp nhằm truy tìm, kê biên, phong tỏa, thu giữ hoặc tịch thu tài sản do phạm tội mà có và/hoặc công cụ, phương tiện phạm tội; Trao đổi thông tin; Và các hình thức tương trợ khác phù hợp với mục đích của Hiệp định này và không trái với pháp luật của Bên được yêu cầu. Tuy nhiên, Hiệp định không áp dụng đối với: Dẫn độ, bắt hoặc giam giữ người để dẫn độ; Thi hành bản án hình sự của Bên yêu cầu ở Bên được yêu cầu, trừ những trường hợp pháp luật của Bên được yêu cầu và Hiệp định này cho phép; Chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù để tiếp tục thi hành án.
Hiệp định này cũng quy định về các trường hợp từ chối thực hiện yêu cầu tương trợ; hoãn thực hiện nếu việc thực hiện yêu cầu tương trợ cản trở các thủ tục tố tụng hình sự đang được tiến hành trên lãnh thổ của Bên được yêu cầu.
Về cơ quan đại diện liên hệ trực tiếp với nhau để thi hành Hiệp định này của 2 quốc gia đều là Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ngoài ra Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh có chung đường biên giới giữa 2 nước cũng có thể là cơ quan đại diện trong việc chuyển giao, tiếp nhận và thực hiện các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự.
Nội dung và hình thức của yêu cầu tương trợ: Yêu cầu tương trợ phải được lập thành văn bản bao gồm các thông tin như trong quy định của Hiệp dịnh tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự giữa các quốc gia ASEAN. Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, yêu cầu tương trợ có thể được lập bằng các hình thức khác nhưng sau đó phải kịp thời xác nhận bằng văn bản. Đặc biệt, ngôn ngữ sử dụng trong văn bản yêu cầu là ngôn ngữ của Quốc gia yêu cầu kèm theo bản dịch sang ngôn ngữ của quốc gia được yêu cầu hoặc ngôn ngữ khác nếu được chấp nhận.
Việc thực hiện yêu cầu tương trợ phải được thực hiện ngay theo trình tự thủ tục do bên yêu cầu đề nghị nhưng phải dựa trên sự phù hợp quy định pháp luật của nước nhận yêu cầu.
Ngoài những nội dung nêu trên thì Hiệp định tương trợ tư pháp hình sự giữa Việt Nam vào Lào còn đề cập đến các vấn đề tương trợ khác như quy định về tống đạt giấy tờ, cung cấp thông tin, thu thập chứng cứ, tương trợ thực hiện các hành vi tư pháp liên quan đến cá nhân, tài sản do phạm tội mà có, công cụ phương tiện phạm tội, bảo mật và giới hạn sử dụng,…
- Việt Nam với Singapore:
Ngày 28/10/2024, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Singapore được ký kết. Hiệp định gồm Lời nói đầu và 24 điều, quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự giữa các cơ quan có thẩm quyền hai nước. Trong đó có các nội dung cơ bản như: phạm vi tương trợ tư pháp về hình sự, hình thức và nội dung yêu cầu tương trợ, việc thực hiện yêu cầu tương trợ, vấn đề bảo mật và hạn chế sử dụng chứng cứ thu thập được, và các hoạt động tương trợ tư pháp cụ thể.
Hiệp định sẽ là công cụ pháp lý trực tiếp và đầy đủ để cơ quan tư pháp hai nước dành cho nhau sự tương trợ nhằm kịp thời trong điều tra, thu thập chứng cứ, đấu tranh có hiệu quả với các loại hình tội phạm, đặc biệt là các vụ án lừa đảo, rửa tiền xuyên quốc gia và thu hồi tài sản do phạm tội mà có. Hiệp định sẽ là cơ sở pháp lý để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mỗi nước. Điển hình như Vụ án Phó Đức Nam (Mr. Pips) lừa đảo đầu tư trên internet, qua công tác đấu tranh làm rõ, Phó Đức Nam đã gửi 1,2 triệu đô la Singapore vào ngân hàng của Singapore. Công an Thành phố Hà Nội đã phối hợp với Interpol Singapore để phong tỏa và thu giữ số tiền này.
2. Một số khó khăn trong tương trợ tư pháp giữa các quốc gia ASEAN
Bên cạnh những mặt tích cực đã và đang đạt được thì công tác tương trợ tư pháp về hình sự giữa các nước ASEAN vẫn còn tồn tại một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Thứ nhất, mặc dù đã có cơ sở pháp lý để thực hiện tương trợ tư pháp trong các vấn đề hình sự, nhưng nội dung Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các nước ASEAN lại nêu rõ việc tương trợ tư pháp về hình sự được dựa trên các quy định pháp luật và thực tiễn của các quốc gia thành viên. Trong khi hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng ở ASEAN lại rất đa dạng, mỗi quốc gia có một hệ thống pháp luật riêng, không đồng nhất, dẫn đến nhiều trường hợp xảy ra xung đột pháp luật giữa các quốc gia thành viên với nhau. Từ đó tạo ra sự hạn chế trong việc tương trợ tư pháp hình sự ở ASEAN.
Thứ hai, phạm vi và các hoạt động tương trợ trong Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự của các quốc gia ASEAN tương đối hẹp, bởi phạm vi tương trợ có giới hạn và chỉ có một số thủ tục tương trợ tư pháp được thực hiện mà chưa mở rộng sang lĩnh vực như về dẫn độ, chuyển giao người bị kết án, người đang chấp hành hình phạt tù… Đây là những thiếu sót khiến Hiệp định tương trợ của các quốc gia ASEAN hạn chế khả năng hợp tác giữa các quốc gia, chưa đạt được những kết quả, mục đích như mong đợi.
Thứ ba, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự của các quốc gia ASEAN không quy định thời hạn để trả lời và thực hiện yêu cầu tương trợ từ quốc gia được yêu cầu, vì vậy nhiều trường hợp phản hồi chậm gây ảnh hưởng đến tiến trình tố tụng giải quyết vụ án.
Thứ tư, có sự khác biệt giữa các cơ quan trung ương của các quốc gia ASEAN thực hiện trực tiếp việc tương trợ tư pháp hình sự. Tùy theo pháp luật của từng quốc gia mà chức năng nhiệm vụ của các cơ quan trung ương có sự khác nhau, một số quốc gia chọn cơ quan trung ương là Bộ Pháp luật như Singapore, Indonesia, một số quốc gia lại chọn cơ quan trung ương là Viện kiểm sát nhân dân tối cao như Việt Nam, Lào. Từ đó dẫn đến việc thiếu kết nối giữa cơ quan trung ương thực hiện tương trợ của các quốc gia với nhau.
Thứ năm, chất lượng các yêu cầu tương trợ tư pháp của một số cơ quan tố tụng vẫn còn hạn chế, xảy ra tình trạng: thiếu thông tin và tài liệu cần thiết; nội dung yêu cầu không đầy đủ, rõ ràng; ngôn ngữ không được đảm bảo..., vì vậy số lượng yêu cầu tương trợ cần được bổ sung thông tin cần thiết vẫn còn cao. Điều này cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến trình giải quyết các yêu cầu tương trợ tư pháp.
Thứ sáu, do có sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các quốc gia ASEAN nên việc áp dụng công nghệ thông tin vào hợp tác quốc tế và tương trợ tư pháp chưa được áp dụng đồng bộ, thống nhất và hiệu quả, chẳng hạn: Không có phần mềm để quản lý hồ sơ tương trợ tư pháp; việc gửi yêu cầu tương trợ tư pháp qua đường chuyển phát truyền thống cũng đang là một vấn đề hạn chế. Bởi trong thời đại số hiện nay, có nhiều phương pháp truyền đạt thông tin nhanh, gọn, đảm bảo an toàn và bảo mật nhưng chưa được áp dụng nhiều khiến việc trao đổi và làm việc giữa các quốc gia gặp khó khăn.

Dẫn độ tội phạm (ảnh minh hoạ)
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả tương trợ tư pháp về hình sự giữa các quốc gia ASEAN
Thứ nhất, các quốc gia trong ASEAN có thể nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chuẩn pháp lý chung hoặc các nguyên tắc cơ bản để hướng dẫn việc áp dụng tương trợ tư pháp trong các vụ án hình sự. Bộ tiêu chuẩn này không nhất thiết phải thay đổi hoàn toàn hệ thống pháp luật của từng quốc gia, nhưng có thể cung cấp các nguyên tắc cơ bản về việc tương trợ trong các trường hợp cụ thể, giúp giảm thiểu xung đột pháp lý. Hoặc như Việt Nam đang xây dựng và hoàn thiện Luật tương trợ tư pháp về hình sự nhằm tách bạch, chuyên biệt hóa lĩnh vực này - một hoạt động có tính phức tạp cao liên quan đến chủ quyền quốc gia, quyền con người và hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tội phạm xuyên quốc gia. Qua đó giúp giải quyết tốt các vụ án hình sự có yếu tố, nhân tố nước ngoài, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm hình sự có tổ chức xuyên biên giới, quốc gia ngày càng gia tăng, khắc phục những tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Đồng thời thiết lập các cơ chế giải quyết xung đột pháp lý khi có sự khác biệt trong quy định pháp luật giữa các quốc gia thành viên. Thêm vào đó các quốc gia thành viên ASEAN cần thúc đẩy đàm phán, ký kết và thực hiện các hiệp ước quốc tế song phương nhằm cụ thể hóa Hiệp định chung và đảm bảo khả năng áp dụng, thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp đạt hiệu quả cao.
Thứ hai, các quốc gia trong ASEAN cần tiếp tục mở rộng phạm vi và nội dung thực hiện tương trợ tư pháp, đặc biệt trong lĩnh vực dẫn độ, chuyển giao người bị kết án, người đang chấp hành hình phạt tù… nhằm đảm bảo cho các hoạt động tương trợ tư pháp trở thành các công cụ hữu hiệu, sắc bén trong phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm xuyên quốc gia.
Thứ ba, cần bổ sung quy định về thời hạn để trả lời và thực hiện yêu cầu trợ giúp từ quốc gia được yêu cầu trong Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự của các quốc gia ASEAN. Điều này sẽ đảm bảo rằng kết quả của các hoạt động trợ giúp tư pháp được sử dụng hiệu quả, kịp thời trong việc giải quyết vụ án.
Thứ tư, cần tăng cường kết nối và liên hệ giữa các cơ quan trung ương về tương trợ tư pháp liên quan đến các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp ở mỗi quốc gia, thông qua việc tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm. Nhằm làm cầu nối để giúp các cơ quan trung ương có nhiệm vụ tương trợ tư pháp hình sự của các quốc gia ASEAN hiểu rõ, phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau đạt hiệu quả cao trong việc thực hiện các công việc.
Thứ năm, cần đào tạo, nâng cao năng lực, chất lượng chuyên môn của các cán bộ nhân viên cơ quan tư pháp, cơ quan trung ương tham gia vào các hoạt động tương trợ tư pháp hình sự. Từ đó giúp cải thiện và nâng cao chất lượng các yêu cầu tương trợ tư pháp, hạn chế các vấn đề như thiếu thông tin, yêu cầu không đúng trọng tâm, không đúng phạm vi tương trợ dẫn đến việc kéo dài thời gian thực hiện ảnh hưởng tới việc giải quyết yêu cầu tương trợ tư pháp.
Thứ sáu, tăng cường áp dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc chuyên môn và quản lý hồ sơ tương trợ tư pháp. Việc tăng cường áp dụng công nghệ thông tin sẽ đóng góp vào việc nâng cao khả năng quản lý, tăng cường độ chính xác và tốc độ thực hiện không chỉ đối với các yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự mà còn có ý nghĩa đối với các yêu cầu tương trợ tư pháp trong các lĩnh vực khác.
Tóm lại, Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các quốc gia ASEAN là nền tảng quan trọng để thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia ASEAN trong việc giải quyết các vụ án thuộc lĩnh vực hình sự. Tuy nhiên, việc thực hiện Hiệp định này trên thực tế vẫn còn gặp nhiều hạn chế và chưa đạt được những kết quả cũng như mục đích mà các quốc gia trong khu vực đã đặt ra và hướng đến. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hợp tác, các quốc gia ASEAN cần phải siết chặt đoàn kết, nâng cao cơ chế hợp tác, tinh thần xây dựng và áp dụng công nghệ để tiếp tục phát triển Hiệp định tương trợ tư pháp cũng như cộng đồng chung các quốc gia ASEAN. Từ đó góp phần tạo ra một môi trường hợp tác pháp lý hiệu quả, bảo vệ an ninh, ổn định và công lý trong khu vực ASEAN.
----------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa các nước ASEAN.
2. Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nước Cộng hòa In-đô-nê-xi-a.
3. Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
4. Việt Nam và Xinh-ga-po ký Hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự, https://vksndtc.gov.vn/thong-tin/cong-tac-hop-tac-quoc-te/viet-nam-va-xinh-ga-po-ky-hiep-dinh-tuong-tro-tu-p-d20-t12577.html, truy cập ngày 30/7/2025.
5. Vũ Hải Anh, Thực tiễn Tương trợ tư pháp trong các vấn đề hình sự giữa Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á, Tạp chí Khoa học Công lý Hình sự Quốc tế, Tập 18, Số 1, Tháng 1 – 6/2023, tr. 64 – 78, https://ijcjs.com/menu-script/index.php/ijcjs/article/view/591/402.
6. Đỗ Mạnh Hồng, Các vấn đề pháp lý cơ bản trong lĩnh vực tương trợ tư pháp về hình sự của ASEAN, Tạp chí luật học số 9/2008.
7. Nguyễn Thị Ly, Pháp luật một số khu vực, quốc gia trên thế giới về hợp tác quốc tế trong Tố tụng hình sự và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 34, Số 2 (2018), tr. 98 – 107.
8. Syafrinaldi Syafrinaldi, Rendi Prayuda, Syafri Harto, Hướng tới một Hiệp định tương trợ tư pháp có hiệu quả trong ASEAN để đối phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống trong khu vực Đông Nam Á, Tạp chí Chiến lược & Quan hệ Quốc tế Brazil, Tập 11, Số 22, Tháng 12/2022, tr. 176 – 195, https://repository.uir.ac.id/21321/.
9. https://bocongan.gov.vn/tin-hoat-dong-cua-bo/da-thu-giu-hon-5300-ty-dong-xac-dinh-571-bi-hai-va-trieu-tap-lam-ro-gan-1100-doi-tuong-lien-quan-vu-lua-dao-tren-khong-gian-mang-mr-pips-d2-t45898.html, truy cập ngày 30/7/2025.