Tóm tắt: Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về quản trị và phát triển bền vững, việc xây dựng Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật trở nên cấp thiết. Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Chiến lược này trên nền tảng các quan điểm của Đảng, nhằm xác định các định hướng và giải pháp chủ yếu cho phát triển hệ thống pháp luật.
Trên cơ sở phương pháp phân tích – tổng hợp văn kiện chính trị, pháp luật và tiếp cận hệ thống, bài viết làm rõ các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và định hướng phát triển pháp luật trong các lĩnh vực trọng yếu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy cần phát triển hệ thống pháp luật theo hướng hiện đại, đồng bộ, gắn với đổi mới lập pháp, nâng cao hiệu quả thực thi, kiểm soát quyền lực và thúc đẩy chuyển đổi số. Qua đó, pháp luật được khẳng định là trụ cột của quản trị quốc gia và động lực cho phát triển nhanh, bền vững.
Từ khóa: Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam; phát triển nhanh và bền vững.
STRATEGY FOR THE DEVELOPMENT OF VIETNAM’S LEGAL SYSTEM IN THE NEW DEVELOPMENT ERA
Abstract: In the context of Vietnam entering a new development era with heightened demands for governance capacity and sustainable development, the formulation of a strategy for the development of the legal system has become imperative. This article analyzes the theoretical and practical foundations for building such a strategy based on the guiding viewpoints of the Party, with a view to identifying key orientations and major solutions for the development of Vietnam’s legal system.
Employing methods of analysis and synthesis of political and legal documents, combined with a systemic approach, the article clarifies guiding principles, objectives, and development directions of the legal system across key sectors.
The findings suggest that the legal system should be developed in a modern and coherent manner, closely linked with legislative reform, enhanced effectiveness of law enforcement, strengthened control of power, and the promotion of digital transformation. Accordingly, law is affirmed as a cornerstone of national governance and a key driver of rapid and sustainable development.
Keywords: Strategy for the development of Vietnam’s legal system; rapid and sustainable development.
Đặt vấn đề
Trong bối cảnh Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với yêu cầu cao về quản trị và phát triển bền vững, hệ thống pháp luật ngày càng giữ vai trò trung tâm trong hoàn thiện thể chế phát triển. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hệ thống pháp luật vẫn còn những hạn chế về tính đồng bộ, hiệu quả thực thi và khả năng thích ứng với các yêu cầu mới.
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tiếp cận từng lĩnh vực hoặc khía cạnh riêng lẻ của pháp luật, trong khi còn thiếu những nghiên cứu mang tính tổng thể về chiến lược phát triển hệ thống pháp luật trong bối cảnh mới. Đây là khoảng trống mà bài viết hướng tới bổ sung.
Bài viết tập trung trả lời các câu hỏi: (i) cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chiến lược phát triển hệ thống pháp luật; (ii) các định hướng và nội dung cốt lõi của chiến lược; và (iii) các giải pháp trọng tâm để bảo đảm hiệu quả thực thi.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp văn kiện pháp luật và chính sách, kết hợp với tiếp cận hệ thống nhằm làm rõ các quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển pháp luật. Qua đó, bài viết đề xuất một cách tiếp cận tổng thể và các khuyến nghị chính sách cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giai đoạn mới.

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XVI
1. Về quan điểm phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam
Việc phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới cần được đặt trên nền tảng những quan điểm chỉ đạo mang tính định hướng chiến lược, bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu phát triển quốc gia và yêu cầu hoàn thiện thể chế. Các quan điểm này vừa kế thừa tư duy phát triển đã được khẳng định trong các kỳ đại hội trước, vừa phản ánh những đổi mới căn bản phù hợp với bối cảnh mới, đặc biệt là định hướng trong Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
1. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam đòi hỏi quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải bám sát quan điểm, định hướng trong các văn kiện của Đảng, bảo đảm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời, chính xác các chủ trương, đường lối phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đổi mới tư duy và phương thức xây dựng, thi hành pháp luật khoa học, hiện đại, nâng cao chất lượng thể chế và năng lực quản trị quốc gia, bảo đảm sự tham gia thực chất của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các chủ thể trong xã hội, khẳng định pháp luật là công cụ kiến tạo, dẫn dắt phát triển nhanh và bền vững đất nước.
2. Phát triển hệ thống pháp luật phải lấy mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước làm trung tâm, quán triệt các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sự thống nhất giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, con người và bảo vệ môi trường; hệ thống pháp luật là công cụ quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, hỗ trợ phân bổ hiệu quả nguồn lực, khuyến khích đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm vừa ổn định, vừa linh hoạt, có khả năng thích ứng cao với các biến động của môi trường phát triển, tạo nền tảng thể chế vững chắc cho phát triển dài hạn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.
3. Phát triển hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, nhân đạo, pháp quyền, toàn diện, đồng bộ, hiện đại và khoa học, trong đó bảo đảm các quy định pháp luật phản ánh đầy đủ các giá trị tiến bộ của xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đồng thời tạo lập khuôn khổ pháp lý minh bạch, ổn định và khả thi cho mọi lĩnh vực của đời sống; lấy con người và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ, hướng tới bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, khơi dậy tiềm năng sáng tạo và thúc đẩy phát triển; xác lập pháp luật là trụ cột trung tâm của thể chế phát triển đất nước, giữ vai trò định hướng, điều chỉnh và kiến tạo quá trình phát triển; đồng thời bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ, toàn diện và đồng bộ giữa thể chế pháp luật với các thể chế chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, môi trường và công nghệ, qua đó nâng cao chất lượng thể chế, hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh, bền vững.
4. Bám sát thực tiễn phát triển đất nước, tôn trọng các quy luật khách quan và xu hướng vận động của pháp luật, bảo đảm hệ thống pháp luật phản ánh kịp thời yêu cầu của phát triển đất nước; kế thừa các thành tựu đã đạt được, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam; bảo đảm tính ổn định, khả năng thích ứng và tính dự báo; đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và tạo nền tảng thể chế cho phát triển lâu dài của đất nước.
5. Phát triển hệ thống pháp luật phải được thực hiện theo cách thức khoa học, có lộ trình rõ ràng, gắn với tiến trình cải cách thể chế tổng thể của đất nước; xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển pháp luật theo từng giai đoạn với mục tiêu, nhiệm vụ, trọng tâm và thứ tự ưu tiên cụ thể, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả; kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật trong một quy trình liên thông, thống nhất; tăng cường điều phối, giám sát, đánh giá và điều chỉnh kịp thời việc triển khai, bảo đảm sự chủ động, linh hoạt và đồng bộ, qua đó nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật và đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Trong tổng thể, các quan điểm nêu trên tạo thành nền tảng tư duy cho việc phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới, bảo đảm hệ thống pháp luật không chỉ là công cụ điều chỉnh mà còn là động lực kiến tạo và dẫn dắt phát triển đất nước theo hướng nhanh, bền vững và bao trùm.
2. Về mục tiêu phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam
Mục tiêu của phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới cần được xác định theo hướng toàn diện, hiện đại và gắn chặt với yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Các mục tiêu này không chỉ phản ánh yêu cầu nội tại của hệ thống pháp luật mà còn thể hiện vai trò của pháp luật như một công cụ kiến tạo và dẫn dắt phát triển, phù hợp với các quan điểm, định hướng của Đảng.
Mục tiêu tổng quát
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam theo hướng hiện đại, toàn diện, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và khả thi, bảo đảm pháp luật thực sự trở thành nền tảng của quản trị quốc gia và trụ cột trung tâm của thể chế phát triển, thiết lập khuôn khổ pháp lý ổn định, an toàn, có khả năng dự báo cao nhằm điều chỉnh hiệu quả các quan hệ kinh tế - xã hội, phân bổ và kiểm soát quyền lực, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi gắn với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, qua đó tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, góp phần phát triển nhanh và bền vững đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại và đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Mục tiêu cụ thể
- Nâng cao toàn diện chất lượng của hệ thống pháp luật
Xây dựng hệ thống pháp luật hiện đại, đồng bộ, thống nhất, minh bạch và khả thi; bảo đảm tính toàn diện trong điều chỉnh các lĩnh vực của đời sống xã hội; khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất. Đổi mới căn bản quy trình xây dựng pháp luật theo hướng chuyên nghiệp, khoa học, công khai, minh bạch, kịp thời, khả thi, hiệu quả; phân định rõ quy trình xây dựng chính sách và quy trình xây dựng pháp luật; tăng cường đánh giá tác động chính sách; nâng cao tính rõ ràng, dễ tiếp cận và khả năng dự báo của các quy định pháp luật, qua đó tạo lập môi trường pháp lý ổn định, an toàn cho phát triển.
- Nâng cao hiệu lực và hiệu quả thực thi pháp luật gắn với xây dựng văn hóa pháp luật và thượng tôn pháp luật
Hoàn thiện tổ chức bộ máy thực thi pháp luật theo hướng tinh gọn, hiệu quả; tăng cường kỷ luật, kỷ cương công vụ và chuẩn mực nghề nghiệp. Thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình; bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật. Đồng thời, nâng cao văn hóa pháp luật trong xã hội, củng cố ý thức thượng tôn pháp luật của cán bộ, công chức và người dân, qua đó nâng cao giá trị thực tiễn và hiệu lực của pháp luật trong quản trị phát triển.
- Thúc đẩy chuyển đổi số và hiện đại hóa hệ thống pháp luật
Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số trong xây dựng, phổ biến và tổ chức thực hiện pháp luật; phát triển hệ thống dữ liệu pháp lý thống nhất, liên thông; nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật của người dân và doanh nghiệp; từng bước hình thành nền pháp luật số, bảo đảm tính minh bạch, kịp thời và hiệu quả trong quản trị nhà nước.
- Phát triển năng lực thích ứng và hội nhập pháp lý quốc tế
Hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tương thích với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế; nâng cao năng lực nội luật hóa và thực thi các cam kết quốc tế; tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho đầu tư, thương mại và đổi mới sáng tạo, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu.
- Phát triển nguồn nhân lực pháp luật và khoa học pháp lý
Xây dựng đội ngũ cán bộ, chuyên gia pháp luật có trình độ chuyên môn sâu, tư duy hiện đại, phẩm chất liêm chính và năng lực hội nhập quốc tế; phát triển nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cao, chú trọng phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài pháp luật. Đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo pháp luật theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của kinh tế số, xã hội số và hội nhập quốc tế; nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo và nghiên cứu pháp luật; phát triển khoa học pháp lý trở thành nền tảng tri thức cho hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật; tăng cường năng lực nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược về pháp luật trong bối cảnh kinh tế số và hội nhập quốc tế; hình thành nguồn nhân lực pháp luật có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
Trong tổng thể, các mục tiêu được thiết kế theo trật tự logic từ hoàn thiện nội dung hệ thống pháp luật, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao hiệu quả thực thi, mở rộng năng lực hội nhập đến hiện đại hóa và chuyển đổi số, qua đó bảo đảm thể chế pháp luật thực sự trở thành trụ cột của quản trị phát triển và động lực cho phát triển nhanh, bền vững đất nước.
3. Về các nội dung cốt lõi của phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam
Các nội dung cốt lõi của Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới cần được thiết kế theo một trật tự logic từ nền tảng chính trị - thể chế, đến các lĩnh vực pháp luật trọng yếu, và cuối cùng là các điều kiện bảo đảm thực thi. Cách tiếp cận này bảo đảm tính hệ thống, toàn diện, đồng bộ và phù hợp với định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam được xác định trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đó là các nội dung cốt lõi, trung tâm mang tính định hướng sau đây.
(1) Định hướng khái quát về phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới
Định hướng khái quát, bao trùm phát triển hệ thống pháp luật trong kỷ nguyên mới cần được xác lập theo hướng lấy pháp luật làm trụ cột trung tâm của thể chế phát triển, bảo đảm dẫn dắt, điều chỉnh và kiến tạo toàn bộ quá trình phát triển nhanh, bền vững đất nước. Theo đó, hệ thống pháp luật không chỉ thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội mà còn phải trở thành công cụ quản trị quốc gia hiện đại, bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân và kiểm soát quyền lực, đồng thời tạo lập môi trường ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo cho phát triển.
Về vị trí và vai trò, pháp luật giữ vai trò nền tảng chuẩn tắc cao nhất trong tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước và đời sống xã hội, là cơ sở bảo đảm sự thống nhất giữa phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và an ninh quốc gia. Về chức năng, hệ thống pháp luật cần được phát triển theo hướng kết hợp hài hòa giữa chức năng điều chỉnh, định hướng và phòng ngừa, chuyển từ mô hình phản ứng sang chủ động kiến tạo và dẫn dắt phát triển.
Về cấu trúc, hệ thống pháp luật phải được xây dựng theo hướng toàn diện, đồng bộ, thống nhất, hiện đại và mở, bao quát đầy đủ các lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời có khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi của thực tiễn, đặc biệt là các lĩnh vực mới như kinh tế số, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Cấu trúc đó cần bảo đảm sự liên thông, kết hợp chặt chẽ giữa xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật, gắn với nền tảng số và dữ liệu, hình thành hệ thống pháp luật số hiện đại, xác định rõ thứ bậc các nguồn pháp luật, mở rộng phạm vi áp dụng và xác định rõ giá trị pháp lý của các nguồn pháp luật bổ trợ (án lệ, tập quán, lẽ công bằng), đơn giản hoá hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, quy phạm pháp luật công và quy phạm pháp luật tư, tiến hành rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện cơ chế giải thích pháp luật, luật, pháp lệnh và các cơ chế hướng dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, phát triển nhân lực pháp luật, đẩy mạnh truyền thông về pháp luật, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về pháp luật[1].
Trên phương diện khái quát, định hướng phát triển hệ thống pháp luật trong kỷ nguyên mới là xây dựng một hệ thống hiện đại, đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả, lấy con người làm trung tâm, lấy phát triển bền vững làm mục tiêu, đủ năng lực đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia tiên tiến và hội nhập sâu rộng.
(2) Định hướng phát triển pháp luật về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị
Pháp luật về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị là nền tảng của hệ thống pháp luật, thiết lập khuôn khổ tổ chức, phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước; bảo đảm vận hành thống nhất, hiệu lực, hiệu quả, gắn với nguyên tắc pháp quyền, trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền con người.
Việc hoàn thiện pháp luật cần tập trung:
Tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo.
Phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, bảo đảm thống nhất và phát huy tính chủ động.
Hoàn thiện phân cấp, phân quyền giữa trung ương – địa phương gắn với kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.
Tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực; hoàn thiện giám sát, thanh tra, kiểm toán; phòng chống lạm quyền, tham nhũng.
Đổi mới phương thức hoạt động theo hướng hiện đại, minh bạch, dựa trên dữ liệu; đẩy mạnh chuyển đổi số.
Hoàn thiện pháp luật về đội ngũ cán bộ theo hướng chuyên nghiệp, liêm chính, năng lực cao.
Qua đó, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho hệ thống chính trị vận hành hiệu quả, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và đáp ứng yêu cầu phát triển.
(3) Định hướng phát triển pháp luật về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Pháp luật về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giữ vai trò trung tâm trong hệ thống pháp luật, là nền tảng thể chế cho phân bổ nguồn lực, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm công bằng xã hội. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và chuyển đổi sang kinh tế số, hệ thống pháp luật kinh tế của Việt Nam cần được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, minh bạch và có khả năng thích ứng cao.
Thực tiễn cho thấy pháp luật kinh tế hiện vẫn tồn tại một số hạn chế như: quy định về quyền tài sản và bảo vệ quyền sở hữu chưa thực sự ổn định; một số thị trường (đặc biệt là thị trường đất đai, vốn và khoa học – công nghệ) vận hành chưa đầy đủ theo cơ chế thị trường; và hiệu quả thực thi pháp luật về cạnh tranh, chống độc quyền còn hạn chế. Những vấn đề này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phân bổ nguồn lực và môi trường kinh doanh.
Trên cơ sở đó, việc phát triển pháp luật kinh tế cần tập trung vào một số định hướng trọng tâm sau: (i) hoàn thiện khung pháp lý về quyền sở hữu, quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh nhằm bảo đảm tính ổn định và khả năng dự báo; (ii) phát triển đồng bộ các loại thị trường và thiết chế thị trường theo nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh; (iii) tăng cường pháp luật về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền; và (iv) xây dựng khuôn khổ pháp lý cho các mô hình kinh tế mới, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế số và đổi mới sáng tạo.
Những định hướng này nhằm bảo đảm sự kết hợp hiệu quả giữa cơ chế thị trường và vai trò điều tiết của Nhà nước, qua đó nâng cao chất lượng thể chế kinh tế, củng cố niềm tin thị trường và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững..
(4) Định hướng phát triển pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế số
Trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia và phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật đối với các lĩnh vực mới nổi trở thành yêu cầu có tính đột phá. Pháp luật trong các lĩnh vực này cần được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt, có khả năng thích ứng nhanh với sự phát triển của thực tiễn, bảo đảm vừa khuyến khích sáng tạo, vừa phòng ngừa và xử lý hiệu quả các rủi ro phát sinh, góp phần nâng cao chất lượng quản trị và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Việc hoàn thiện pháp luật về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số cần tập trung:
- Hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu và hạ tầng số; bảo đảm thu thập, chia sẻ, bảo vệ dữ liệu; phát triển thị trường dữ liệu và kết nối liên thông.
- Xây dựng pháp luật cho công nghệ mới (AI, blockchain, IoT, điện toán đám mây) theo hướng linh hoạt; áp dụng cơ chế sandbox thúc đẩy đổi mới.
- Phát triển pháp luật về đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp; khuyến khích R&D, chuyển giao công nghệ, bảo hộ sở hữu trí tuệ và liên kết các chủ thể.
- Hoàn thiện pháp luật về giao dịch điện tử, kinh tế số; bảo đảm định danh, hợp đồng, thanh toán số và bảo vệ người tiêu dùng.
- Đổi mới quản lý nhà nước theo hướng số hóa, minh bạch, dựa trên dữ liệu; nâng cao giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm.- Phát triển nguồn nhân lực số; nâng cao năng lực thực thi và nhận thức pháp luật cho người dân, doanh nghiệp[2].
Việc triển khai đồng bộ các nội dung này sẽ tạo lập nền tảng pháp lý vững chắc cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước.
(5) Định hướng phát triển pháp luật về giáo dục và đào tạo
Pháp luật về giáo dục và đào tạo giữ vai trò nền tảng trong hệ thống pháp luật, trực tiếp định hình chất lượng nguồn nhân lực và phát triển con người - yếu tố quyết định của phát triển quốc gia. Thông qua việc xác lập các chuẩn mực về mục tiêu, nội dung, phương thức và quản trị giáo dục, pháp luật tạo khuôn khổ bảo đảm quyền học tập của mọi người, thúc đẩy công bằng và cơ hội tiếp cận giáo dục, đồng thời định hướng đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đây cũng là lĩnh vực pháp luật có tác động lan tỏa mạnh mẽ, kết nối với các lĩnh vực khác như khoa học, công nghệ, lao động và văn hóa, qua đó góp phần nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, phát huy nguồn lực con người và tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững.
Việc hoàn thiện pháp luật về giáo dục và đào tạo cần được triển khai theo hướng đồng bộ, hiện đại, lấy người học làm trung tâm và phát triển con người toàn diện, với các nội dung chủ yếu sau:
- Hoàn thiện khung pháp lý hệ thống giáo dục quốc dân, bảo đảm thống nhất, liên thông; đa dạng hóa loại hình; phát triển giáo dục mở, học tập suốt đời; bảo đảm tiếp cận công bằng.
- Đổi mới quy định về chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực; gắn với thực tiễn và nhu cầu thị trường lao động; tăng tự chủ học thuật.
- Hoàn thiện pháp luật về đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý; nâng cao chất lượng, chuẩn nghề nghiệp, đạo đức và chính sách đãi ngộ.
- Phát triển pháp luật về quản trị và tự chủ giáo dục; tăng phân cấp, gắn tự chủ với kiểm định chất lượng và trách nhiệm giải trình.
- Hoàn thiện cơ chế tài chính, đầu tư; đa dạng nguồn lực, thúc đẩy xã hội hóa, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số; phát triển hạ tầng, học liệu số; hoàn thiện pháp lý cho đào tạo trực tuyến, đánh giá và công nhận kết quả học tập. [3]
Việc hoàn thiện đồng bộ các nội dung này sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững đất nước.
(6) Định hướng phát triển pháp luật về văn hoá và con người, quyền con người
Pháp luật về văn hoá và con người giữ vai trò nền tảng định hình giá trị phát triển, gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển con người toàn diện. Đây là lĩnh vực trực tiếp thể chế hoá các giá trị như nhân phẩm, tự do, bình đẳng, khẳng định con người là trung tâm, chủ thể và mục tiêu của phát triển, đồng thời bảo đảm quyền con người, kiểm soát quyền lực và củng cố niềm tin xã hội, qua đó tạo nền tảng cho phát triển bền vững và nhân văn.
Những nội dung cốt lõi, trọng tâm của việc hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này là:
- Bảo đảm quyền con người, quyền công dân toàn diện, thực chất; hoàn thiện cơ chế thực thi, bảo vệ quyền, khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm giải trình.
- Phát triển pháp luật về văn hoá gắn với xây dựng con người toàn diện; bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá dân tộc; xây dựng hệ giá trị quốc gia, gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam.
- Gắn kết pháp luật về văn hoá, con người với phát triển kinh tế - xã hội; lấy con người làm trung tâm; thúc đẩy công bằng xã hội, bảo vệ nhóm yếu thế.
- Nâng cao hiệu quả thực thi và xây dựng văn hoá pháp luật; tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, phát huy vai trò của gia đình, cộng đồng.
- Đổi mới quản lý, nâng cao năng lực thể chế; ứng dụng công nghệ trong quản lý và cung cấp dịch vụ công.[4].
Việc hoàn thiện pháp luật theo các nội dung trên sẽ góp phần đặt con người và quyền con người vào vị trí trung tâm của thể chế phát triển, qua đó thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững và giàu tính nhân văn của đất nước trong giai đoạn mới.

Hội nghị Sơ kết 01 năm công tác tham mưu triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW và quán triệt Kết luận số 09-KL/TW do Bộ Tư pháp tổ chức tháng 3/2026
(7) Định hướng phát triển pháp luật về quản lý và sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu
Pháp luật về quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu giữ vai trò trụ cột cho phát triển bền vững, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, môi trường và an ninh sinh thái. Thông qua việc quy định khai thác tài nguyên hiệu quả, kiểm soát ô nhiễm và ứng phó rủi ro khí hậu, pháp luật định hướng phát triển xanh, tuần hoàn, đồng thời bảo vệ quyền sống trong môi trường trong lành và tăng cường năng lực quản trị quốc gia.
Việc hoàn thiện pháp luật cần tập trung:
Quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên tiết kiệm, hiệu quả; hoàn thiện cơ chế phân bổ, định giá và kiểm soát khai thác gắn với an ninh tài nguyên.
Tăng cường bảo vệ môi trường theo hướng phòng ngừa; kiểm soát ô nhiễm; phát triển kinh tế xanh, tuần hoàn và giảm phát thải.
Hoàn thiện pháp luật thích ứng biến đổi khí hậu; nâng cao dự báo, phòng ngừa rủi ro; lồng ghép vào chiến lược, quy hoạch phát triển.
Đổi mới quản lý nhà nước; tăng phân cấp đi đôi với kiểm soát quyền lực; nâng cao minh bạch và sự tham gia của xã hội.
Đẩy mạnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số; xây dựng hệ thống dữ liệu môi trường thống nhất.
Những nội dung này phù hợp định hướng phát triển nhanh, bền vững, coi quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu là trụ cột của thể chế trong giai đoạn mới.[5].
(8) Định hướng phát triển pháp luật về quốc phòng, an ninh
Pháp luật về quốc phòng, an ninh giữ vai trò trụ cột bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và bảo vệ nền tảng của Nhà nước trong hệ thống pháp luật, tạo điều kiện tiên quyết cho phát triển đất nước. Thông qua việc xác lập khuôn khổ pháp lý về bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, pháp luật định hướng tổ chức và hoạt động của các lực lượng, cơ chế phối hợp và huy động nguồn lực để phòng ngừa, phát hiện và xử lý các nguy cơ, thách thức đối với quốc gia. Đồng thời, đây là lĩnh vực pháp luật góp phần kiểm soát quyền lực trong hoạt động bảo vệ an ninh, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, củng cố niềm tin xã hội và tạo môi trường hòa bình, ổn định - nền tảng không thể thiếu cho phát triển nhanh và bền vững.
Việc hoàn thiện pháp luật cần tập trung:
Hoàn thiện khung pháp lý bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm cơ chế huy động, phân bổ nguồn lực.
Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước và cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, các cấp; bảo đảm thống nhất trong chỉ đạo, xử lý tình huống.
Tăng cường quy định phòng ngừa, phát hiện, xử lý các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống (chính trị nội bộ, kinh tế, xã hội, mạng…).
Gắn kết quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch.
Bảo đảm quyền con người, kiểm soát quyền lực; tăng cường giám sát, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Đẩy mạnh hiện đại hóa, ứng dụng khoa học - công nghệ; xây dựng lực lượng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Hoàn thiện đồng bộ các nội dung này sẽ tạo nền tảng pháp lý vững chắc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển nhanh và bền vững.
(9) Định hướng phát triển pháp luật về tư pháp
Pháp luật về tư pháp giữ vai trò trung tâm trong bảo vệ công lý và bảo đảm thực thi pháp luật trong hệ thống pháp luật, là thiết chế trực tiếp hiện thực hóa các giá trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc quy định tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, trình tự, thủ tục tố tụng và cơ chế giải quyết tranh chấp, pháp luật tư pháp bảo đảm việc áp dụng pháp luật được đúng đắn, công bằng và thống nhất. Đồng thời, đây là lĩnh vực pháp luật có vai trò then chốt trong bảo vệ quyền con người, quyền công dân, kiểm soát quyền lực và phòng ngừa oan sai, lạm quyền, qua đó củng cố niềm tin xã hội vào công lý. Với ý nghĩa đó, pháp luật về tư pháp không chỉ là khâu “thực thi cuối cùng” của pháp luật mà còn là trụ cột bảo đảm hiệu lực của toàn bộ hệ thống pháp luật, góp phần duy trì trật tự, kỷ cương và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Việc hoàn thiện pháp luật về tư pháp cần được triển khai trên cơ sở quán triệt đầy đủ tinh thần của Nghị quyết số 27-NQ/TW, tập trung vào các nội dung cốt lõi, trung tâm sau:
Việc hoàn thiện pháp luật về tư pháp cần tập trung:
- Bảo đảm tư pháp độc lập, khách quan; xác định rõ vị trí, thẩm quyền các cơ quan; phân định rành mạch điều tra – truy tố – xét xử – thi hành án; bảo đảm tranh tụng và xét xử công bằng.
- Đổi mới pháp luật tố tụng theo hướng dân chủ, minh bạch, hiện đại; bảo đảm quyền tiếp cận công lý; phòng ngừa oan, sai, bảo vệ quyền con người.
- Hoàn thiện tổ chức, hoạt động cơ quan tư pháp tinh gọn, chuyên nghiệp; nâng cao chất lượng cán bộ; tăng cường kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.
- Phát triển các thiết chế bổ trợ (luật sư, công chứng, trọng tài, hòa giải…) và đa dạng cơ chế giải quyết tranh chấp.
- Đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng tư pháp điện tử, nâng cao minh bạch và hiệu quả.
- Tăng cường thi hành pháp luật, thi hành án, bảo đảm bản án được thực thi nghiêm minh.[6]
Qua đó, góp phần xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, liêm chính, đáp ứng yêu cầu Nhà nước pháp quyền.
(10) Định hướng phát triển pháp luật số
Pháp luật số giữ vai trò nền tảng thể chế của không gian số và chuyển đổi số quốc gia trong hệ thống pháp luật, định hình khuôn khổ vận hành của kinh tế số, xã hội số và quản trị số. Thông qua việc thiết lập các quy tắc về dữ liệu, giao dịch điện tử, định danh và xác thực số, an toàn, an ninh mạng và các công nghệ mới, pháp luật số tạo môi trường pháp lý minh bạch, linh hoạt và có khả năng thích ứng cao, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển các mô hình kinh doanh mới. Đồng thời, đây là lĩnh vực pháp luật có vai trò quan trọng trong bảo vệ quyền con người trong không gian số, kiểm soát rủi ro và bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên môi trường số, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị nhà nước, tăng cường niềm tin số và tạo động lực cho phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên số.
Việc hoàn thiện pháp luật số cần tập trung vào các nội dung cốt lõi, trung tâm sau:
- Hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu; coi dữ liệu là nguồn lực phát triển; quy định rõ thu thập, chia sẻ, khai thác, bảo vệ dữ liệu; bảo đảm an ninh, quyền riêng tư và phát triển thị trường dữ liệu.
- Hoàn thiện pháp luật về định danh, xác thực điện tử và giao dịch số; xây dựng hệ thống định danh số thống nhất; bảo đảm giá trị pháp lý, độ tin cậy của giao dịch điện tử.
- Xây dựng khuôn khổ pháp lý linh hoạt cho công nghệ và mô hình mới (AI, blockchain, điện toán đám mây, kinh tế nền tảng); áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
- Bảo đảm an toàn, an ninh mạng và trật tự xã hội trên không gian số; phòng ngừa, phát hiện, xử lý vi phạm; bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng.
- Bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong môi trường số; tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền riêng tư và quyền tiếp cận thông tin.
- Đổi mới quản lý nhà nước, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số; phát triển chính phủ số, nâng cao năng lực thực thi pháp luật. [7]
Qua đó, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho không gian số, thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển bền vững.
(11) Định hướng phát triển pháp luật về đối ngoại và hội nhập quốc tế
Pháp luật về đối ngoại và hội nhập quốc tế giữ vai trò cầu nối và công cụ thể chế hóa đường lối đối ngoại trong hệ thống pháp luật, tạo khuôn khổ pháp lý cho việc mở rộng quan hệ, nâng cao vị thế và chủ động tham gia vào đời sống quốc tế. Thông qua việc xác lập các quy tắc về ký kết, thực hiện cam kết quốc tế, hợp tác đa phương và song phương, pháp luật bảo đảm sự thống nhất giữa đối nội và đối ngoại, giữa yêu cầu phát triển và bảo vệ lợi ích quốc gia. Đồng thời, đây là lĩnh vực pháp luật góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút nguồn lực và tri thức, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Ở tầm sâu hơn, pháp luật về đối ngoại và hội nhập còn là công cụ bảo đảm thực thi các chuẩn mực chung, nâng cao năng lực thích ứng của hệ thống pháp luật quốc gia và củng cố nền tảng pháp lý cho phát triển nhanh, bền vững đất nước trong bối cảnh hội nhập.
Việc hoàn thiện pháp luật về đối ngoại và hội nhập quốc tế cần tập trung vào các nội dung cốt lõi, trung tâm sau:
Việc hoàn thiện pháp luật về đối ngoại và hội nhập cần tập trung:
- Hoàn thiện khung pháp lý về ký kết, gia nhập và thực hiện cam kết quốc tế; bảo đảm thống nhất, minh bạch và nội luật hóa hiệu quả, phù hợp với nghĩa vụ quốc tế.
- Nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật đối ngoại; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp; bảo đảm gắn kết đối nội với đối ngoại.
- Hoàn thiện cơ chế bảo vệ lợi ích quốc gia trong hội nhập; phòng ngừa, xử lý tranh chấp quốc tế; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, công dân.
- Tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho hợp tác quốc tế; thúc đẩy thương mại, đầu tư, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác.
- Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực pháp lý; xây dựng đội ngũ chuyên gia am hiểu luật pháp và thông lệ quốc tế.
- Tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong hoạt động đối ngoại. [8]
Việc hoàn thiện đồng bộ các nội dung này sẽ tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vị thế quốc gia, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước.
4. Về các giải pháp phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam
Để hiện thực hóa các mục tiêu và nội dung cốt lõi của Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp mang tính hệ thống, gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng, thực thi và hoàn thiện pháp luật. Các giải pháp này phải phản ánh rõ tinh thần đổi mới tư duy thể chế, nâng cao chất lượng quản trị thể chế, phù hợp với định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Đại hội XIV của Đảng.
(1) Đổi mới quy trình xây dựng pháp luật
Đổi mới quy trình xây dựng pháp luật, nhất là quy trình lập pháp là giải pháp mang tính “đầu vào”, có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống pháp luật trong Chiến lược phát triển pháp luật. Trọng tâm là cải cách toàn diện quy trình này theo hướng khoa học, minh bạch, chặt chẽ và dựa trên bằng chứng, bảo đảm mỗi chính sách, mỗi quy định pháp luật được hình thành trên cơ sở phân tích đầy đủ nhu cầu thực tiễn và tác động đa chiều.
Theo đó, cần tăng cường thực chất việc đánh giá tác động chính sách, coi đây là khâu bắt buộc, xuyên suốt trong quá trình xây dựng pháp luật; đồng thời mở rộng sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, các nhà khoa học và chuyên gia nhằm nâng cao tính khách quan, khả thi và tính đồng thuận xã hội. Cùng với đó, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong toàn bộ quy trình lập pháp, từ đề xuất chính sách, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra đến ban hành và theo dõi thi hành, góp phần nâng cao tính minh bạch, rút ngắn thời gian và tăng hiệu quả quản lý[9].
Việc đổi mới quy trình lập pháp cần hướng tới khắc phục căn bản tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất của pháp luật, nâng cao tính ổn định, khả thi và khả năng dự báo của hệ thống pháp luật, qua đó tạo lập khuôn khổ pháp lý chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu quản trị hiện đại và phát triển nhanh, bền vững đất nước.
(2) Đổi mới thực hiện pháp luật
Đổi mới thực hiện pháp luật là giải pháp then chốt trong thực hiện Chiến lược phát triển pháp luật, quyết định việc chuyển hóa các quy định pháp luật thành giá trị thực tiễn trong đời sống xã hội. Bên cạnh việc hoàn thiện xây dựng pháp luật, cần đổi mới mạnh mẽ tổ chức và phương thức thực thi theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, kỷ cương và hiệu quả, bảo đảm pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm minh.
Trọng tâm là hoàn thiện tổ chức bộ máy thực thi pháp luật tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gắn với phân định rõ chức năng, thẩm quyền và trách nhiệm; đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng liêm chính, chuyên nghiệp, có năng lực thực thi cao. Cùng với đó, cần tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, siết chặt trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực và cơ chế giám sát trong thực thi pháp luật.
Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong tổ chức thực hiện pháp luật, xây dựng nền hành chính pháp quyền số, nâng cao tính công khai, minh bạch và khả năng tiếp cận pháp luật của người dân, doanh nghiệp. Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị nhà nước, từng bước thu hẹp khoảng cách giữa “pháp luật trên giấy” và “pháp luật trong thực tiễn”, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh và bền vững đất nước[10].
(3) Tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực
Tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát quyền lực là giải pháp trọng yếu trong thực hiện Chiến lược phát triển pháp luật, nhằm bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh, thống nhất và hiệu quả trong toàn bộ hệ thống chính trị. Đây không chỉ là công cụ bảo đảm kỷ cương pháp luật mà còn là cơ chế phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm trong hoạt động công quyền.
Trọng tâm là hoàn thiện đồng bộ cơ chế kiểm tra, giám sát trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp, bảo đảm sự vận hành chặt chẽ, minh bạch và có trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Đồng thời, cần phát huy vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, các tổ chức xã hội và người dân, qua đó mở rộng kiểm soát xã hội đối với quyền lực nhà nước, nâng cao tính công khai, minh bạch trong quản trị.
Cùng với đó, kiểm soát quyền lực phải được thể chế hóa đầy đủ bằng pháp luật và thực hiện nghiêm trong khuôn khổ pháp luật, gắn với cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lực nhà nước. Việc tăng cường kiểm soát quyền lực góp phần quan trọng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn ngừa lạm quyền, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Thực hiện hiệu quả giải pháp này sẽ củng cố kỷ luật, kỷ cương pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và tăng cường niềm tin của xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn phát triển mới.
(4) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp lý
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp lý là giải pháp mang tính nền tảng trong thực hiện Chiến lược phát triển pháp luật, quyết định trực tiếp đến chất lượng xây dựng, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật. Trong bối cảnh phát triển mới, nguồn nhân lực pháp lý không chỉ cần vững về chuyên môn mà còn phải có tư duy hiện đại, năng lực liên ngành và khả năng thích ứng với những biến đổi nhanh của đời sống kinh tế - xã hội.
Trọng tâm là đổi mới căn bản công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ pháp lý theo hướng hiện đại, gắn lý luận với thực tiễn, kết hợp chặt chẽ giữa kiến thức pháp luật với kinh tế, công nghệ, quản trị và các lĩnh vực liên quan; nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp luật, hướng tới chuẩn hóa và chuyên nghiệp hóa đội ngũ.
Đồng thời, cần chú trọng phát triển đội ngũ chuyên gia pháp lý chất lượng cao, có năng lực tham gia hoạch định chính sách, xây dựng và hoàn thiện pháp luật, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như kinh tế số, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập; tăng cường năng lực nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược.
Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và trọng dụng nhân tài pháp luật, xây dựng môi trường làm việc liêm chính, chuyên nghiệp, khuyến khích sáng tạo và cống hiến; nâng cao đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm công vụ.
Thực hiện hiệu quả giải pháp này sẽ tạo dựng đội ngũ nhân lực pháp lý đủ năng lực, phẩm chất và tầm nhìn, góp phần nâng cao chất lượng thể chế, tăng hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật và đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới[11].

Ảnh minh hoạ
(5) Nâng cao trình độ văn hóa pháp luật trong xã hội
Nâng cao trình độ văn hóa pháp luật trong xã hội là giải pháp mang tính nền tảng, lâu dài trong thực hiện Chiến lược phát triển pháp luật, nhằm hình thành môi trường xã hội thượng tôn pháp luật và hành xử theo pháp luật. Đây không chỉ là yêu cầu hỗ trợ thực thi pháp luật mà còn là điều kiện cốt lõi để bảo đảm tính ổn định, hiệu lực và tính bền vững của toàn bộ hệ thống pháp luật.
Trọng tâm là đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng thiết thực, hiệu quả và phù hợp với từng nhóm đối tượng, nâng cao ý thức pháp lý, tinh thần trách nhiệm và năng lực tuân thủ pháp luật của người dân, doanh nghiệp. Đồng thời, cần đổi mới nội dung, phương thức truyền thông pháp luật, gắn với ứng dụng công nghệ số, tăng cường khả năng tiếp cận pháp luật một cách thuận tiện, kịp thời.
Bên cạnh đó, việc nâng cao văn hóa pháp luật cần gắn với xây dựng niềm tin xã hội vào công lý và pháp quyền, thông qua bảo đảm thực thi pháp luật công bằng, minh bạch, nghiêm minh; phát huy vai trò của gia đình, nhà trường và các thiết chế xã hội trong hình thành thói quen, chuẩn mực hành xử theo pháp luật.
Thực hiện hiệu quả giải pháp này sẽ góp phần hình thành nền văn hóa thượng tôn pháp luật, nơi pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến, qua đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị, củng cố trật tự, kỷ cương xã hội và tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh, bền vững đất nước[12].
(6) Đẩy mạnh số hóa, dữ liệu hóa hệ thống pháp luật
Đẩy mạnh số hóa, dữ liệu hóa hệ thống pháp luật là một giải pháp trọng tâm trong thực hiện Chiến lược phát triển pháp luật, nhằm chuyển đổi phương thức xây dựng, tổ chức thực hiện và khai thác pháp luật từ truyền thống sang nền tảng số, qua đó nâng cao chất lượng thể chế và hiệu quả quản trị quốc gia.
Trước hết, cần xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu pháp luật thống nhất, liên thông và chuẩn hóa, bảo đảm cập nhật đầy đủ, kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật, án lệ, giải thích pháp luật và các dữ liệu liên quan; hình thành “hạ tầng dữ liệu pháp lý” làm nền tảng cho hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Bên cạnh đó, đẩy mạnh số hóa toàn bộ quy trình xây dựng và thực hiện pháp luật, từ đề xuất chính sách, soạn thảo, thẩm định, ban hành đến tổ chức thực thi, giám sát và đánh giá; ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong phân tích dữ liệu, đánh giá tác động chính sách và dự báo xu hướng phát triển pháp luật.
Đồng thời, phát triển các nền tảng số phục vụ tiếp cận và sử dụng pháp luật, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin pháp lý của người dân và doanh nghiệp; thúc đẩy công khai, minh bạch và tăng cường sự tham gia của xã hội vào quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật.
Việc số hóa, dữ liệu hóa cũng cần gắn với bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo vệ dữ liệu, xây dựng các tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ chế quản lý phù hợp, bảo đảm vận hành hiệu quả và bền vững[13].
Thực hiện đồng bộ giải pháp này sẽ góp phần hình thành hệ thống pháp luật số hiện đại, minh bạch, dễ tiếp cận và có khả năng dự báo cao, nâng cao chất lượng thể chế, tăng hiệu lực thực thi pháp luật và tạo động lực cho phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên số.
(7) Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về pháp luật
Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về pháp luật là giải pháp quan trọng trong thực hiện Chiến lược phát triển pháp luật, góp phần nâng cao chất lượng hệ thống pháp luật và năng lực thể chế trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng. Thông qua hợp tác quốc tế, hệ thống pháp luật được tiếp cận với các chuẩn mực tiến bộ, kinh nghiệm tốt và xu hướng phát triển mới, từ đó nâng cao tính hiện đại, đồng bộ và khả thi.
Trọng tâm là chủ động tham gia và nâng cao hiệu quả thực hiện các cam kết, khuôn khổ hợp tác pháp lý, đồng thời tăng cường năng lực nội luật hóa, bảo đảm sự phù hợp và thống nhất giữa pháp luật trong nước với các nghĩa vụ đã cam kết. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh trao đổi kinh nghiệm, học hỏi mô hình và thực tiễn tốt trong xây dựng và quản trị pháp luật, phục vụ trực tiếp cho quá trình hoàn thiện thể chế trong nước.
Cùng với đó, cần phát triển nguồn nhân lực pháp lý có năng lực hội nhập, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng tham gia đàm phán, xử lý các vấn đề pháp lý có yếu tố nước ngoài; tăng cường hợp tác đào tạo, nghiên cứu và chia sẻ tri thức pháp lý.
Thực hiện hiệu quả giải pháp này không chỉ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật mà còn nâng cao vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nhanh, bền vững đất nước trong bối cảnh hội nhập[14].
Kết luận
Xây dựng Chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược, quyết định chất lượng thể chế và hiệu quả quản trị quốc gia. Trên nền tảng các quan điểm chỉ đạo nhất quán, Chiến lược cần hướng tới xây dựng một hệ thống pháp luật hiện đại, đồng bộ, minh bạch, khả thi và thích ứng cao, bảo đảm pháp luật thực sự trở thành trụ cột của thể chế phát triển. Việc triển khai đồng bộ các nội dung cốt lõi và giải pháp thực hiện sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của pháp luật, củng cố niềm tin xã hội, bảo vệ công lý và quyền con người, đồng thời tạo lập môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Qua đó, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
[1] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn hiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, tr.104-107,163-164, Hà Nội, 2026.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, tr.100-104,161-163, Hà Nội, 2026.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, tr.97-100,161, Hà Nội, 2026.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, tr.110-113,165, 166, Hà Nội, 2026.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, tr.126-129,170, 171, Hà Nội, 2026; Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn hiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, tr.104-107,163, 164, Hà Nội, 2026; Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, tr.117-120,168, 169, Hà Nội, 2026.
[9] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn hiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới; Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[10] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn hiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
[11] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn hiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
[12]Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn hiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, tr.180, Hà Nội, 2026; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
[14] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn hiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
---------------------------
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, II, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. World Bank (2017), World Development Report 2017: Governance and the Law, Washington D.C.
4. World Bank (2021), World Development Report 2021: Data for Better Lives, Washington D.C.
5. Ngân hàng Thế giới (2021), Việt Nam 2045: Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ.
6. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn hiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
7. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
8. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
9. Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.