
Ảnh minh hoạ
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hiện tại, việc mở rộng quan hệ thương mại quốc tế cùng với việc tham gia nhiều Điều ước quốc tế song phương cũng như đa phương đã mở ra cơ hội phát triển kinh tế mạnh mẽ cho các doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động thương mại và đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội thì các doanh nghiệp Việt Nam cũng gặp không ít các thách thức, một trong những thách thức đó chính là sự gia tăng ngày càng nhiều về số lượng cũng như mức độ phức tạp về nội dung của các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại quốc tế đặc biệt là các quan hệ thương mại xuyên biên giới. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm môi trường đầu tư, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể kinh doanh.
2. Tranh chấp thương mại quốc tế và các phương thức giải quyết tranh chấp
2.1 Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế
Theo từ điển Luật học Black’ Law thì “tranh chấp" (dispute) là mâu thuẫn, bất đồng về các yêu cầu hoặc lợi ích giữa các bên, trong đó sự đòi hỏi từ một bên được đáp lại bằng một yêu cầu hoặc lý lẽ trái ngược từ bên kia”.
Như vậy có thể hiểu đơn giản thì tranh chấp thương mại quốc tế là những tranh cãi, bất đồng giữa các bên về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ một (hay nhiều) nghĩa vụ mà mình đã cam kết trong quan hệ thương mại quốc tế.
Tranh chấp thương mại quốc tế có thể được chia thành nhiều loại khác nhau dựa vào các tiêu chí cụ thể khác nhau. Ví dụ nếu dựa vào chủ thể của quan hệ tranh chấp, thì tranh chấp thương mại quốc tế có thể chia thành các loại:
- Tranh chấp giữa các quốc gia với nhau: ít gặp trong kinh doanh thuần túy, nhưng có thể xuất hiện dưới dạng tranh chấp đầu tư – thương mại (giải quyết tại WTO, ICSID).
- Tranh chấp giữa thương nhân với Nhà nước hoặc cơ quan nhà nước: ví dụ tranh chấp về đầu tư, nhượng quyền, thuế quan.
- Tranh chấp giữa thương nhân với thương nhân: đây là loại tranh chấp phổ biến nhất, thường liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, dịch vụ, vận tải, bảo hiểm…
Với mục tiêu hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại, cho nên bài viết này chỉ tập trung phân tích các tranh chấp phát sinh giữa các thương nhân với nhau trong hoạt động thương mại quốc tế. Trên thực tế, tranh chấp thương mại quốc tế thường sẽ phát sinh từ hợp đồng thương mại quốc tế.
Hợp đồng thương mại quốc tế là sự thỏa thuận giữa các bên (thương nhân, tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh) thuộc từ hai quốc gia trở lên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ thương mại trong hoạt động kinh doanh quốc tế (ví dụ: mua bán hàng hóa, dịch vụ, đầu tư, vận tải, bảo hiểm…).
Từ đó có thể hiểu tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế là tranh chấp giữa các bên trong hợp đồng về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ một hoặc nhiều nghĩa vụ mà các bên đã cam kết trong hợp đồng.
2.2 Phương thức giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
Dù không mong muốn nhưng tranh chấp là điều khó tránh khỏi trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng của các bên, vì xét về bản chất thì quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng sẽ đối lập với nhau. Do vậy, để hạn chế tranh chấp phát sinh thì các bên cần thiện chí, hợp tác trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng. Ghi nhận những điều khoản rõ ràng nhằm xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả nếu có phát sinh trên thực tiễn.
Tùy thuộc vào ý chí chủ quan và sự thỏa thuận mà các bên có thể lựa chọn, sử dụng các phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau theo quy định của pháp luật. Cụ thể:
(i) Thương lượng
Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh không cần đến vai trò của người thứ ba. Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình bày quan điểm, chính kiến, bàn bạc, tìm các biện pháp thích hợp, và đi đến thống nhất thoả thuận để tự giải quyết các bất đồng.
Thương lượng là hình thức phổ biến thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp trong kinh doanh. Hình thức này từ lâu đã được giới thương nhân ưa chuộng, vì nó đơn giản lại không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phiền phức, ít tốn kém hơn và nói chung không làm phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên trong kinh doanh cũng như giữ được các bí mật kinh doanh.
Do có những ưu điểm riêng của nó, thương lượng đã trở thành hình thức giải quyết tranh chấp phổ biến của các tập đoàn kinh doanh lớn trên thế giới, đặc biệt là các tập đoàn kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực: ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán...để bảo vệ một cách có hiệu quả những bí mật thương mại giữa họ. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của phương thức giải quyết tranh chấp này chính là giá trị rằng buộc của kết quả giải quyết tranh chấp hoàn toàn phụ thuộc vào sự tự nguyện, thiện chí của các bên. Nếu một trong các bên thiếu đi sự tự nguyện, thiện chí thì việc giải quyết tranh chấp thông qua phương thức thương lượng sẽ không đạt được kết quả như mong đợi.

Ảnh minh hoạ
(ii) Hoà giải
Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp mà trong đó các bên trong quá trình thương lượng có sự tham gia của bên thứ ba độc lập do hai bên cùng chấp nhận hay chỉ định làm vai trò trung gian để hỗ trợ cho các bên nhằm tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết xung đột nhằm chấm dứt các tranh chấp, bất hoà.
Hoà giải là giải pháp mang tính chất tự nguyện, tuỳ thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Đặc biệt là bên thứ ba với tính chất trung gian hoà giải phải có vị trí độc lập đối với các bên. Điều đó có ý nghĩa là, bên thứ ba này không ở vị trí xung đột lợi ích đối với các bên hoặc không có những lợi ích gắn liền với lợi ích của một trong các bên trong các vụ việc đang có tranh chấp. Trên thực tế, hình thức trung gian hoà giải thường thích hợp cho việc giải quyết các tranh chấp mà ở đó ngoài yếu tố thiện chí của các bên, còn có các vấn đề đòi hỏi chuyên môn, mà tự các bên khó có thể xem xét đánh giá chính xác, khách quan được. Do vậy, hiện nay tại Việt Nam, phương thức hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại vẫn còn ít được lựa chọn, với số lượng vụ việc mỗi năm được thụ lý chỉ ở mức rất thấp như tại Trung tâm Hòa giải Việt Nam - VMC tính đến tháng 8/2024 VMC chỉ tiếp nhận tổng cộng 42 vụ, trong đó tranh chấp có yếu tố nước ngoài là 25,7%.
(iii) Giải quyết tranh chấp tại Trọng tài
Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là phương thức giải quyết thông qua hoạt động của Trọng tài viên với kết quả cuối cùng là phán quyết trọng tài buộc các bên tôn trọng và thực hiện. Thực chất của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài cũng chính là hình thức giải quyết tranh chấp mang tính thỏa thuận, tự nguyện của các bên. Do vậy, điều kiện để các bên áp dụng hình thức này là có điều khoản quy định việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài.
(iv) Giải quyết tranh chấp bằng Toà án
Giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng Toà án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành, kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế. Do đó, các đương sự thường tìm đến sự trợ giúp của Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích của mình khi họ thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng hoặc hoà giải. Do vậy, trên thực tế, Tòa án quốc gia vẫn là một phương thức phổ biến để giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế tư.
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Ban chấp hành trung ương đã đưa ra định hướng “khuyến khích, phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án như trọng tài thương mại, hòa giải thương mại...”. Điều này cho thấy Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm và thúc đẩy việc áp dụng các phương thức giải quyết tranh chấp phi truyền thống, bên cạnh cơ chế giải quyết thông qua tòa án mà trong đó, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đang được các bên ưu tiên lựa chọn với nhiều ưu điểm: linh hoạt, nhanh chóng, bí mật và hiệu quả thực thi cao. Do vậy, việc hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng là yêu cầu cấp thiết nhằm hiện thực hóa định hướng, chính sách của Đảng, nhà nước; đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật trên thực tế góp phần phát triển kinh tế quốc gia.
3. Hoàn thiện pháp luật về trọng tài và giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu hội nhập
3.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài tại Việt Nam
Pháp luật về trọng tài thương mại tại Việt Nam khá non trẻ so với pháp luật về trọng tài thương mại quốc tế. Luật Trọng tài thương mại Việt Nam được ban hành ngày 17/6/2010 (Luật TTTM) và có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, trong khi Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Liên hợp quốc về Thương mại quốc tế (UNCITRAL) đã được ban hành từ năm 1985 (được sửa đổi, bổ sung năm 2006 - Luật Mẫu). Nghĩa là Luật Trọng tài thương mại của Việt Nam được ban hành muộn hơn so với Luật Mẫu hơn hai thập kỷ. Cho đến hiện nay, Việt Nam vẫn chưa được xem là quốc gia theo Luật Mẫu. Điều này tạo ra rào cản khá lớn cho sự hội nhập kinh tế quốc tế khi Việt Nam chưa có một cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại phù hợp với khung pháp lý chung toàn cầu.
Theo số liệu từ Trung tâm WTO và Hội nhập, tính đến tháng 10/2024, Việt Nam đã ký kết và có 19 hiệp định thương mại tự do (Free Trade Agreemen – FTA) có hiệu lực (Bảng 1)
|
TT |
FTA |
Hiện trạng |
Đối tác |
|
FTAs đã có hiệu lực |
|||
|
1 |
AFTA |
Có hiệu lực từ 1993 |
ASEAN |
|
2 |
ACFTA |
Có hiệu lực từ 2003 |
ASEAN, Trung Quốc |
|
3 |
AKFTA |
Có hiệu lực từ 2007 |
ASEAN, Hàn Quốc |
|
4 |
AJCEP |
Có hiệu lực từ 2008 |
ASEAN, Nhật Bản |
|
5 |
VJEPA |
Có hiệu lực từ 2009 |
Việt Nam, Nhật Bản |
|
6 |
AIFTA |
Có hiệu lực từ 2010 |
ASEAN, Ấn Độ |
|
7 |
AANZFTA |
Có hiệu lực từ 2010 |
ASEAN, Australia, New Zealand |
|
8 |
VCFTA |
Có hiệu lực từ 2014 |
Việt Nam, Chi Lê |
|
9 |
VKFTA |
Có hiệu lực từ 2015 |
Việt Nam, Hàn Quốc |
|
10 |
VN – EAEU FTA |
Có hiệu lực từ 2016 |
Việt Nam, Nga, Belarus, Amenia, Kazakhstan, Kyrgyzstan |
|
11 |
CPTPP (Tiền thân là TPP) |
Có hiệu lực từ 30/12/2018, có hiệu lực tại Việt Nam từ 14/1/2019 |
Việt Nam, Canada, Mexico, Peru, Chi Lê, New Zealand, Australia, Nhật Bản, Singapore, Brunei, Malaysia, Vương quốc Anh (ký Nghị định thư gia nhập ngày 16/07/2023) |
|
12 |
AHKFTA |
Có hiệu lực tại Hong Kong (Trung Quốc), Lào, Myanmar, Thái Lan, Singapore và Việt Nam từ 11/06/2019 Có hiệu lực đầy đủ với toàn bộ các nước thành viên từ ngày 12/02/2021. |
ASEAN, Hong Kong (Trung Quốc) |
|
13 |
EVFTA |
Có hiệu lực từ 01/08/2020 |
Việt Nam, EU (27 thành viên) |
|
14 |
UKVFTA |
Có hiệu lực tạm thời từ 01/01/2021, có hiệu lực chính thức từ 01/05/2021 |
Việt Nam, Vương quốc Anh |
|
15 |
RCEP |
Có hiệu lực từ 01/01/2022 |
ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, New Zealand |
|
16 |
VIFTA |
Khởi động đàm phán tháng 12/2015. Hoàn tất đàm phán tháng 4/2023. Chính thức ký kết ngày 25/07/2023 |
Việt Nam, Israel |
|
17 |
Việt Nam – UAE FTA |
Ký kết ngày 28/10/2024 |
Việt Nam, các Tiểu Vương quốc Ả-rập Thống nhất (UAE) |
|
FTA đang đàm phán |
|||
|
18 |
Việt Nam – EFTA FTA |
Khởi động đàm phán tháng 5/2012 |
Việt Nam, EFTA (Thụy Sĩ, Na uy, Iceland, Liechtenstein) |
|
19 |
ASEAN - Canada |
Tái khởi động đàm phán tháng 11/2021 |
ASEAN - Canada |
Theo thống kê từ năm 1993 đến hết 2023, VIAC đã thụ lý tổng cộng 2.940 vụ tranh chấp. Trong đó, tỷ lệ vụ tranh chấp trong nước là 46,12%, vụ tranh chấp có ít nhất một bên là doanh nghiệp FDI đạt 31,45% và vụ tranh chấp có yếu tố nước ngoài đạt 22,43%.

Ngược lại các doanh nghiệp trong nước khi có xu hướng chọn phương thức giải quyết tranh chấp thông qua tố tụng tòa án thì các doanh nghiệp nước ngoài khi tham gia vào các quan hệ thương mại quốc tế với việc ký kết hợp đồng mua bán hay cung cấp dịch vụ với các doanh nghiệp trong nước thì thường lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nhiều hơn hình thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án vì họ đã nhận thức đầy đủ các ưu thế của Trọng tài: giải quyết tranh chấp nhanh về hiệu lực chung thẩm của quyết định trọng tài; được quyền lựa chọn trọng tài viên có chuyên môn giải quyết vụ tranh chấp; phương thức giải quyết tranh chấp không công khai nên bí mật tranh chấp được giữ kín thông tin tranh chấp rất hạn chế bị đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng. . . Nhưng họ lại lựa chọn trọng tài nước ngoài nhiều hơn là trọng tài Việt Nam. Thực tế, rất nhiều tranh chấp với doanh nghiệp Việt Nam được mang sang Hồng Kông hay Singapore giải quyết do hệ thống pháp luật ở đây rất ủng hộ trọng tài và thực trạng này không có lợi cho doanh nghiệp Việt Nam. Bỏ qua nguyên nhân từ yếu tố chủ quan của các bên tranh chấp: lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp, việc tuân thủ quy định để đảm bảo hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, đảm bảo hiệu lực giải quyết tranh chấp bằng trọng tài… thì các khía cạnh liên quan đến hạn chế của pháp luật điều chỉnh họat động của trọng tài thương mại cũng ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp thương mại quốc tế nói riêng. Một số nguyên nhân điển hình có thể chỉ ra như:
Tính tương thích giữa các văn bản pháp luật
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM) không có sự tương đồng với văn bản khác được sửa đổi trong thời gian vừa qua. Ví dụ, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã có quy định mở rộng khả năng giải quyết tranh chấp dân sự bằng trọng tài thông qua việc khẳng định nguyên tắc tự do cam kết, thỏa thuận và thừa nhận trọng tài là phương thức bình đẳng với tòa án trong việc bảo vệ quyền dân sự, nhưng Luật TTTM chưa có quy định để song hành cùng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 về vấn đề này. Tương tự như vậy, Luật Đất đai năm 2024 cũng đã mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại đối với một số tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực đất đai khi thỏa các điều kiện theo quy định pháp luật nhưng Luật Trọng tài thương mại hiện nay vẫn chưa đảm bảo sự tương thích này.
Thêm vào đó, một nguyên nhân khiến cho các doanh nghiệp nước ngoài dè dặt trong việc lựa chọn trọng tài thương mại tại Việt Nam để giải quyết các tranh chấp phát sinh trên thực tế là chưa có sự tương thích giữa Luật Trọng tài năm 2010 với Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL. Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL đóng vai trò quan trọng trong việc ban hành Luật Trọng tài thương mại của các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê và công nhận trên website của UNCITRAL, đã có 87 quốc gia căn cứ hoặc chịu ảnh hưởng của Luật Mẫu để ban hành Luật Trọng tài thương mại tại quốc gia đó.
Mặc dù các nhà làm luật và các chuyên gia tại Việt Nam vẫn cho rằng Luật TTTM Việt Nam có tham khảo Luật Mẫu, có nhiều điều khoản soạn thảo theo Luật Mẫu nhưng hiện nay Luật TTTM Việt Nam vẫn chưa được UNCITRAL coi là theo Luật Mẫu.

Về thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại
Thẩm quyền của trọng tài thương mại hiện nay được xác định tại Điều 2 Luật Trọng tài thương mại. Theo đó, Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các loại tranh chấp sau: Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài.
Quy định trên mặc dù đã mở rộng các loại tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài so với Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 nhưng vẫn tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trong thực tiễn áp dụng trọng tài thương mại trong những năm qua. Ví dụ như các tranh chấp liên quan đến đất đai, đầu tư quốc tế hiện nay chưa được xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại theo cách tiếp cận của Luật TTTM năm 2010.
Về hiệu lực thi hành của phán quyết trọng tài
Về nguyên tắc, phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm trừ trường hợp bị hủy theo quy định của pháp luật. Tuy vậy, quy định pháp luật liên quan đến điều kiện hủy phán quyết trọng tài hiện nay cũng còn nhiều bất cập. Chẳng hạn, Luật quy định phán quyết trọng tài thuộc trường hợp bị hủy nếu “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Tuy nhiên, đây là quy định không rõ ràng nên gây ra rất nhiều tranh cãi và thường xuyên bị lạm dụng để vô hiệu hóa kết quả của hoạt động trọng tài.
Thêm vào đó, khác với những nước có nền trọng tài phát triển, Luật TTTM chưa có quy định thể hiện rõ là Tòa án cần ủng hộ trọng tài. Chính việc không có quan điểm rõ nét như vậy nên đã dẫn đến thực trạng Tòa án hủy phán quyết trọng tài còn nhiều, thời gian Tòa án xử lý các vấn đề về trọng tài nhiều khi quá lâu. Hệ quả của việc không có quan điểm rõ nét là Tòa án cần ủng hộ trọng tài là khá rõ nét: thực tế cho thấy 92% doanh nghiệp FDI từ chối dùng Toà án để giải quyết tranh chấp nhưng tỷ lệ các doanh nghiệp FDI chọn trọng tài trong nước thấp hơn trọng tài nước ngoài trong khi đó trọng tài Việt Nam có lợi thế là phán quyết được thi hành trực tiếp, không phải trải qua quá trình xin công nhận và cho thi hành.
Việc tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp bằng hình thức trực tuyến còn nhiều bất cập
Mặc dù hình thức giải quyết tranh chấp trực tuyến có những ưu điểm như tiết kiệm thời gian, chi phí và tạo điều kiện thuận lợi cho các bên ở nhiều địa điểm khác nhau tham gia, nhưng thực tiễn triển khai vẫn còn nhiều bất cập như: khó kiểm soát người tham gia; nguy cơ bị ghi âm, ghi hình trái phép; rò rỉ thông tin, nội dung và diễn biến vụ tranh chấp; cũng như nguy cơ lộ bí mật kinh doanh. Bên cạnh đó, hạn chế về cơ sở vật chất và đường truyền kết nối cũng ảnh hưởng đến tính bảo mật và hiệu quả của quá trình giải quyết tranh chấp. Trong khi đó pháp luật trọng tài vẫn chưa quy định cụ thể về các hình thức tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp, mà các hình thức này được thực hiện trên cơ sở là quy tắc riêng của các trung tâm trọng tài.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả
Một là, đảm bảo tính tương thích của Luật Trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
Như đã trình bày ở trên, tính tương thích của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 với các văn bản pháp luật khác có liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại đặc biệt là Luật mẫu về trọng tài thương mại là một trong những nguyên nhân cốt yếu khiến cho các doanh nghiệp nước ngoài hạn chế lựa chọn trọng tài thương mại tại Việt Nam làm cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh cũng nhưng ảnh hưởng khá lớn đến hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại trong nước. Do đó, việc “sửa đổi pháp luật theo Luật Mẫu để thu hút giải quyết tranh chấp bằng trọng tài là xu hướng chung của thế giới” và Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Quan điểm này được khẳng định trong Báo cáo đánh giá, so sánh quy định pháp luật Việt Nam về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài với Luật Mẫu UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế, đề xuất khả năng áp dụng Luật Mẫu tại Việt Nam: “Luật Mẫu là đặc biệt phù hợp với các quốc gia chưa có pháp luật trọng tài phát triển toàn diện hoặc các quốc gia đã có pháp luật trọng tài nhưng hoàn toàn phù hợp với các vụ việc quốc tế. Đây là dấu hiệu của hài hòa hóa pháp luật về trọng tài. Hơn nữa, việc nghiên cứu áp dụng Luật Mẫu sẽ góp phần thực hiện tiêu chuẩn quốc tế được thừa nhận rộng rãi ở các quốc gia với những nền tảng pháp lý khác nhau”.

Ảnh minh hoạ
Thứ hai, cần mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài thương mại
Việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Việc làm rõ khái niệm “tranh chấp thương mại” theo hướng mở rộng là cần thiết để bao quát được nhiều loại tranh chấp phát sinh trong thực tiễn kinh doanh hiện đại. Định nghĩa này cần được xây dựng dựa trên Luật Mẫu UNCITRAL và thông lệ quốc tế, bao gồm cả các giao dịch thương mại điện tử và các mô hình kinh doanh mới.
Theo đó, Luật Trọng tài thương mại và các văn bản pháp luật có liên quan cần bổ sung quy định cho phép trọng tài giải quyết các tranh chấp liên quan đến đầu tư, phù hợp với xu hướng quốc tế và thực tiễn giải quyết tranh chấp đầu tư. Theo báo cáo thường niên của ICSID, số lượng vụ việc tranh chấp đầu tư được đăng ký tại ICSID đã tăng đáng kể trong thập kỷ qua, phản ánh xu hướng ưu tiên lựa chọn phương thức trọng tài trong giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Đồng thời xác định rõ thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài thương mại liên quan đến đất đai nhằm đảm bảo sự tương thích với quy định của Luật Đất đai năm 2024.
Thứ ba, xây dựng cơ chế hỗ trợ của các cơ quan tư pháp đối với hoạt động của trọng tài
Một trong những điểm ưu việt của tố tụng trọng tài so với tố tụng Tòa án là tính linh hoạt, nhanh gọn, thân thiện và hiệu quả. Nếu Tòa án áp dụng các quy định của tố tụng dân sự để xem xét và giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của trọng tài, trong có việc hủy phán quyết trọng tài thì sẽ làm mất đi những ưu điểm vốn có của tố tụng trọng tài.
Do đó, hệ thống Tòa án cần phát huy và thể hiện rõ sự ủng hộ với hệ thống trọng tài, từ chối hủy các phán quyết trọng tài trừ khi rõ ràng có vi phạm được quy định cụ thể trong Luật TTTM, đây là một đòi hỏi hết sức quan trọng. Toàn bộ quá trình trọng tài có thể mất ý nghĩa nếu như một phán quyết có thể bị hủy tại Tòa án vì những lý do thiên về kỹ thuật, không được quy định cụ thể trong Luật TTTM. Kinh nghiệm ở các nước có sự phát triển của trọng tài như Singapore hay Anh cho thấy Tòa án chỉ can thiệp vào tố tụng trọng tài hoặc hủy phán quyết trọng tài trong những trường hợp hết sức đặc biệt. Ví dụ như có vi phạm nghiêm trọng trong tố tụng, thiên vị với một bên, không cho một bên cơ hội trình bày, lập luận hoặc những trường hợp phán quyết vi phạm những nguyên tắc căn bản của xã hội như buộc các bên phải thi hành những việc làm phi pháp, sai trái mà xã hội không thể chấp nhận. Từ thực tiễn của các nước, thiết nghĩ Việt Nam chúng ta cũng cần có các quy định cụ thể về sự hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài. Tòa án cần có sự hỗ trợ tích cực hơn nữa trong quá trình giải quyết tranh chấp của trọng tài, tránh tình trạng chồng chéo thẩm quyền giữa trọng tài và tòa án, tránh cho quá trình giải quyết tranh chấp bị gián đoạn, thiếu linh hoạt và không đạt hiệu quả.
Tuy vậy, Luật TTTM hiện này chưa thể hiện rõ nét tính chuyên môn của thẩm phán phụ trách giải quyết các vấn đề về trọng tài và việc nay đã dẫn đến tồn tại của những quyết định của Tòa án về trọng tài không thuyết phục, cản trở cho hoạt động trọng tài, nhất là những thẩm phán không có chuyên môn sâu trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại (thuộc biên chế của Tòa kinh tế). Do đó, trong việc sửa đổi Luật TTTM, chúng ta nên quan tâm và đề cao tính chuyên môn của thẩm phán giải quyết các vấn đề của trọng tài.
Cuối cùng, xây dựng và phát triển mô hình giải quyết trực tuyến bằng trọng tài thương mại
Trọng tài trực tuyến là phương thức giải quyết tranh chấp nhanh chóng, hiệu quả, và phù hợp với các giao dịch thương mại điện tử, đặc biệt là trong các tranh chấp xuyên biên giới. Tuy nhiên, theo Luật Trọng tài hiện hành chưa đầy đủ các quy định về trọng tài trực tuyến, cần có sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp trực tuyến: phạm vi áp dụng, quy trình thực hiện, chứng cứ chứng minh, giá trị thi hành của phán quyết… để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho trọng tài viên và các bên tham gia.
4. Kết luận
Hoàn thiện pháp luật về trọng tài và giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế là yêu cầu cấp bách trong tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam. Nghị quyết 66/2022/QH15 của Quốc hội đã xác định rõ định hướng cải cách này, mở đường cho việc xây dựng khung pháp lý về trọng tài hiện đại, minh bạch, thân thiện với doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng, song trước những bất cập hiện nay, cần có sự sửa đổi toàn diện để phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Nếu thực hiện hiệu quả, Việt Nam không chỉ nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế mà còn gia tăng uy tín trong cộng đồng kinh doanh toàn cầu, góp phần cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.
-----------------------------
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Ban chấp hành trung ương.
2. Luật Trọng tài thương mại năm 2010.
3. Nghị định 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại.
4. Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP về hướng dẫn thi hành Luật Trọng tài thương mại.
5. Báo cáo thường niên 2024 của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).
6. Nguyễn Bá Bình (chủ biên) (2021), Giáo trình Pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.
7. Nguyễn Ngọc Lâm (2010), Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia tr17
8. Phạm Duy Nghĩa (2009), Một số vấn đề pháp lý của hợp đồng thương mại quốc tế, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2009
9. Ngô Hồng Thái (2016), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự 2015, Nxb Chính trị Quốc gia