
Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Dẫn độ (nguồn ảnh: Duy Linh báo Nhân dân)
Luật Dẫn độ với hàng loạt quy định mới, quan trọng
Luật Dẫn độ có điều riêng quy định về các trường hợp có thể bị dẫn độ. Cụ thể: Người có thể bị dẫn độ là người có hành vi phạm tội mà pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài quy định hình phạt tù có thời hạn từ 1 năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình hoặc đã bị tòa án của nước yêu cầu dẫn độ xử phạt tù mà thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người đó còn lại ít nhất 6 tháng.
Hành vi phạm tội của người được quy định nêu trên không nhất thiết phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu thành tội phạm không nhất thiết phải giống nhau hoàn toàn theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài.
Trường hợp nước ngoài yêu cầu dẫn độ liên quan đến người có nhiều hành vi phạm tội, trong đó mỗi hành vi cấu thành một tội phạm theo pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài và có ít nhất một hành vi đáp ứng được các điều kiện nói trên, Việt Nam có thể đồng ý dẫn độ người đó. Trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu dẫn độ, Bộ Công an đề nghị cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài đồng ý dẫn độ với các trường hợp tương tự.
Trường hợp hành vi phạm tội của người được quy định nêu trên xảy ra ngoài lãnh thổ của Việt Nam, việc dẫn độ người đó có thể được thực hiện nếu pháp luật Việt Nam quy định hành vi đó là hành vi phạm tội.
Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Dẫn độ, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng đã thông tin về các trường hợp có thể bị dẫn độ (Điều 7).
Theo Chủ nhiệm Hoàng Thanh Tùng, có ý kiến đề nghị nâng ngưỡng hình phạt tối thiểu từ 2 năm tù trở lên tại khoản 1 Điều 7 để bảo đảm hiệu quả hợp tác tư pháp quốc tế, tránh lãng phí nguồn lực hành chính cho vụ việc nhỏ, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo, chỉ dẫn độ đối với những hành vi thật sự nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) cho rằng, quy định “người có thể bị dẫn độ là người có hành vi phạm tội mà pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài quy định hình phạt tù có thời hạn từ 1 năm trở lên...” tại khoản 1 Điều 7 của dự thảo Luật là nội dung được kế thừa từ Luật Tương trợ tư pháp hiện hành (Điều 33). Quy định này cũng phù hợp với tập quán quốc tế và cam kết trong các hiệp định về dẫn độ mà Việt Nam đã ký kết, nhằm bảo đảm khả năng hợp tác linh hoạt, kịp thời trong nhiều vụ việc và không giới hạn ở các hành vi phạm tội nghiêm trọng.

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Trần Quang Phương và các đại biểu tham dự Phiên họp
Trên thực tế, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét khả năng dẫn độ đối với người có hành vi phạm tội mà pháp luật quy định hình phạt tù là 1 năm, nhưng người đó có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án. Trong khi đó, chính sách nhân đạo của Nhà nước ta được bảo đảm qua cơ chế xem xét trong từng vụ việc cụ thể chứ không bằng việc đặt thêm tiêu chí về mức hình phạt. Nếu nâng ngưỡng hình phạt tù cao hơn sẽ dẫn tới trường hợp không thể dẫn độ đối với các vụ việc có mức hình phạt thấp mặc dù vẫn có ảnh hưởng quốc tế rõ ràng, làm giảm hiệu quả hợp tác tư pháp quốc tế và không khắc phục được nguy cơ vi phạm quyền con người trong từng trường hợp cụ thể.
Do vậy, UBTVQH đề nghị giữ ngưỡng hình phạt tối thiểu là 1 năm tù như quy định của dự thảo luật.
Về dẫn độ có điều kiện (Điều 13), có ý kiến đề nghị bổ sung nội dung theo dõi việc thực hiện cam kết của nước ngoài sau dẫn độ; trường hợp vi phạm, Việt Nam có quyền yêu cầu bởi thường hoặc áp dụng các biện pháp ngoại giao tương ủng.
Theo UBTVQH, việc xem xét, chấp thuận và thực hiện điều kiện dẫn độ nhất định thuộc thẩm quyền nội bộ của từng quốc gia. Sau khi việc dẫn độ được thực hiện, theo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác, Việt Nam chỉ có thể theo dõi, đôn đốc thông qua kênh ngoại giao khi cần thiết chứ không có thẩm quyền áp dụng chế tài đối với quốc gia khác.
Hoạt động dẫn độ dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng chủ quyền và thiện chí giữa các quốc gia, nên việc đặt ra cơ chế kiểm soát hoặc chế tài đối với nước ngoài có thể bị coi là can thiệp vào công việc nội bộ, ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại, đồng thời làm phát sinh xung đột pháp lý, không phù hợp với tập quán quốc tế. Do đó, UBTVQH đề nghị không bổ sung nội dung này vào dự thảo luật.
Về các trường hợp có thể bị dẫn độ theo quy định của luật gồm: Người có thể bị dẫn độ là người có hành vi phạm tội mà pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài quy định hình phạt tù có thời hạn từ 1 năm trở lên, tù chung thân hoặc tử hình hoặc đã bị tòa án của nước yêu cầu dẫn độ xử phạt tù mà thời hạn chấp hành hình phạt tù đối với người đó còn lại ít nhất 6 tháng.
Hành vi phạm tội của người được quy định tại khoản 1 Điều này không nhất thiết phải thuộc cùng một nhóm tội hoặc cùng một tội danh, các yếu tố cấu thành tội phạm không nhất thiết phải giống nhau hoàn toàn theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật nước ngoài.
Đặc biệt, Luật quy định cụ thể cơ quan có thẩm quyền, cơ chế giao quyền và nơi giữ người trước khi dẫn độ. Trong đó có điều riêng quy định về giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ.
Theo đó, trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ theo quy định tại điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam và nước đó cùng là thành viên, thì Bộ Công an kiểm tra tính hợp lệ của văn bản yêu cầu giữ người theo quy định tại điều ước quốc tế đó.
Trường hợp văn bản yêu cầu giữ người hợp lệ, Bộ Công an chuyển ngay cho cơ quan công an có thẩm quyền quyết định giữ người và đưa vào cơ sở lưu trú theo quy định.
Thời hạn giữ người và nội dung văn bản yêu cầu giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ được thực hiện theo quy định tại điều ước quốc tế đó. Thời hạn giữ người trong trường hợp khẩn cấp là 45 ngày kể từ ngày đưa vào cơ sở lưu trú.

Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Nguyễn Huy Tiến trình bày Tờ trình dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về hình sự. (Ảnh: Duy Linh, báo Nhân dân)
Trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ mà Việt Nam và nước đó không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về dẫn độ thì Bộ Công an kiểm tra tính hợp lệ của văn bản yêu cầu giữ người theo quy định. Trường hợp văn bản yêu cầu giữ người hợp lệ, Bộ Công an chuyển ngay cho cơ quan công an có thẩm quyền quyết định giữ người và đưa vào cơ sở lưu trú theo quy định.
Báo cáo giải trình, tiếp thu trước khi Quốc hội thông qua, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng cho hay có ý kiến cho rằng việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến quyền con người và thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong hợp tác quốc tế nên quy định cụ thể hơn về các cơ quan có thẩm quyền, cơ chế giao quyền.
Cùng với đó, quy định về nơi giữ người trong trường hợp khẩn cấp để bảo đảm tính khả thi, đồng thời giao Bộ trưởng Bộ Công an hướng dẫn về nội dung của quyết định giữ người, chế độ và công tác quản lý đối với người bị giữ trong thời gian giữ tại các cơ sở lưu trú.
Tiếp thu ý kiến đại biểu, UBTVQH đã chỉ đạo bổ sung các nội dung nêu trên tại các khoản 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 33 của dự thảo luật.
Luật Dẫn độ được thông qua gồm 4 chương, 45 điều. Trong đó có điều riêng quy định về giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ.
Theo đó, trường hợp nước ngoài yêu cầu Việt Nam giữ người trong trường hợp khẩn cấp trước khi có yêu cầu dẫn độ theo quy định tại điều ước quốc tế về dẫn độ mà Việt Nam và nước đó cùng là thành viên, thì Bộ Công an kiểm tra tính hợp lệ của văn bản yêu cầu giữ người theo quy định tại điều ước quốc tế đó.
Trường hợp văn bản yêu cầu giữ người hợp lệ, Bộ Công an chuyển ngay cho cơ quan công an có thẩm quyền quyết định giữ người và đưa vào cơ sở lưu trú theo quy định.
Nhiều quy định mới cần lưu ý về tương trợ tư pháp hình sự
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự gồm 4 chương, 42 điều. Nội dung được quan tâm trong Luật Tương trợ tư pháp về hình sự là luật quy định bảo mật thông tin và giới hạn sử dụng (Điều 12). Theo đó, thông tin, tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cung cấp chỉ được sử dụng phù hợp với mục đích đã nêu trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, không được tiết lộ hoặc chuyển giao cho bên thứ ba. Trường hợp sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ ngoài mục đích đã nêu trong yêu cầu thì phải có sự đồng ý trước bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước kia.
Về nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự (Điều 5), Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, có ý kiến đề nghị bổ sung nguyên tắc bảo vệ quyền con người vào Điều 5 của dự thảo Luật.
UBTVQH cho rằng, tương trợ tư pháp về hình sự là việc các quốc gia hỗ trợ nhau trong việc giải quyết vụ án hình sự, do đó, cùng với việc tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, còn phải tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Bộ Luật tố tụng hình sự (BLTTHS).
BLTTHS hiện hành đã dành riêng một chương (Chương II) quy định về những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự với 27 nguyên tắc, trong đó “tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và lợi ích hợp pháp của cá nhân” chỉ là 1 trong 27 nguyên tắc của tố tụng hình sự. Do đó, nếu chỉ bổ sung nguyên tắc nêu trên vào Điều 5 sẽ dẫn đến thiếu nhiều nguyên tắc quan trọng khác đã được quy định trong BLTTHS (như: nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, nguyên tắc suy đoán vô tội ...).
Tương trợ tư pháp về hình sự là việc các quốc gia hỗ trợ nhau trong việc giải quyết vụ án hình sự, do đó, cùng với việc tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, còn phải tuân thủ các nguyên tắc quy định tại Bộ Luật Tố tụng hình sự (BLTTHS).
Vì vậy, cách quy định như Điều 5 của dự thảo Luật, trong đó có nội dung hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật Việt Nam... đã bảo đảm bao quát đầy đủ các nguyên tắc tương trợ tư pháp về hình sự, trong đó có nguyên tắc bảo đảm quyền con người, quyền công dân như ý kiến ĐBQH nêu.
Về bảo đảm an toàn (Điều 11), Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, có ý kiến đề nghị quy định điểm a khoản 1 theo hướng “người đó sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị bắt giữ, bị tạm giam, tạm giữ hay áp dụng bất kỳ biện pháp cưỡng chế nào khác trái với nội dung cam kết trước khi rời khỏi nước được yêu cầu” để bảo đảm chặt chẽ, đầy đủ. Về nội dung này, UBTVQH tiếp thu ý kiến của ĐBQH và đã chỉnh lý phù hợp tại các điều 11, 35 và 37 của dự thảo Luật.

Các đại biểu tham dự Phiên họp. Ảnh: VPQH cung cấp
Về giao nhận tài liệu, vật chứng, tài sản liên quan đến tương trợ tư pháp về hình sự (Điều 13), có ý kiến đề nghị bổ sung nguyên tắc có đi có lại trong việc giao nhận tài liệu, vật chứng, tài sản tại khoản 2 Điều này. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, dự thảo Luật đã dành riêng một điều (Điều 7) để quy định về áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong tương trợ tư pháp về hình sự; do đó, không quy định lại nguyên tắc này trong từng điều luật cụ thể.
Về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong tương trợ tư pháp về hình sự (Điều 18), Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, có ý kiến đề nghị quy định hằng năm Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao xây dựng báo cáo tình hình thực hiện tương trợ tư pháp về hình sự gửi Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổng hợp, xây dựng báo cáo trình Quốc hội. Về nội dung này, UBTVQH tiếp thu ý kiến của ĐBQH và đã chỉnh lý phù hợp tại khoản 1 Điều 18 của dự thảo Luật.
Ngoài các vấn đề nêu trên, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết, UBTVQH đã chỉ đạo nghiên cứu đầy đủ ý kiến của các vị ĐBQH, các cơ quan có liên quan để tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật cả về nội dung và kỹ thuật văn bản.
Luật Tương trợ tư pháp về hình sự (Điều 12) qui định : Thông tin, tài liệu, chứng cứ do cơ quan có thẩm quyền cung cấp chỉ được sử dụng phù hợp với mục đích đã nêu trong yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự, không được tiết lộ hoặc chuyển giao cho bên thứ ba. Trường hợp sử dụng thông tin, tài liệu, chứng cứ ngoài mục đích đã nêu trong yêu cầu thì phải có sự đồng ý trước bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước kia.
Bổ sung nhiều qui định mới liên quan hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự
Về phạm vi: không xem xét bổ sung “vụ việc cạnh tranh vào phạm vi tương trợ tư pháp”: Báo cáo tóm tắt một số vấn đề lớn trong giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Tương trợ tư pháp về dân sự Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Hoàng Thanh Tùng cho biết, về phạm vi điều chỉnh (Điều 1), có ý kiến đề nghị bổ sung “vụ việc cạnh tranh vào phạm vi tương trợ tư pháp”, UBTVQH cho rằng, phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự là hợp tác, hỗ trợ giữa Việt Nam và nước ngoài về một số hoạt động để giải quyết vụ việc dân sự, vụ việc phá sản, việc thi hành án dân sự của các cơ quan tư pháp. Trong khi đó, cơ quan giải quyết vụ việc cạnh tranh là Ủy ban Cạnh tranh quốc gia thuộc Bộ Công Thương, không phải là cơ quan tư pháp. Theo Luật Cạnh tranh hiện hành, trình tự Ủy ban Cạnh tranh quốc gia xử lý vụ việc cạnh tranh không phải là hoạt động tố tụng tư pháp; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh mang tính chất hành chính, kinh tế; trường hợp các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh thì có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Khi giải quyết vụ án hành chính, nếu phát sinh nhu cầu thu thập chứng cứ, tống đạt tài liệu, văn bản tố tụng ra nước ngoài,... Tòa án nhân dân có thẩm quyền sẽ làm thủ tục yêu cầu tương trợ tư pháp ra nước ngoài căn cứ Điều 370a của Luật Tố tụng hành chính. Các điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp về dân sự mà Việt Nam đã ký kết với các nước và vùng lãnh thổ cũng không quy định nội dung tương trợ tư pháp về dân sự trong xử lý vụ việc cạnh tranh. Do đó, quy định về phạm vi điều chỉnh của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự như tại Điều 1 là phù hợp.

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Hoàng Thanh Tùng
Về nguyên tắc: bổ sung nguyên tắc “ có đi, có lại” trong tương trợ tư pháp về dân sự (Điều 6). Báo cáo chỉ ra, dự thảo Luật trình Quốc hội đầu Kỳ họp thứ 10 đã có quy định gián tiếp về việc áp dụng nguyên tắc “có đi, có lại” trong tương trợ tư pháp về dân sự tại điểm a khoản 2 Điều 27. Tuy nhiên, quy định này chưa thực sự cụ thể, chưa bảo đảm đồng bộ, thống nhất với các dự án luật được tách ra từ Luật Tương trợ tư pháp hiện hành. Tiếp thu ý kiến của ĐBQH, UBTVQH đã chỉ đạo chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng bổ sung quy định nguyên tắc “có đi, có lại” trong tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài như thể hiện tại khoản 2 Điều 6 của dự thảo Luật để bảo đảm linh hoạt trong áp dụng, thực thi nguyên tắc này nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân của Việt Nam, thúc đẩy hợp tác quốc tế.
Liên quan đến kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự (khoản 4 Điều 15), có ý kiến đề nghị bổ sung quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân trong kiểm sát hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự. UBTVQH nhận thấy ý kiến của ĐBQH là xác đáng, do đó đã chỉ đạo chỉnh lý dự thảo Luật theo hướng bổ sung khoản 4, Điều 15 quy định về thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của Luật này, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các luật có liên quan, bảo đảm thống nhất với quy định tại khoản 1, Điều 33 của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
Luật Tương trợ tư pháp về dân sự với đa số phiếu tán thành, thể hiện sự đồng tình, thống nhất cao. Sau khi tiếp thu, chỉnh lý, Luật gồm 4 chương, 38 điều đã bám sát mục tiêu, quan điểm đề ra khi xây dựng các dự án luật, kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về tăng cường hợp tác quốc tế về pháp luật và hội nhập quốc tế trong tình hình mới, hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp nói chung và pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự nói riêng; khắc phục những bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.
Luật Tương trợ tư pháp về dân sự đã bổ sung quy định nguyên tắc “có đi, có lại” (Điều 6) trong tương trợ tư pháp về dân sự giữa Việt Nam và nước ngoài ; đồng thời Luật cũng bổ sung ( khoản 4, Điều 15) quy định về thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự theo quy định của Luật này, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và các luật có liên quan, bảo đảm thống nhất với quy định tại khoản 1, Điều 33 của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.