Nhà báo và Đại biểu Quốc hội đều phải bắt đầu từ thực tiễn và vì Nhân dân

Báo chí cách mạng luôn có vai trò đặc biệt trong kết nối chính sách với đời sống, phản ánh tiếng nói của Nhân dân và góp phần giám sát quyền lực. Từ trải nghiệm của một nhà báo điều tra đến hoạt động nghị trường, TS. Vũ Văn Tiến, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội chia sẻ với Pháp luật Việt Nam góc nhìn về giá trị của báo chí trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, hoàn thiện thể chế, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và giữ vững niềm tin công chúng trong thời đại trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ.
1-1781963874.jpg

TS. Vũ Văn Tiến, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

Báo chí - cầu nối giữa chính sách với thực tiễn

Thưa ông, nhiều vấn đề lớn của đất nước, từ cải cách thể chế, hoàn thiện pháp luật đến phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực… đều có sự đồng hành tích cực của báo chí. Vậy đâu là giá trị đặc biệt mà báo chí cách mạng mang lại trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam?

- Vai trò đặc biệt của báo chí cách mạng trong xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trước hết nằm ở khả năng kết nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, giữa chính sách với thực tiễn thi hành.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên nền tảng thể chế đầy đủ, đồng bộ, cùng với các cơ chế bảo đảm để pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, được Nhân dân hiểu đúng, đồng thuận, tự giác chấp hành và giám sát việc tổ chức thực thi. Ở phương diện đó, báo chí như “tấm gương” giúp chính sách được soi chiếu từ đời sống để cơ quan quản lý và xây dựng pháp luật nhìn rõ hơn những “điểm nghẽn”, “khoảng trống”, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc những quy định chưa thực sự khả thi.

Bên cạnh đó, báo chí cách mạng còn có vai trò đặc biệt trong giám sát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Nhiều vụ việc báo chí phát hiện, phản ánh đã giúp cơ quan chức năng vào cuộc, xử lý sai phạm, tháo gỡ bất cập, hoàn thiện cơ chế, chính sách, củng cố niềm tin xã hội. Đó là đóng góp rất thiết thực vào quá trình xây dựng một nền quản trị công khai, minh bạch, liêm chính, hiệu lực, hiệu quả.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, thể chế được xác định là đột phá chiến lược, thì báo chí càng phải phát huy vai trò đồng hành, phản biện, giám sát và kiến tạo. Báo chí không làm thay cơ quan chức năng, nhưng luôn góp phần quan trọng để pháp luật bám sát thực tiễn, tháo gỡ “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực phát triển và phục vụ Nhân dân hiệu quả hơn.

Báo chí là một kênh “giám sát xã hội” rất hiệu quả. Theo ông, cần làm gì để những phát hiện, kiến nghị từ báo chí được các cơ quan có thẩm quyền tiếp thu, xử lý đến cùng, tránh tình trạng phản ánh nhiều nhưng chuyển biến chưa tương xứng?

- Báo chí đã và đang là một kênh giám sát xã hội rất quan trọng. Nhưng để việc giám sát này tạo ra chuyển biến tích cực, thực chất, không thể chỉ dừng lại ở việc báo chí phát hiện, phản ánh, còn cơ quan chức năng có tiếp thu hay không, xử lý đến đâu lại thiếu cơ chế theo dõi rõ ràng.

Trước hết cần thiết lập cơ chế phản hồi bắt buộc, công khai và minh bạch đối với những vấn đề báo chí phản ánh có căn cứ, liên quan trực tiếp đến lợi ích cộng đồng, quyền lợi của người dân, doanh nghiệp hoặc dấu hiệu vi phạm pháp luật. Khi báo chí nêu vấn đề, cơ quan có thẩm quyền cần có trách nhiệm kiểm tra, xác minh, cung cấp thông tin, phản hồi rõ ràng: nội dung nào đúng, nội dung nào chưa chính xác, hướng xử lý ra sao, thời hạn thế nào, trách nhiệm thuộc về ai. Không nên để tình trạng im lặng, né tránh, trả lời chung chung hoặc chỉ xử lý tình huống truyền thông mà không đi vào gốc rễ của vấn đề.

Mặt khác, cần coi những phát hiện, kiến nghị xác đáng của báo chí là một nguồn thông tin đầu vào trong hoạt động quản lý nhà nước, xây dựng chính sách, thanh tra, kiểm tra, giám sát và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Cùng với đó là sự tăng cường phối hợp giữa cơ quan báo chí với Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan bảo vệ pháp luật. Báo chí phát hiện vấn đề; đại biểu dân cử, Mặt trận và các cơ quan giám sát có thể tiếp tục đặt vấn đề, chất vấn, yêu cầu giải trình, theo dõi kết quả xử lý. Khi đó, phản ánh của báo chí sẽ không đơn độc, không bị rơi vào “im lặng” mà được nối tiếp bằng trách nhiệm thể chế.

Nghề báo cho tôi bài học về sự kiên trì

Thưa ông, nhiều năm làm phóng viên điều tra, giúp ông tiếp cận trực tiếp với những vấn đề “nóng” của đời sống xã hội, từ những bất cập trong công tác quản lý đến những trăn trở của người dân. Khi trở thành Đại biểu Quốc hội (ĐBQH), những trải nghiệm ấy sẽ hỗ trợ ông như thế nào trong hoạt động giám sát và xây dựng chính sách?

2-1781963880.jpg

Ấn phẩm “Điều tra và dấn thân trong nghề báo” của tác giả Vũ Văn Tiến, do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành

- Những năm tháng hoạt động báo chí, nhất là phóng viên điều tra, cho tôi nhiều vốn sống rất quý. Đó không chỉ là kỹ năng thu thập thông tin, kiểm chứng tài liệu, tiếp cận nhân chứng, đọc hồ sơ hay lần những đầu mối mơ hồ để đi đến cùng bản chất của vụ việc; ở tầng sâu hơn, đó là thói quen nhìn chính sách từ đời sống, nhìn quản lý nhà nước từ tác động thực tế đối với người dân.

Khi thực hiện các tuyến bài điều tra, phản ánh, phóng viên không thể chỉ nghe một phía hay dựa vào cảm nhận ban đầu. Mỗi vấn đề đều phải được tiếp cận qua nhiều lớp thông tin: đơn thư, hồ sơ, tài liệu, hiện trường, nhân chứng, ý kiến của cơ quan chức năng và phản hồi của đối tượng liên quan. Quá trình xác minh thông tin giúp người làm báo rèn giũa thói quen thận trọng với từng chi tiết, biết đặt câu hỏi trước những điểm chưa hợp lý, biết đối chiếu giữa lời nói, văn bản và thực tế. Với tôi, đó là hành trang rất quan trọng để làm tốt hơn trách nhiệm của một đại biểu dân cử. Bởi khi hoạt động nghị trường, thói quen kiểm chứng thông tin, không nhìn sự việc từ một phía và luôn đi đến cùng bản chất vấn đề tiếp tục hỗ trợ tôi rất nhiều trong giám sát và xây dựng chính sách.

Những trải nghiệm làm báo giúp tôi luôn tự nhắc mình rằng, hoạt động lập pháp và giám sát không được xa rời thực tiễn. Đồng thời, xây dựng chính sách không chỉ đúng về mục tiêu mà phải khả thi trong tổ chức thực hiện, giảm được khó khăn cho người dân và doanh nghiệp, tạo động lực phát triển, bảo vệ được người yếu thế, đo lường được hiệu quả sau khi ban hành.

Đặc biệt, nghề báo cho tôi bài học về sự kiên trì theo đuổi vấn đề. Một vụ việc điều tra nếu chỉ phản ánh một lần rồi bỏ đó thì khó tạo chuyển biến. Hoạt động giám sát của ĐBQH cũng vậy, phải theo đến cùng, giám sát đến nơi đến chốn, có phản hồi, có kết quả, rõ trách nhiệm. Giám sát không chỉ để chỉ ra tồn tại, mà quan trọng hơn là để tháo gỡ “điểm nghẽn”, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy bộ máy phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.

Từ góc nhìn của một người từng làm phóng viên điều tra, ông đánh giá thế nào về vai trò của báo chí trong việc phát hiện những bất cập của pháp luật và giám sát việc thực thi pháp luật hiện nay? Trong quá trình hoạt động nghị trường, đã bao giờ những thông tin từ báo chí hoặc kinh nghiệm nghề báo giúp ông phát hiện thêm những vấn đề cần chất vấn, giám sát hoặc kiến nghị hoàn thiện chính sách hay chưa?

- Tôi đánh giá rất cao vai trò của báo chí trong phát hiện bất cập pháp luật và giám sát thực thi pháp luật. Bởi pháp luật dù được xây dựng công phu đến đâu, khi đi vào đời sống vẫn có thể phát sinh những vấn đề mà quá trình soạn thảo chưa lường hết. Báo chí với lợi thế bám sát thực tiễn, tiếp xúc thường xuyên với người dân, doanh nghiệp, cơ sở, có khả năng phát hiện rất nhanh những tồn tại, “điểm nghẽn” thể chế.

Từ kinh nghiệm làm báo, tôi thấy giá trị lớn nhất của một tác phẩm báo chí không chỉ là nêu hiện tượng, mà là chỉ ra bản chất, nguyên nhân, hệ quả và gợi mở hướng xử lý. Một bài báo điều tra có thể cho thấy kẽ hở pháp luật, sự chồng chéo trong quản lý, trách nhiệm bị đùn đẩy hoặc khoảng cách giữa chính sách và thực thi. Đó là những thông tin rất hữu ích cho hoạt động giám sát và xây dựng chính sách.

Trong hoạt động nghị trường, thông tin từ báo chí luôn là nguồn tham khảo quan trọng đối với tôi. Tất nhiên, ĐBQH phải kiểm chứng, đối chiếu với nhiều nguồn khác nhau: Báo cáo của cơ quan nhà nước, ý kiến chuyên gia, phản ánh của cử tri, khảo sát thực tế. Nhưng rất nhiều vấn đề ban đầu được gợi mở từ báo chí.

Pháp luật phải tạo cơ sở pháp lý để khơi thông nguồn lực, hình thành động lực tăng trưởng mới, chứ không thể là rào cản của phát triển. Vì vậy, những phản ánh từ báo chí nếu có cơ sở đều là những thông tin rất đáng suy ngẫm đối với ĐBQH.

Nhà báo và ĐBQH đều là những người lắng nghe từ thực tiễn, phản ánh tiếng nói của Nhân dân đến cơ quan chức năng, chỉ khác nhau về phương thức hoạt động. Từ trải nghiệm của mình, ông nhìn nhận thế nào về điểm gặp gỡ giữa hai vai trò này?

- Nhà báo và ĐBQH có phương thức hoạt động, vị trí pháp lý, công cụ khác nhau, nhưng có một điểm gặp gỡ rất căn bản, đều phải bắt đầu từ thực tiễn và vì Nhân dân.

Nhà báo lắng nghe đời sống để phát hiện vấn đề, phản ánh sự thật, khơi mở dư luận xã hội, thúc đẩy cơ quan chức năng vào cuộc. ĐBQH lắng nghe cử tri để tham gia xây dựng pháp luật, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước. Nhưng cả hai đều phải trung thành với sự thật, vì lợi ích cộng đồng và quyền lợi chính đáng của Nhân dân.

Điểm gặp gỡ thứ hai là trách nhiệm phản ánh trung thực. Nhà báo không được phản ánh sai sự thật, không được chạy theo tin giật gân, một chiều. ĐBQH cũng không thể phát biểu cảm tính, chủ quan, thiếu căn cứ. Cả hai đều cần dữ liệu, chứng cứ, sự kiểm chứng và bản lĩnh để nói đúng, nói trúng, nói có trách nhiệm.

Điểm gặp gỡ thứ ba là tinh thần dấn thân. Dấn thân của nhà báo là đi vào điểm nóng, vụ việc phức tạp, chịu áp lực để tìm ra sự thật. Dấn thân của ĐBQH là không né tránh vấn đề khó, không ngại va chạm khi bảo vệ quyền lợi chính đáng của cử tri, dám chất vấn, dám kiến nghị, dám theo đuổi đến cùng những vấn đề dân sinh bức xúc.

Khi báo chí và ĐBQH cùng gặp nhau ở tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, cùng tôn trọng sự thật, hành động vì lợi ích chung thì tiếng nói của Nhân dân sẽ được lắng nghe đầy đủ hơn, phản ánh trách nhiệm hơn và góp phần tạo ra những chuyển biến thiết thực trong đời sống xã hội.

Giữ vững giá trị cốt lõi trong thời đại AI

Trong thời đại phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), tốc độ không còn là lợi thế duy nhất của báo chí. Theo ông, điều gì sẽ tạo nên sức cạnh tranh và vị thế đặc biệt của báo chí cách mạng trong những năm tới?

- AI, mạng xã hội và các nền tảng số có thể tạo ra, phân phối, cá nhân hóa thông tin với tốc độ rất nhanh. Nhưng tốc độ không đồng nghĩa với sự thật, càng không đồng nghĩa với niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Theo tôi, sức cạnh tranh và vị thế đặc biệt của báo chí cách mạng trong những năm tới sẽ được quyết định bởi một số yếu tố cốt lõi.

Trước hết là sự thật và độ tin cậy. Trong môi trường thông tin nhiễu loạn, tin giả, tin sai lệch và nội dung do AI tạo ra ngày càng nhiều, công chúng sẽ cần những địa chỉ có thể kiểm chứng, có trách nhiệm, có chuẩn mực nghề nghiệp. Báo chí cách mạng phải trở thành nơi công chúng tìm đến để biết đâu là sự thật, đâu là bản chất, đâu là thông tin đã được kiểm chứng.

Thứ hai là chiều sâu phân tích và năng lực giải thích chính sách. Báo chí không thể chỉ chạy theo tin ngắn, tin nhanh, tin vụ việc. Những vấn đề lớn của đất nước như cải cách thể chế, hoàn thiện pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, chuyển đổi số, an sinh xã hội, giáo dục, y tế, môi trường, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực… đều cần báo chí giải thích bằng ngôn ngữ dễ hiểu, gần dân, có dữ liệu, có bối cảnh, có đánh giá tác động. Công chúng không chỉ cần biết chuyện gì xảy ra, mà cần hiểu nguyên nhân, sự tác động và cần hành động ra sao.

Thứ ba là bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội của người làm báo. Công nghệ có thể hỗ trợ rất nhiều, nhưng không thể thay thế lương tri, bản lĩnh, sự dấn thân và trách nhiệm của người làm báo cách mạng. AI có thể tổng hợp thông tin, gợi ý nội dung, phân tích dữ liệu, nhưng AI không thể thay nhà báo có mặt ở hiện trường, đối diện áp lực, bảo vệ nguồn tin, lắng nghe người yếu thế và chịu trách nhiệm xã hội trước tác phẩm của mình.

Thứ tư là khả năng tham gia kiến tạo đồng thuận xã hội. Trong giai đoạn phát triển mới, nhiều quyết sách lớn của đất nước sẽ liên quan trực tiếp đến thể chế, pháp luật, tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, khơi thông nguồn lực, bảo vệ quyền lợi của người dân và doanh nghiệp. Báo chí phải truyền thông từ sớm, từ xa, giúp người dân hiểu đúng; đồng thời phản ánh kịp thời những vướng mắc trong thực thi để chính sách được điều chỉnh, hoàn thiện.

Thứ năm là khả năng giữ vai trò dòng thông tin chủ lưu bằng chất lượng. Báo chí cách mạng phải có mặt ở những vấn đề lớn, những thời điểm cần thiết, những vùng trũng thông tin; phải “phủ xanh” không gian mạng bằng thông tin chính xác, nhân văn, tích cực, có sức thuyết phục; đồng thời kiên quyết đấu tranh với thông tin xấu độc, sai trái, thù địch.

Tôi cho rằng, trong thời đại AI, báo chí muốn giữ vị thế thì không thể đứng ngoài công nghệ, nhưng cũng không được đánh mất giá trị cốt lõi của mình. Công nghệ là công cụ, con người là trung tâm; tốc độ là cần thiết, nhưng sự thật, chiều sâu, bản lĩnh, trách nhiệm và niềm tin mới là nền tảng quyết định. Báo chí cách mạng nếu làm được điều đó sẽ không thể bị thay thế, mà còn có cơ hội tái định vị mạnh mẽ hơn, trở thành trụ cột thông tin tin cậy, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền, hoàn thiện thể chế và kiến tạo phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trân trọng cảm ơn ông!

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin