Tóm tắt: Xung đột lợi ích (XĐLI) trong hoạch định chính sách kinh tế là một trong những thách thức lớn đối với nhà nước pháp quyền và quản trị công hiện đại. XĐLI nếu không được kiểm soát hiệu quả sẽ làm suy giảm tính liêm chính, công bằng và mục tiêu vì lợi ích chung của chính sách, gây mất niềm tin của nhân dân. Bài viết phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận về XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế như khái niệm, đặc trưng, các biểu hiện của XĐLI và vai trò của pháp luật trong việc nhận diện, ngăn ngừa, kiểm soát và xử lý chúng. Ngoài ra, bài viết cũng xem xét, đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về kiểm soát XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế, từ đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính liêm chính, công bằng và hiệu quả trong hoạch định chính sách kinh tế.
Từ khóa: Xung đột lợi ích, kiểm soát xung đột lợi ích, hoạch định chính sách, hoạch định chính sách kinh tế, liêm chính công vụ.
Legal regulation of conflicts of interest in economic policy-making
Abstract: Conflicts of interest (COI) in economic policy formulation constitute one of the major challenges to the rule-of-law state and modern public governance. If not effectively controlled, COI can undermine the integrity, fairness, and public-interest objectives of policies, thereby eroding public trust. This article analyzes and clarifies the theoretical issues concerning COI in economic policy formulation, including their concept, characteristics, manifestations, and the role of law in identifying, preventing, controlling, and addressing such conflicts. In addition, the article examines and assesses the current state of Vietnamese law on the control of COI in economic policy formulation, and on that basis proposes solutions for improving the legal framework in order to ensure integrity, fairness, and effectiveness in economic policy formulation.
Keywords: conflict of interest, regulation of conflicts of interest, policy formulation, economic policy formulation, public sector integrity
1. Đặt vấn đề
Hoạch định chính sách kinh tế là một dạng hoạt động quyền lực nhà nước đặc thù, có tác động trực tiếp đến phân bổ nguồn lực, cấu trúc thị trường và lợi ích của các chủ thể kinh tế, do đó tiềm ẩn nguy cơ xung đột lợi ích (XĐLI) ở mức độ cao. XĐLI có thể phát sinh từ lợi ích vật chất hoặc phi vật chất, hiện hữu hoặc tiềm tàng, trước hoặc sau khi chủ thể thực thi nhiệm vụ công, và không phải lúc nào cũng dễ nhận diện hay dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật. [1]
Tại các nước đang phát triển như Việt Nam, XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế đặt ra thách thức lớn đối với quản trị quốc gia, làm suy giảm tính liêm chính, minh bạch và hiệu quả của bộ máy nhà nước nếu không được kiểm soát hiệu quả. Tuy nhiên, ở Việt Nam, XĐLI vẫn chủ yếu được tiếp cận gián tiếp như một nội dung của phòng, chống tham nhũng, chưa được nhìn nhận đầy đủ như một vấn đề pháp lý độc lập gắn với kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo đảm lợi ích công. Các quy định pháp luật về XĐLI còn phân tán, thiếu thống nhất, làm hạn chế hiệu quả thực thi.
Xuất phát từ thực tiễn đó, bài viết tập trung làm rõ bản chất và các biểu hiện của XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế, phân tích vai trò của pháp luật trong việc nhận diện, phòng ngừa và kiểm soát XĐLI, đồng thời đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành để đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát XĐLI, góp phần bảo đảm quản trị quốc gia liêm chính và phát triển bền vững.
2. Khái niệm và các đặc trưng của xung đột lợi ích trong hoạch định chính sách kinh tế
Theo Ngân hàng Thế giới, xung đột (hay mâu thuẫn) lợi ích “là tình huống trong đó một cán bộ, công chức, trong thẩm quyền chính thức của mình, đưa ra hoặc phải đưa ra các quyết định hoặc có những hành động có thể tác động tới lợi ích cá nhân của họ”[2]. Định nghĩa này nhấn mạnh hai yếu tố cấu thành cơ bản của XĐLI, bao gồm: (i) sự tồn tại của lợi ích riêng gắn với chủ thể có thẩm quyền công vụ và (ii) sự tham gia của chủ thể đó vào quá trình ra quyết định công. Theo đó, chính vị trí và vai trò của người có thẩm quyền trong quá trình hình thành và thực thi quyết định công tạo ra khả năng phát sinh lợi ích riêng, từ đó tiềm ẩn nguy cơ xung đột với lợi ích chung.
Trong khi đó, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) tiếp cận khái niệm XĐLI từ góc độ chuẩn mực công vụ. Theo đó, “XĐLI là xung đột giữa nhiệm vụ công và lợi ích cá nhân của viên chức nhà nước mà lợi ích cá nhân của viên chức đó có thể ảnh hưởng không thích hợp đến cách người này thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm của họ”[3]. So với định nghĩa của Ngân hàng Thế giới, quan niệm của OECD nhấn mạnh rõ hơn bản chất của XĐLI, làm nổi bật sự đối lập giữa lợi ích riêng và nghĩa vụ công vụ, cũng như nguy cơ làm sai lệch việc thực thi quyền lực công.
Trong pháp luật Việt Nam, XĐLI được định nghĩa: “là tình huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ”[4]. Cách định nghĩa này, về cơ bản tương đồng với các chuẩn mực quốc tế nêu trên, khi cùng thừa nhận yếu tố lợi ích riêng và khả năng ảnh hưởng của lợi ích đó đến việc thực hiện quyền lực công. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam có điểm đặc thù là mở rộng phạm vi lợi ích liên quan sang cả lợi ích của người thân thích, qua đó tăng cường khả năng nhận diện các dạng xung đột lợi ích gián tiếp, đồng thời nhấn mạnh tiêu chí “tác động không đúng” như một dấu hiệu pháp lý quan trọng để phân biệt XĐLI với các lợi ích cá nhân hợp pháp trong hoạt động công vụ.
Như vậy, XĐLI được hiểu là tình huống trong đó lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm hoặc các lợi ích ngoài công vụ của người có chức vụ, quyền hạn có khả năng ảnh hưởng không phù hợp đến việc thực hiện nhiệm vụ công vụ, điều này tính khách quan, công bằng và định hướng vì lợi ích công của các quyết định và hành vi công vụ. XĐLI không đồng nhất với hành vi vi phạm pháp luật, nhưng được coi là trạng thái tiềm ẩn rủi ro, có thể tạo tiền đề cho các hành vi lạm dụng quyền lực, tham nhũng và các biểu hiện tiêu cực khác nếu không được nhận diện và kiểm soát bằng các cơ chế pháp lý phù hợp.

Ảnh minh họa
Trong hoạch định chính sách kinh tế, XĐLI được xác định là tình huống trong đó lợi ích ngoài công vụ của các chủ thể tham gia quá trình xây dựng và thực thi chính sách kinh tế có khả năng tác động không thích hợp đến việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, làm suy giảm tính khách quan, công bằng và mục tiêu vì lợi ích chung của chính sách kinh tế.
Về bản chất, XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế bắt nguồn từ sự đan xen giữa quyền lực công trong việc định hướng và phân bổ các nguồn lực kinh tế với các lợi ích ngoài công vụ của chủ thể hoạch định chính sách. Nếu không được nhận diện, phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả, tình trạng này có thể làm suy giảm chất lượng chính sách, ảnh hưởng tiêu cực đến tính minh bạch, liêm chính của bộ máy nhà nước và niềm tin của nhân dân đối với hoạt động quản lý, điều hành kinh tế. XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế có một số đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, tính đa chủ thể và đa tầng lợi ích. Hoạch định chính sách kinh tế luôn liên quan đến nhiều nhóm chủ thể khác nhau, bao gồm: Nhà nước, doanh nghiệp, người lao động, người tiêu dùng, các nhóm lợi ích đặc thù, cũng như cộng đồng xã hội nói chung. Mỗi chủ thể có mục tiêu và kỳ vọng khác nhau như doanh nghiệp hướng tới tối đa hóa lợi nhuận; người lao động quan tâm đến thu nhập, việc làm và an sinh; nhà nước theo đuổi tăng trưởng, ổn định vĩ mô. Sự đa dạng này khiến lợi ích khó có thể dung hòa tuyệt đối, là nền tảng khách quan làm phát sinh XĐLI trong quá trình hoạch định chính sách.
Thứ hai, tính gắn kết chặt chẽ với việc thực thi quyền lực công trong lĩnh vực kinh tế. XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế gắn liền với việc sử dụng quyền lực công để phân bổ nguồn lực xã hội (ngân sách, đất đai, tài nguyên, cơ hội thị trường). Khi người nắm quyền hoạch định hoặc tham mưu chính sách có lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm liên quan, nguy cơ “bắt giữ chính sách” xuất hiện, làm méo mó mục tiêu phục vụ lợi ích công. Đây được xem là biểu hiện nghiêm trọng nhất của XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế.
Thứ ba, tính ẩn giấu và khó nhận diện. XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế thường không biểu hiện trực diện mà có thể được che giấu dưới các lập luận mang tính kỹ trị, như đảm bảo mục tiêu tăng trưởng, ổn định vĩ mô hay tăng trưởng dài hạn… Các chính sách tưởng như trung lập nhưng thực chất lại phục vụ lợi ích của một nhóm nhất định. Tính ẩn giấu này làm cho XĐLI khó được nhận diện bằng các công cụ pháp lý truyền thống, đồng thời làm gia tăng nguy cơ hợp pháp hóa lợi ích cục bộ dưới danh nghĩa lợi ích công.
Thứ tư, tính dài hạn và tích lũy. Khác với XĐLI trong hoạt động hành chính thông thường, XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế có thể tác động đến cấu trúc thị trường, môi trường đầu tư, cạnh tranh và phân phối lợi ích xã hội trong thời gian dài. Một chính sách ưu đãi thuế, đất đai hay tín dụng ban đầu có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh lâu dài cho một nhóm doanh nghiệp, dần dần hình thành các “nhóm lợi ích cố kết”. Theo thời gian, những nhóm này có thể tiếp tục tác động để duy trì hoặc mở rộng chính sách có lợi cho mình, làm gia tăng XĐLI trong các chu kỳ hoạch định tiếp theo, làm cho XĐLI trở nên bền vững và khó đảo ngược.
Từ góc độ lý luận có thể thấy rằng, XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế là hiện tượng khách quan trong nền kinh tế thị trường. Vấn đề cốt lõi của quản trị công không phải là loại bỏ XĐLI, mà là thiết lập các cơ chế thể chế nhằm nhận diện, minh bạch hóa và kiểm soát chúng.
3. Các biểu hiện của xung đột lợi ích trong hoạch định chính sách kinh tế và vài trò của pháp luật trong việc kiểm soát chúng
Như đã phân tích, xung đột lợi ích nói chung và xung đột lợi ích trong hoạch định chính sách kinh tế nói riêng có tính đa dạng và phức tạp, có thể biểu hiện ở nhiều dạng thức khác nhau xuyên suốt toàn bộ chu trình chính sách, từ giai đoạn xác lập vấn đề, xây dựng phương án, ban hành chính sách cho đến tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách. Việc nhận diện các biểu hiện của xung đột lợi ích trong từng giai đoạn của chu trình chính sách có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng các cơ chế kiểm soát phù hợp.
Có thể nhận diện xung đột lợi ích (XĐLI) trong hoạch định chính sách kinh tế thông qua các biểu hiện chủ yếu sau đây:
Một là, XĐLI biểu hiện ở sự thiên lệch trong quá trình xác định vấn đề, thiết kế mục tiêu và lựa chọn công cụ chính sách. Thay vì xuất phát từ nhu cầu chung của nền kinh tế hoặc lợi ích công, vấn đề chính sách có thể được xác định theo hướng phản ánh lợi ích của một nhóm chủ thể cụ thể. Hệ quả là chương trình nghị sự chính sách ưu tiên xem xét các vấn đề có lợi cho nhóm này, trong khi lợi ích của các nhóm khác bị trì hoãn hoặc loại bỏ. Đồng thời, các mục tiêu và công cụ chính sách cũng có thể được thiết kế một cách có chọn lọc nhằm tối đa hóa lợi ích cho nhóm được ưu tiên, làm mờ hoặc bỏ qua các tác động bất lợi đối với các nhóm lợi ích khác và đối với lợi ích chung của nền kinh tế.
Hai là, XĐLI biểu hiện ở việc ưu tiên lợi ích nhóm trong nội dung chính sách. Trên thực tế, XĐLI thường bộc lộ rõ trong các chính sách tác động trực tiếp đến việc phân bổ nguồn lực kinh tế như chính sách thuế, đất đai, tín dụng ưu đãi hoặc tiếp cận tài nguyên. Trong các trường hợp này, các quy định ưu đãi có thể được thiết kế với những điều kiện và tiêu chí mang tính “định hướng đối tượng”, qua đó tạo lợi thế tiếp cận cho một số doanh nghiệp hoặc ngành, lĩnh vực nhất định. Đây là biểu hiện điển hình của việc chính sách kinh tế bị chi phối bởi lợi ích nhóm thay vì bảo đảm tính trung lập và cạnh tranh công bằng.

Dự án BOT cầu đường sắt Bình Lợi ( Ảnh minh họa)
Ba là, XĐLI biểu hiện trong giai đoạn thực thi và giám sát chính sách. Ngay cả khi nội dung chính sách được thiết kế tương đối trung lập, XĐLI vẫn có thể phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện. Việc lựa chọn đối tượng thụ hưởng, diễn giải linh hoạt các quy định hoặc thiếu vắng các cơ chế kiểm soát hiệu quả có thể dẫn đến phân bổ nguồn lực thiếu khách quan và công bằng, làm giảm hiệu lực và hiệu quả của chính sách kinh tế, đồng thời ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của xã hội đối với Nhà nước.
Bốn là, XĐLI biểu hiện trong quá trình thu thập, xử lý và sử dụng thông tin phục vụ hoạch định chính sách. Hoạch định chính sách kinh tế phải dựa trên dữ liệu, phân tích và tư vấn chuyên môn; tuy nhiên, XĐLI có thể phát sinh khi các thông tin, dữ liệu hoặc báo cáo phân tích được cung cấp bởi các chủ thể có lợi ích trực tiếp liên quan đến chính sách. Trong trường hợp này, thông tin có thể bị lựa chọn, sàng lọc hoặc diễn giải theo hướng có lợi cho một số đối tượng nhất định, làm suy giảm tính trung thực và toàn diện của việc đánh giá tác động chính sách. Khi đó, quá trình tham vấn chính sách có nguy cơ trở thành kênh hợp thức hóa lợi ích nhóm, thay vì công cụ phản ánh đa chiều lợi ích xã hội.
Năm là, XĐLI phát sinh và tồn tại do thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quy trình hoạch định chính sách. Sự thiếu minh bạch hạn chế khả năng giám sát của xã hội, tạo môi trường thuận lợi để XĐLI phát sinh và kéo dài. Các biểu hiện cụ thể bao gồm: quy trình tham vấn mang tính hình thức; không công khai đầy đủ đối tượng và nội dung góp ý; không công bố hoặc công bố không đầy đủ các báo cáo thuyết minh và đánh giá tác động chính sách; cũng như thiếu các cơ chế truy cứu trách nhiệm đối với các quyết định chính sách gây hậu quả tiêu cực cho xã hội. Trong những trường hợp này, XĐLI trở nên khó nhận diện, khó kiểm soát và khó xử lý kịp thời bằng các công cụ pháp lý.
Bên cạnh các biểu hiện cơ bản nêu trên, XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế còn có thể xuất hiện dưới những dạng thức tinh vi hơn, gắn với việc lợi dụng tính kỹ thuật và mức độ phức tạp của chính sách. Cụ thể, các lựa chọn chính sách có thể được trình bày như những giải pháp thuần túy mang tính chuyên môn hoặc kỹ thuật, trong khi thực chất lại hàm chứa các quyết định phân bổ lợi ích giữa các nhóm chủ thể khác nhau. Trong thực tiễn, các mục tiêu khái quát như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô hoặc thu hút đầu tư đôi khi được sử dụng để hợp thức hóa các chính sách ưu đãi mang tính chọn lọc, trong khi các tác động phân phối và chi phí xã hội không được phân tích, đánh giá đầy đủ. Ngoài ra, việc duy trì hoặc gia hạn các chính sách kinh tế kém hiệu quả, không còn phù hợp với mục tiêu phát triển chung nhưng vẫn được bảo lưu do sự chi phối của các nhóm đang hưởng lợi phản ánh cơ chế “khóa chặt lợi ích” (policy lock-in), làm suy giảm khả năng điều chỉnh chính sách dựa trên bằng chứng và lợi ích chung của nền kinh tế.
Các biểu hiện của XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế không tồn tại biệt lập mà có mối quan hệ đan xen, tương tác và củng cố lẫn nhau trong toàn bộ chu trình chính sách. Do đó, việc nhận diện và kiểm soát hiệu quả XĐLI là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao chất lượng chính sách kinh tế. Trong bối cảnh đó, pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Trước hết, pháp luật thiết lập khuôn khổ pháp lý làm cơ sở cho việc nhận diện XĐLI thông qua việc quy định khái niệm, phân loại và xác định các dấu hiệu pháp lý của XĐLI trong hoạt động công vụ nói chung và trong hoạch định chính sách kinh tế nói riêng, qua đó hình thành nhận thức thống nhất và chuẩn mực chung cho các chủ thể tham gia quá trình hoạch định chính sách.
Bên cạnh đó, pháp luật thiết lập các cơ chế phòng ngừa và hạn chế khả năng phát sinh, hiện thực hóa XĐLI thông qua các quy định về phân công, phân quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước, cũng như các quy định về minh bạch hóa thông tin, công khai lợi ích, trách nhiệm giải trình, tham vấn công khai và đánh giá tác động chính sách. Những cơ chế này góp phần mở rộng phạm vi giám sát của xã hội, tạo áp lực thể chế buộc các chủ thể hoạch định chính sách phải cân nhắc, dung hòa các lợi ích khác nhau và ưu tiên lợi ích công trong quá trình ra quyết định.
Cuối cùng, pháp luật có vai trò phát hiện và xử lý XĐLI thông qua hệ thống các cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, bao gồm thanh tra, kiểm tra, kiểm toán của các cơ quan có thẩm quyền, cùng với các cơ chế giám sát xã hội và phản biện của Nhân dân. Khi XĐLI hoặc các hành vi tư lợi được phát hiện, hệ thống chế tài pháp lý cho phép xử lý trách nhiệm pháp lý của các chủ thể liên quan, đồng thời xem xét điều chỉnh hoặc hủy bỏ các chính sách kinh tế bị chi phối bởi lợi ích riêng. Cách tiếp cận này phản ánh quan niệm hiện đại về trách nhiệm pháp lý trong hoạch định chính sách, trong đó cả chủ thể và sản phẩm chính sách đều là đối tượng của sự kiểm soát pháp lý, qua đó góp phần khôi phục và bảo đảm tính liêm chính, công bằng và định hướng vì lợi ích công của chính sách kinh tế..
4. Thực trạng pháp luật về kiểm soát XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế ở Việt Nam
Ở Việt Nam, quá trình chuyển đổi về kinh tế, xã hội đang diễn ra nhanh chóng cùng với môi trường thể chế và cơ chế quản lý còn đang trong quá trình hoàn thiện khiến cho đất nước đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi XĐLI trong hoạch định chính sách nói chung và chính sách kinh tế nói riêng[5]. Những năm gần đây, pháp luật Việt Nam về kiểm soát XĐLI đã từng bước được thiết lập và hoàn thiện. Nhìn chung, pháp luật về kiểm soát XĐLI đã thể chế hóa được quyết tâm chính trị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, góp phần xây dựng Nhà nước liêm chính nói chung, xây dựng nền quản trị tốt, tạo được sự tin tưởng, niềm tin của nhân dân, từng bước ngăn chặn, xử lý kịp thời các XĐLI trong hoạt động công vụ[6]. Tuy nhiên, việc nhận diện, kiểm soát và xử lý XĐLI trong hoạch định chính sách kinh tế chưa được điều chỉnh bằng các quy định chuyên biệt, mà được tiếp cận gián tiếp thông qua các quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Ở góc độ hiến định, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền lực nhà nước phải được kiểm soát và việc thực thi quyền lực phải hướng tới lợi ích của Nhân dân, đã tạo nguyên tắc chung cho việc phòng ngừa và kiểm soát XĐLI trong hoạch định chính sách công nói chung và hoạch định chính sách kinh tế nói riêng[7].
Hiện nay, các quy định chi tiết để nhận diện, kiểm soát và xử lý XĐLI chủ yếu được ghi nhận trong Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Lần đầu tiên khái niệm XĐLI được ghi nhận cụ thể trong một văn bản quy phạm pháp luật. Các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập; về trách nhiệm giải trình nguồn gốc tài sản; cũng như về hạn chế việc tham gia quyết định trong trường hợp có lợi ích liên quan cũng được quy định khá cụ thể tạo ra khuôn khổ pháp lý nhằm ngăn ngừa việc lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm chi phối các quyết định chính sách công[8]. Tuy vậy, các quy định này chủ yếu hướng tới kiểm soát hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong quá trình thực thi công vụ, chưa được thiết kế một cách cụ thể để áp dụng cho hoạt động hoạch định chính sách kinh tế - nơi xung đột lợi ích có thể phát sinh ngay từ giai đoạn thiết kế chính sách và có sự tham gia của nhiều chủ thể ngoài khu vực nhà nước.
Trong giai đoạn hoạch định chính sách, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025 đã ghi nhận vấn đề về kiểm soát XĐLI. Các quy định về xác định chính sách, đánh giá tác động của chính sách, lấy ý kiến, tham vấn chính sách và công khai dự thảo văn bản là những công cụ pháp lý góp phần hạn chế nguy cơ “đóng kín” quá trình hoạch định chính sách trong phạm vi một số cơ quan hoặc nhóm lợi ích nhất định[9]. Tuy nhiên, các quy định hiện có chủ yếu được thiết kế dưới dạng các yêu cầu thủ tục, chưa đặt trọng tâm vào việc nhận diện và xử lý XĐLI cụ thể. Điều này tạo ra khoảng trống pháp lý trong kiểm soát XĐLI ngay từ khâu thiết kế chính sách kinh tế.
Việc kiểm soát XĐLI trong các lĩnh vực chính sách kinh tế trọng yếu như đất đai, đầu tư công và ưu đãi doanh nghiệp cũng đã được thiết lập, tuy nhiên, chủ yếu vẫn dựa trên cơ chế kiểm soát gián tiếp. Cụ thể, trong lĩnh vực đất đai, Luật Đất đai năm 2024 quy định về nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, lựa chọn tư vấn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, nguyên tắc, căn cứ, phương pháp định giá đất… nhằm hạn chế sự tùy tiện trong quyết định hành chính[10]. Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định yêu cầu các chủ thể tham gia xây dựng chính sách đất đai phải kê khai và xử lý lợi ích liên quan, trong khi đây là lĩnh vực có nguy cơ XĐLI đặc biệt cao.
Đối với đầu tư công, Luật Đầu tư công năm 2024 cũng có quy định rõ về nguyên tắc quản lý đầu tư công, công khai, minh bạch trong đầu tư công, các hành vi bị nghiêm cấm trong đầu tư công, căn cứ lập kế hoạch đầu tư công, nguyên tắc lập kế hoạch đầu tư công[11]. Tuy vậy, các quy định về trách nhiệm cá nhân trong việc đề xuất, thẩm định và quyết định chủ trương đầu tư còn chưa rõ ràng, làm giảm hiệu quả kiểm soát XĐLI ở giai đoạn hoạch định.
Một nghiên cứu tại Việt Nam đã chỉ ra rằng, XĐLI trong hoạch định chính sách xảy ra ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó phổ biến nhất là XĐLI trong quản lý đấu thầu, cấp phép và phê duyệt dự án[12]. Hàng loạt các vụ án liên quan đến những sai phạm của cán bộ công chức liên quan đến hoạt động đấu thầu bị khởi tố trong thời gian qua đã cho thấy tính chất phức tạp của lĩnh vực này. Hiện nay Luật Đấu thầu năm 2023 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có bước tiến đáng kể trong việc nhận diện, kiểm soát và xử lý XĐLI. Dù vậy, các quy định này chủ yếu tập trung vào giai đoạn lựa chọn nhà thầu, chưa kiểm soát hiệu quả XĐLI trong việc thiết kế chính sách mua sắm công hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật.
Mặc dù hiện nay, Luật Đất đai, Luật Đầu tư công và Luật Đấu thầu đều nhấn mạnh yêu cầu công khai, minh bạch, cạnh tranh và tuân thủ quy trình trong việc phân bổ nguồn lực công. Tuy nhiên, việc trao quyền quyết định tương đối lớn cho cơ quan hành chính, cùng với các quy định mang tính khung hoặc cho phép áp dụng linh hoạt, có thể tạo ra khoảng trống cho sự can thiệp của lợi ích cục bộ trong quá trình hoạch định và thực thi chính sách kinh tế.

Ảnh minh họa
Bên cạnh các quy định nêu trên, pháp luật Việt Nam hiện nay cũng thiết lập nhiều cơ chế giám sát đối với hoạt động hoạch định và thực thi chính sách kinh tế, bao gồm giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Kiểm toán Nhà nước, cũng như vai trò phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Các cơ chế này góp phần tạo ra kênh kiểm soát bên ngoài đối với các quyết định chính sách có nguy cơ XĐLI. Mặc dù vậy, hiệu quả của các cơ chế giám sát này còn hạn chế, đặc biệt trong việc phát hiện và xử lý các XĐLI mang tính gián tiếp, tinh vi hoặc được hợp thức hóa thông qua quy trình pháp lý. Trách nhiệm giải trình cá nhân trong hoạch định chính sách kinh tế chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến tình trạng trách nhiệm bị phân tán hoặc “hòa tan” trong trách nhiệm tập thể.
5. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạch định chính sách kinh tế
Thứ nhất, cần xây dựng các quy định chuyên biệt về kiểm soát xung đột lợi ích (XĐLI) trong hoạch định chính sách kinh tế, thông qua việc bổ sung quy định tương ứng trong Luật Phòng, chống tham nhũng hoặc Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Các quy định này cần làm rõ khái niệm, phạm vi, các dạng thức XĐLI đặc thù; xác định rõ chủ thể có nghĩa vụ phòng ngừa, nhận diện và xử lý XĐLI, bao gồm cả các chủ thể ngoài khu vực nhà nước tham gia xây dựng chính sách; đồng thời quy định các biện pháp xử lý phù hợp với từng mức độ XĐLI, nhằm khắc phục tình trạng điều chỉnh phân tán và thiếu tính hệ thống hiện nay.
Thứ hai, cần đưa yêu cầu nhận diện XĐLI vào ngay từ khâu thiết kế chính sách theo hướng chuyển từ tiếp cận thuần túy thủ tục sang tiếp cận quản trị rủi ro. Theo đó, quá trình xác định chính sách và đánh giá tác động chính sách cần bao gồm nội dung đánh giá nguy cơ XĐLI, xác định các nhóm lợi ích chịu tác động và khả năng chi phối chính sách của các nhóm này; đồng thời quy định nghĩa vụ kê khai và xử lý lợi ích liên quan đối với các cá nhân, tổ chức tham gia soạn thảo, thẩm định và tư vấn chính sách kinh tế.
Thứ ba, cần bổ sung cơ chế kê khai và xử lý lợi ích liên quan trong các lĩnh vực có nguy cơ XĐLI cao như đất đai, đầu tư công, đấu thầu và mua sắm công, gắn với việc xác định rõ hệ quả pháp lý khi phát sinh XĐLI trong quá trình hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực.
Thứ tư, pháp luật cần quy định rõ trách nhiệm cá nhân của người đề xuất, thẩm định và quyết định chính sách kinh tế, đặc biệt đối với các quyết định phân bổ nguồn lực công có giá trị lớn, qua đó khắc phục tình trạng “hòa tan” trách nhiệm trong cơ chế trách nhiệm tập thể và tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý XĐLI một cách thực chất.
Thứ năm, cần hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và thu hẹp không gian tùy nghi hành chính trong hoạch định chính sách kinh tế, thông qua việc rà soát, cụ thể hóa các quy định mang tính định khung và các điều khoản cho phép áp dụng linh hoạt quá rộng; đồng thời tăng cường định lượng hóa các tiêu chí phân bổ nguồn lực, lựa chọn dự án và xác định đối tượng thụ hưởng chính sách nhằm giảm thiểu nguy cơ phát sinh XĐLI.
Thứ sáu, cần nâng cao hiệu quả giám sát và phản biện xã hội đối với XĐLI, đặc biệt là các XĐLI gián tiếp và tinh vi trong hoạch định chính sách kinh tế, thông qua việc tăng cường vai trò của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Kiểm toán Nhà nước và các cơ chế phản biện xã hội.
Các giải pháp trên hướng tới việc chuyển trọng tâm kiểm soát XĐLI từ xử lý sau khi xảy ra sang phòng ngừa và nhận diện sớm ngay trong quá trình hoạch định chính sách, qua đó góp phần nâng cao tính liêm chính, minh bạch và hiệu quả của chính sách kinh tế..
6. Kết luận
Pháp luật kiểm soát xung đột lợi ích giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ chế phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực và kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Việc tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thực hiện hiệu quả pháp luật về kiểm soát XĐLI là yêu cầu khách quan, phù hợp với tinh thần các nghị quyết của Đảng, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII và Nghị quyết số 27-NQ/TW khóa XIII. Thực hiện tốt nhiệm vụ này sẽ góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước./.
---------------------------------
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Thanh Bình, “Phòng, chống xung đột lợi ích trong xây dựng chính sách công ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Chủ nghĩa xã hội - Lý luận và thực tiễn, Số 35 (2-2025).
2. Trương Hồng Hải, “Thực trạng pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích để phòng, chống tham nhũng và một số giải pháp, kiến nghị”, https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/202211/thuc-trang-phap-luat-ve-kiem-soat-xung-dot-loi-ich-de-phong-chong-tham-nhung-va-mot-so-giai-phap-kien-nghi-311871/.
3. Nguyễn Thị Ngọc Lan, “Xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý xung đột lợi ích trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức”, https://www.quanlynhanuoc.vn/2022/03/10/xay-dung-hoan-thien-co-so-phap-ly-ve-quan-ly-xung-dot-loi-ich-trong-thuc-thi-cong-vu-cua-can-bo-cong-chuc/, truy cập: ngày 29/12/2025.
4. Ngân hàng Thế giới, Thanh tra Chính phủ, Kiểm soát xung đột lợi ích trong khu vực công - Quy định và thực tiễn ở Việt Nam, Nxb. Hồng Đức, 2016.
5.Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Managing Conflic of Interest in the Public Sector – A Toolkit, OECD Publishing, 2005, Xem tại: https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2005/08/managing-conflict-of-interest-in-the-public-sector_g1gh5807/9789264018242-en.pdf.
[1] Xem thêm: Nguyễn Thanh Bình, “Phòng, chống xung đột lợi ích trong xây dựng chính sách công ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Chủ nghĩa xã hội - Lý luận và thực tiễn, Số 35 (2-2025), tr.21.
[2] Ngân hàng Thế giới, Thanh tra Chính phủ, Kiểm soát xung đột lợi ích trong khu vực công - Quy định và thực tiễn ở Việt Nam, (Nxb. Hồng Đức, 2016), tr.21.
[3] Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Managing Conflic of Interest in the Public Sector – A Toolkit, (OECD Publishing, 2005), nguyên văn tiếng Anh: “A conflict of interest involves a conflict between the public duty and the private interest of a public official, in which the official’s private-capacity interest could improperly influence the performance of their official duties and responsibilities”,
Xem tại: https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2005/08/managing-conflict-of-interest-in-the-public-sector_g1gh5807/9789264018242-en.pdf - Truy cập: ngày 05/01/2026.
[4] Theo Khoản 8 Điều 3 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
[5] Xem thêm: Nguyễn Thanh Bình, tlđd, tr.21.
[6] Trương Hồng Hải, “Thực trạng pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích để phòng, chống tham nhũng và một số giải pháp, kiến nghị”, https://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/202211/thuc-trang-phap-luat-ve-kiem-soat-xung-dot-loi-ich-de-phong-chong-tham-nhung-va-mot-so-giai-phap-kien-nghi-311871/, Truy cập: ngày 29/12/2025.
[7] Xem cụ thể tại Điều 2, Điều 8 Hiến pháp năm 2013.
[8] Xem chi tiết tại các điều 9, 10, 11, 12, 15 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
[9] Xem chi tiết tại các điều 28, 29, 30 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.
[10] Xem chi tiết tại các điều 60, 70, 71, 74, 75, 158 Luật Đất đai năm 2024.
[11] Xem chi tiết tại các điều 13, 15, 17, 50, 51 Luật Đầu tư công năm 2024.
[12] Ngân hàng thế giới và Thanh tra Chính phủ, Kiểm soát xung đột lợi ích trong khu vực công - Quy định và thực tiễn ở Việt Nam, (Nxb. Hồng Đức, 2016), tr.11.