
Luật GTGT (sửa đổi) 2025 tập trung giải quyết 03 điểm nghẽn làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực xuất khẩu nông sản. Ảnh internet
5. Sửa đổi Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT): Giải pháp cấp bách tháo gỡ điểm nghẽn chính sách thuế
5.1 Khôi phục cơ chế khấu trừ không phải kê khai, tính nộp
Theo Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15, doanh nghiệp phải nộp 5% thuế GTGT đầu vào đối với nông sản (cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản) mua bán qua khâu thương mại, sau đó được hoàn thuế khi xuất khẩu. Tình trạng này đã dẫn đến hệ quả: (i) Lãng phí thời gian và đọng vốn của doanh nghiệp do số thuế GTGT thu rồi lại hoàn cho những mặt hàng mà phần lớn sản lượng được dành để xuất khẩu (như cá da trơn, hồ tiêu, cà phê); (ii) Áp lực tài chính lớn: Các tổ chức tín dụng không giải ngân phần thuế này khi cấp vốn lưu động. Các ngành hàng xuất khẩu chủ lực phải tạm nộp số tiền thuế khổng lồ (ví dụ: cà phê ước tính 5.000 tỷ đồng trong 6 tháng cuối năm 2025; hồ tiêu và cây gia vị khoảng 2.162 tỷ đồng); (iii) Hàng nông sản, thủy sản nhập khẩu không chịu thuế GTGT khi vào Việt Nam, tạo lợi thế cho hàng nhập khẩu và làm tăng chi phí của doanh nghiệp trong nước.
Nhằm khắc phục sự bất cập đó, dự thảo Luật Thuế GTGT sửa đổi theo hướng tái đề xuất quy định không phải kê khai, tính nộp thuế nhưng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường mua bán qua khâu thương mại. Sự điều chỉnh này, theo Bộ Tài chính có ý nghĩa quan trọng: (i) Tháo gỡ áp lực vốn: Doanh nghiệp không phải trả 5% thuế GTGT đầu vào đối với các sản phẩm nông nghiệp mua bán ở khâu thương mại, qua đó khắc phục tình trạng “thu rồi lại hoàn” và giảm áp lực tài chính, tăng hiệu quả kinh doanh; (ii) Tăng tính cạnh tranh: Đảm bảo công bằng hơn giữa hàng hóa nội địa và hàng nhập khẩu, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp trong nước, vốn đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ thiên tai. Thay đổi này cũng giải quyết sự bất bình đẳng giữa hàng hóa nội địa và hàng nhập khẩu, nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ các hiệp hội ngành hàng tỷ đô.

Dự thảo đề xuất bỏ điều kiện yêu cầu người mua chỉ được hoàn thuế khi người bán đã kê khai, nộp thuế
5.2. Hoàn thiện chính sách thuế GTGT đối với thức ăn chăn nuôi
Dự thảo Luật Thuế GTGT sửa đổi đề xuất điều chỉnh chính sách thuế GTGT đối với các sản phẩm nông nghiệp (cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản) chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi, để thực hiện theo quy định của pháp luật về thức ăn chăn nuôi. Mục đích của sửa đổi này là: (i) Giúp cơ sở sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi sẽ không phải trả 5% thuế GTGT, qua đó giảm được chi phí sản xuất đầu vào; (ii) Giảm giá thành, tăng khả năng cạnh tranh với sản phẩm thức ăn chăn nuôi nhập khẩu.
5.3. Loại bỏ điều kiện hoàn thuế GTGT
Điều kiện hoàn thuế GTGT theo quy định Luật Thuế GTGT hiện hành, yêu cầu người mua chỉ được hoàn thuế khi người bán đã kê khai, nộp thuế. Hệ quả của quy định này: (i) Doanh nghiệp xuất khẩu bị chậm hoàn thuế GTGT đầu vào do phải chờ xác định người bán hàng đã kê khai, nộp thuế; (ii) Doanh nghiệp đề nghị hoàn thuế không có công cụ pháp lý hay kỹ thuật để kiểm tra tình trạng tuân thủ thuế của người bán tại thời điểm lập hồ sơ hoàn thuế; (iii) Quy định này chưa phù hợp với nghĩa vụ chịu trách nhiệm riêng rẽ, độc lập của từng chủ thể (người mua và người bán); (iv) Dòng tiền bị đọng lại, kế hoạch kinh doanh bị gián đoạn, làm mất cơ hội cạnh tranh của doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh xuất khẩu nông sản cần sự hỗ trợ mạnh mẽ.
Dự thảo Luật Thuế GTGT sửa đổi đề xuất bỏ điều kiện yêu cầu người mua chỉ được hoàn thuế khi người bán đã kê khai, nộp thuế. Việc loại bỏ quy định này theo Bộ Tài chính được kỳ vọng sẽ (i) rút ngắn thời gian hoàn thuế, giúp việc hoàn thuế đối với cơ sở xuất khẩu được thực hiện theo quy định mà không phải chờ xác định người bán đã kê khai, nộp thuế; (ii) Cải thiện dòng tiền. Giải quyết tình trạng đọng vốn và gián đoạn kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.
* Kết luận: Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT 2023 (còn gọi là Luật Thuế GTGT 2025) là một bước đi mang tính chiến lược và kịp thời, thể hiện sự linh hoạt và chủ động của Chính phủ trong việc nắm bắt thực tiễn, lắng nghe kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp và các Hiệp hội ngành hàng. Việc trình Quốc hội xem xét thông qua theo thủ tục rút gọn tại Kỳ họp thứ 10 là minh chứng rõ nhất cho tính cấp bách của vấn đề. Sự đồng thuận cao từ các Hiệp, Hội ngành hàng xuất khẩu chủ lực (gạo, cà phê, hồ tiêu, gỗ, thủy sản) cho thấy Dự án Luật sửa đổi đã đáp ứng đúng và trúng các vướng mắc từ thực tiễn. Với việc tập trung sửa đổi 03 nhóm nội dung cốt lõi trên, dự Luật được kỳ vọng sẽ giải quyết triệt để các vướng mắc lớn đang gây khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Qua đó, không chỉ giúp doanh nghiệp tháo gỡ áp lực tài chính, đảm bảo công bằng giữa hàng hóa trong nước và nhập khẩu, mà còn tạo điều kiện để sản xuất nông nghiệp phục hồi sau thiên tai.
6. Nghị quyết về tháo gỡ vướng mắc trong thi hành Luật Đất Đai 2024: Hoàn thiện thể chế và giải phóng nguồn lực

Nghị quyết quy định một số cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai 2024
Sau hơn một năm triển khai Luật Đất đai 2024 và các văn bản hướng dẫn, bước đầu đã phát huy hiệu quả trong việc giải phóng nguồn lực đất đai, tuy nhiên thực tiễn lại phát sinh nhiều yêu cầu mới và “điểm nghẽn” đòi hỏi phải có giải pháp pháp lý linh hoạt. Trước thực trạng đó, Chính phủ trình Quốc hội khóa XV Dự thảo Nghị quyết quy định một số cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai 2024 tại kỳ họp thứ 10. Đây là một hành động mang tính cấp thiết và kịp thời.
Trả lời câu hỏi về lý do chưa sửa đổi Luật Đất đai 2024 mà sẽ ban hành bằng một Nghị quyết, bà Phạm Thị Hồng Yến - đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, cho biết: Luật Đất đai là đạo luật lớn, quan trọng. Vì vậy việc sửa đổi toàn diện Luật cần thêm thời gian để đánh giá đầy đủ, toàn diện các khó khăn, vướng mắc, đồng thời đảm bảo các giải pháp sửa đổi phải mang tính tổng thể, căn cơ, toàn diện và liên thông. Theo đó, thay vì sửa đổi toàn diện, giải pháp ban hành một Nghị quyết để tháo gỡ ngay các vướng mắc trong bối cảnh ưu tiên tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô là lựa chọn tối ưu, nhằm thể chế hóa đầy đủ và kịp thời chủ trương của Đảng, đồng thời giải quyết các vướng mắc, điểm nghẽn từ thực tiễn.
Dự thảo Nghị quyết được bố cục thành 03 Chương, 13 Điều và tập trung vào 03 nhóm nội dung cơ bản: (1) Thể chế hóa quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp theo Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Kết luận của Bộ Chính trị; (2) Giải quyết các “điểm nghẽn” đã được chỉ ra tại Thông báo số 08-TB/BCĐTW của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật; và (3) Tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành Luật Đất đai. Trên cơ sở đó, các nội dung sửa đổi, bổ sung trong Dự thảo Nghị quyết tập trung vào điều chỉnh 03 chế định lớn là Thu hồi đất/Bồi thường; Giao/Cho thuê đất; và Tài chính đất đai/Giá đất.
6.1. Cho phép thu hồi đất khi đạt được tỷ lệ thỏa thuận và đồng thuận trên 75%
Nhóm nội dung về thu hồi đất (Điều 3 Nghị quyết) bổ sung 3 trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Trong đó đáng chú ý là đề xuất về cơ chế cho phép thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội đã thực hiện thỏa thuận nhận quyền sử dụng đất trên 75% diện tích và nhận được sự đồng thuận của trên 75% số lượng chủ sử dụng đất nhưng vẫn gặp khó khăn không hoàn thành được việc giải phóng mặt bằng. Cơ chế này nhằm tháo gỡ “nút thắt” cho nhà đầu tư khi đã đàm phán được phần lớn diện tích đất nhưng vẫn bị chậm tiến độ dự án.
Tuy nhiên, UBKTTC đã bày tỏ quan điểm thận trọng, đề nghị làm rõ hơn cơ sở đề xuất tỷ lệ diện tích và tỷ lệ số người đồng thuận. Ủy ban cũng đặc biệt lưu ý việc xử lý diện tích đất còn lại và số người có đất còn lại phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và hạn chế phát sinh khiếu nại, khiếu kiện. Một số ý kiến cũng đề nghị cân nhắc áp dụng cơ chế thí điểm đối với một số trường hợp bổ sung tại các địa phương có Nghị quyết đặc thù trước khi áp dụng đại trà. Về bồi thường, dự thảo Nghị quyết quy định giá đất bồi thường và tái định cư được xác định theo bảng giá đất và hệ số điều chỉnh. UBKTTC đề nghị có quy định hài hòa lợi ích khi tính tiền bồi thường, tránh khả năng phát sinh khiếu nại do giá đất trong bảng giá thường thấp hơn mức giá trung bình đã thỏa thuận.
6.2. Được lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền một lần hoặc hàng năm
Các quy định về giao đất, cho thuê đất (Điều 4 Nghị quyết) được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn. Dự thảo Nghị quyết quy định người sử dụng đất được lựa chọn hình thức thuê đất trả tiền một lần hoặc hàng năm, trừ đơn vị sự nghiệp công lập. UBKTTC cũng tán thành việc lựa chọn hình thức thuê đất này để đảm bảo tính linh hoạt, phù hợp hơn với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Đối với các dự án sử dụng quỹ đất Nhà nước quản lý, dự thảo quy định phải thực hiện thông qua đấu giá hoặc đấu thầu, trừ trường hợp quy định tại Điều 124 Luật Đất đai. Đồng thời, bổ sung điều kiện đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư đối với dự án khu đô thị, khu dân cư nông thôn: phải có quy hoạch phân khu hoặc quy hoạch chung đối với trường hợp không yêu cầu lập quy hoạch chi tiết (khoản 6 Điều 4).

Dự thảo Nghị quyết tập trung vào điều chỉnh ba trụ cột lớn là Thu hồi đất/Bồi thường; Giao/Cho thuê đất; và Tài chính đất đai/Giá đất
UBKTTC đề nghị các quy định nêu trên cần hết sức cân nhắc, thận trọng để đảm bảo phù hợp với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, nhất là quyền định đoạt của chủ sở hữu và phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh đó, dự thảo còn tháo gỡ vướng mắc về kỹ thuật như không bắt buộc tách thửa khi chuyển mục đích sử dụng một phần thửa đất; và không bắt buộc cùng mục đích sử dụng đối với trường hợp hợp thửa (khoản 3 Điều 11).
6.3. Áp dụng Bảng giá đất để tính thu nghĩa vụ tài chính và tiền bồi thường
Các điều khoản liên quan đến tài chính đất đai và giá đất (Điều 5-10 Nghị quyết) là một trong những nội dung quan trọng và nhạy cảm nhất. Dự thảo thống nhất căn cứ tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền bồi thường dựa trên bảng giá đất, hệ số điều chỉnh và tỷ lệ thu tiền sử dụng đất theo từng loại đất. Trong đó đối với giá đất, dự thảo Nghị quyết đề xuất áp dụng Bảng giá đất (thay cho giá đất cụ thể) để tính thu nghĩa vụ tài chính và tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, trừ dự án lấn biển phải xác định giá đất cụ thể (khoản 1 Điều 7).
UBKTTC thống nhất với quan điểm tiếp cận trên song đề nghị Cơ quan soạn thảo phải bảo đảm mục tiêu chính của chính sách, tính hài hòa, minh bạch và hiệu quả, tránh gây gánh nặng tài chính cho người dân và doanh nghiệp. Ủy ban cũng đề nghị làm rõ hơn căn cứ xác định hệ số điều chỉnh giá đất, vốn là ưu điểm dễ tính toán nhưng căn cứ xác định chưa rõ ràng, liệu có đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển hay không. Điều 6 dự thảo Nghị quyết về nguyên tắc định giá đất, UBKTTC thống nhất việc định giá đất theo nguyên tắc thị trường là cần thiết để hướng tới một thị trường bất động sản minh bạch và công bằng, song lưu ý quá trình triển khai cần được thực hiện thận trọng, có lộ trình rõ ràng, với các phương pháp định giá khoa học và khách quan.
* Kết luận: Dự thảo Nghị quyết quy định một số cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức thi hành Luật Đất đai 2024 là một giải pháp can thiệp pháp lý kịp thời, thể hiện sự linh hoạt của cơ quan lập pháp trước những “điểm nghẽn” phát sinh từ thực tiễn sau hơn một năm thi hành Luật. Nghị quyết hướng tới mục tiêu thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương của Đảng và tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Việc thông qua Nghị quyết này được kỳ vọng sẽ góp phần giải phóng nguồn lực đất đai, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước và là cơ sở để nghiên cứu, sửa đổi toàn diện Luật Đất đai trong thời gian tới.
Tuy nhiên, UBKTTC đã nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục rà soát, hoàn thiện dự thảo Nghị quyết để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật, đặc biệt trong các quy định về thu hồi đất và tài chính đất đai. Việc cân nhắc thận trọng các quy định liên quan đến quyền lợi của người dân, như cơ chế thu hồi đất đối với diện tích còn lại hay áp dụng bảng giá đất để tính tiền bồi thường, là yêu cầu tối thượng và cần thiết để đảm bảo công bằng, minh bạch, không gây khiếu kiện, khiếu nại và quyền lợi hợp pháp của người dân.
…..(Còn tiếp)