Tóm tắt: Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy hoạt động giám sát, phản biện chính sách trong lĩnh vực kinh tế vẫn còn những hạn chế nhất định về tính chuyên sâu, hiệu lực pháp lý và mức độ tác động đến quá trình hoạch định chính sách. Bài viết này nhằm phân tích cơ sở pháp lý, thực trạng và những vấn đề đặt ra trong hoạt động giám sát, phản biện chính sách kinh tế của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội. Trên cơ sở phương pháp phân tích văn bản pháp luật, so sánh pháp luật và tổng kết thực tiễn, bài viết chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiệu quả giám sát, phản biện còn hạn chế, bao gồm khuôn khổ pháp lý chưa đồng bộ, năng lực chuyên môn chưa đáp ứng yêu cầu và cơ chế tiếp thu phản biện chưa rõ ràng. Từ đó, bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát, phản biện chính sách trong lĩnh vực kinh tế, góp phần bảo đảm tính minh bạch, dân chủ và bền vững của quá trình phát triển kinh tế – xã hội.
Từ khóa: giám sát; phản biện; Mặt trận Tổ quốc; tổ chức xã hội; lĩnh vực kinh tế
Improving the quality of policy monitoring and critique by the Fatherland Front and social organizations in the economic sector
Abstract: In the context of Vietnam’s efforts to build a socialist rule-of-law state and improve the socialist-oriented market economy, the role of policy supervision and criticism by the Vietnam Fatherland Front and social organizations has become increasingly significant. However, practical experience shows that supervisory and critical activities in the economic sector remain limited in terms of depth, legal effectiveness, and actual impact on policy-making. This article analyzes the legal framework, current practices, and emerging challenges in policy supervision and criticism conducted by the Vietnam Fatherland Front and social organizations in economic matters. Using methods of legal analysis, comparative law, and practical review, the study identifies key factors constraining effectiveness, including an incomplete legal framework, insufficient professional capacity, and unclear mechanisms for incorporating social criticism into policy decisions. Based on these findings, the article proposes several recommendations to enhance the quality and effectiveness of policy supervision and criticism in the economic sector, thereby contributing to greater transparency, democratic participation, and sustainable socio-economic development in Vietnam
Key words: supervision; policy criticism; Vietnam Fatherland Front; social organizations; economic policy

Hội nghị hiệp thương với các tổ chức chính trị - xã hội thống nhất các nội dung trong kế hoạch giám sát, phản biện xã hội năm 2026 của Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam
1. Đặt vấn đề
Giám sát và phản biện xã hội (gọi tắt là giám sát, phản biện) được xác định là chức năng quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội, nhằm mở rộng dân chủ, bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của các quyết định thuộc hệ thống chính sách – pháp luật của Nhà nước. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế – nơi chi phối các quan hệ sản xuất, phân phối, tiêu dùng – hoạt động giám sát, phản biện chính sách góp phần đưa ra các đánh giá, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách để bảo đảm phù hợp với thực tiễn, thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững và hài hòa lợi ích xã hội. Làm thế nào để nâng cao chất lượng và hiệu quả giám sát, phản biện chính sách của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội trong lĩnh vực kinh tế? Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào vai trò chính trị – xã hội của Mặt trận Tổ quốc hoặc phân tích giám sát nói chung, trong khi các nghiên cứu chuyên sâu về phản biện chính sách kinh tế còn hạn chế. Khoảng trống nghiên cứu nằm ở việc thiếu các phân tích gắn kết giữa khuôn khổ pháp lý và thực tiễn triển khai giám sát, phản biện chính sách trong lĩnh vực kinh tế.
2. Tổng quan về giám sát, phản biện chính sách của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và tổ chức xã hội
2.1. Khái niệm giám sát chính sách
Hiến pháp năm 2013 và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã thể chế hóa chủ trương của Đảng nêu tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI: “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục khắc phục tình trạng hành chính hóa, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân xây dựng cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh…”1; thể thể hóa Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị[1].
Giám sát xã hội là hoạt động theo dõi, đánh giá và kiến nghị của các chủ thể ngoài nhà nước đối với việc xây dựng, ban hành và thực thi chính sách, pháp luật của các cơ quan công quyền. Hoạt động này nhằm bảo đảm các quyết định quản lý nhà nước phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Khác với hoạt động kiểm tra, thanh tra mang tính quyền lực nhà nước, giám sát xã hội mang tính xã hội – chính trị, được thực hiện thông qua việc phản ánh, kiến nghị và đề xuất giải pháp.
Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp thống nhất với tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo dõi, xem xét, đánh giá, kiến nghị đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện chính sách, pháp luật. Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý sai phạm, khuyết điểm; kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật; phát hiện, phổ biến những nhân tố mới, các điển hình tiên tiến và những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Hoạt động giám sát được thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm phát huy dân chủ, sự tham gia của Nhân dân, thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng của Nhân dân; thực hiện công khai, minh bạch, không chồng chéo; không làm cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám sát[2]
Trong lĩnh vực kinh tế, giám sát chính sách tập trung vào việc theo dõi quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách kinh tế như chính sách tài chính, đầu tư, đất đai, doanh nghiệp và an sinh xã hội. Do các chính sách này có phạm vi tác động rộng và hệ quả dài hạn, giám sát xã hội giữ vai trò quan trọng trong việc phát hiện sớm các bất cập, hạn chế rủi ro chính sách và bảo vệ lợi ích công cộng.
2.2. Khái niệm phản biện chính sách
Nghị quyết Đại hội XII, Đại hội XIII của Đảng khẳng định, ghi nhận tầm quan trọng của hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và lần đầu tiên, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã quy định về hoạt động phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; theo đó, đối với các dự thảo văn bản mà Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện phản biện xã hội thì trong hồ sơ trình thẩm định bắt buộc phải có văn bản phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam[3].
Phản biện xã hội được hiểu là quá trình phân tích, đánh giá và đưa ra ý kiến độc lập, có căn cứ khoa học đối với các dự thảo chính sách trước khi được ban hành. Phản biện chính sách không nhằm phủ định vai trò quản lý của Nhà nước mà hướng đến việc hoàn thiện nội dung chính sách, nâng cao tính hợp lý, tính khả thi và hiệu quả thực tiễn. Trong lĩnh vực kinh tế, phản biện chính sách đòi hỏi sự kết hợp giữa phân tích pháp lý và phân tích kinh tế, nhằm đánh giá tác động chính sách đối với các chủ thể khác nhau trong xã hội. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa phản biện chính sách kinh tế và phản biện trong các lĩnh vực thuần túy xã hội hoặc văn hóa.
Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là việc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp trực tiếp hoặc thống nhất với các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, đề án (sau đây gọi chung là dự thảo văn bản) của cơ quan nhà nước.
Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mang tính xã hội, khách quan, khoa học, xây dựng, góp phần bảo đảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội và tính hiệu quả của văn bản; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; phát huy dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội. Hoạt động phản biện xã hội được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch, bảo đảm sự tham gia của thành viên, hội viên, đoàn viên và Nhân dân; tôn trọng các ý kiến khác nhau nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, lợi ích quốc gia, dân tộc.[4]
2.3. Vai trò của giám sát và phản biện chính sách kinh tế
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN) và các tổ chức xã hội giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giám sát và phản biện các chính sách, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, bởi các chính sách này tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân, môi trường đầu tư và sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân. Vai trò giám sát và phản biện xã hội (GSPBXH) của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội đã được Hiến pháp năm 2013 quy định rõ, đặc biệt đã được Đảng cụ thể hóa bằng “Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội” (Ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị) và “Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền” (Ban hành kèm theo Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013, của Bộ Chính trị), cùng với việc Quốc hội ban hành Luật MTTQVN năm 2015,... là những quy định rất quan trọng, mở ra một bước ngoặt lớn trong nhận thức về GSPBXH của MTTQVN trong hệ thống chính trị cũng như trong xã hội.
Trước hết, MTTQVN và các tổ chức xã hội đóng vai trò là cầu nối giữa nhân dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước. Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã xác định chức năng giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, theo đó, MTTQVN giám sát thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, trong đó nhấn mạnh trách nhiệm của Mặt trận trong việc tập hợp, tổng hợp ý kiến của nhân dân và các tổ chức thành viên để kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách sao cho phù hợp với thực tiễn. Trong lĩnh vực kinh tế, vai trò cầu nối này đặc biệt quan trọng khi các chính sách thuế, đầu tư công, quy hoạch sử dụng đất hay hỗ trợ doanh nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân và hoạt động sản xuất – kinh doanh. Nhờ mạng lưới rộng khắp từ trung ương đến địa phương, MTTQVN và các tổ chức xã hội có khả năng tiếp nhận ý kiến phản hồi từ cộng đồng và truyền tải những thông tin này đến cơ quan soạn thảo chính sách, giúp việc xây dựng và thực hiện chính sách bám sát thực tiễn và đáp ứng được lợi ích đa dạng của các nhóm xã hội. Chẳng hạn, trong quá trình phản biện Dự thảo Nghị định hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Mặt trận Tổ quốc tại nhiều địa phương đã tổ chức hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp, từ đó giúp Bộ Kế hoạch và Đầu tư điều chỉnh các tiêu chí tiếp cận nguồn vốn ưu đãi sao cho phù hợp với thực tế hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời, tăng cường hiệu quả chính sách.
Thứ hai, bên cạnh vai trò cầu nối, MTTQVN và các tổ chức xã hội còn đóng vai trò cung cấp chuyên môn và phân tích cho quá trình giám sát và phản biện. Các hiệp hội ngành nghề, tổ chức nghề nghiệp và các nhóm chuyên gia kinh tế, pháp luật tham gia trực tiếp vào quá trình phản biện nhằm phân tích tính khả thi, tác động pháp lý và kinh tế – xã hội của các chính sách. Họ không chỉ đánh giá về mặt lý thuyết mà còn dựa trên số liệu thực tiễn để đưa ra các kiến nghị mang tính thực dụng cao. Điều này góp phần nâng cao tính khoa học và khả năng thực thi của chính sách, đồng thời, giúp cơ quan soạn thảo nhận diện các rủi ro và tác động bất lợi có thể xảy ra. Trong nhiều trường hợp, phản biện dựa trên dữ liệu thực tiễn đã dẫn đến việc điều chỉnh chính sách, chẳng hạn như các quy định về ưu đãi thuế và hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, đảm bảo các chính sách này thực sự tiếp cận đúng đối tượng, hỗ trợ hiệu quả hoạt động sản xuất – kinh doanh. Theo Điều 32 Luật MTTQVN 2015, phản biện xã hội có thể thực hiện thông qua nghiên cứu khoa học, khảo sát thực tế hoặc tổ chức hội thảo chuyên đề, đây là cơ sở pháp lý để Mặt trận và các tổ chức xã hội phát huy vai trò chuyên môn trong lĩnh vực kinh tế.
Thứ ba, vai trò của MTTQVN và các tổ chức xã hội còn thể hiện rõ ở khả năng phát hiện và phòng ngừa các hạn chế, sai sót trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách kinh tế. Nhờ mạng lưới giám sát rộng khắp và gần gũi với cơ sở, các tổ chức này có thể quan sát, thu thập thông tin và cảnh báo kịp thời những vấn đề tiềm ẩn như lãng phí ngân sách, trục lợi chính sách hay việc thực thi không đúng mục tiêu ban đầu. Việc phát hiện sớm các bất cập này giúp cơ quan Nhà nước điều chỉnh chính sách kịp thời, bảo đảm tính công bằng và hiệu quả, đồng thời, tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước. Một số nghiên cứu và báo cáo của Ủy ban Trung ương MTTQVN trong những năm gần đây đã chỉ ra rằng giám sát ngân sách đầu tư công tại địa phương đã giúp phát hiện và kiến nghị điều chỉnh nhiều dự án chưa đạt hiệu quả kinh tế – xã hội, từ đó, góp phần tiết kiệm ngân sách và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Thứ tư, ngoài ra, hoạt động giám sát và phản biện chính sách của MTTQVN và các tổ chức xã hội còn góp phần tăng cường dân chủ, minh bạch và sự đồng thuận xã hội. Hoạt động này tạo cơ hội để người dân tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách, đồng thời, thúc đẩy cơ quan Nhà nước phải thực hiện trách nhiệm giải trình, công khai hóa các quyết định và phương thức triển khai chính sách. Sự tham gia của nhân dân và doanh nghiệp qua các kênh do Mặt trận và tổ chức xã hội tổ chức không chỉ phản ánh tiếng nói đa chiều mà còn tăng cường sự đồng thuận trong xã hội, giảm xung đột lợi ích và cải thiện hiệu quả triển khai chính sách kinh tế. Báo cáo của Ủy ban Trung ương MTTQVN năm 2023 cho thấy các hoạt động phản biện đối với chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và an sinh xã hội đã góp phần nâng cao mức độ hài lòng của cộng đồng và củng cố niềm tin của nhân dân vào cơ quan Nhà nước.

Ảnh minh hoạ
3. Một số hạn chế vướng mắc về giám sát và phản biện chính sách trong lĩnh vực kinh tế của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội
Thứ nhất, nội dung giám sát, phản biện chính sách trong lĩnh vực kinh tế
Hệ thống pháp luật hiện hành đã bước đầu xác lập vị trí pháp lý của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội trong hoạt động giám sát và phản biện chính sách. Hiến pháp năm 2013 quy định vai trò của MTTQVN trong việc “giám sát và phản biện xã hội” (Điều 9), tạo cơ sở chính trị – pháp lý cho việc thể chế hóa chức năng này trong hệ thống pháp luật hiện hành. Trên cơ sở đó, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, sửa đổi năm 2025; Quyết định số 217-QĐ/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTƯMTTQVN đã từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội của MTTQVN. Theo đó, Điều 25 Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025 quy định nội dung giám sát, phản biện bao gồm việc góp ý đối với chương trình, dự án phát triển kinh tế – xã hội; chính sách, pháp luật có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Trong lĩnh vực kinh tế, các quy định pháp luật cho phép Mặt trận và các tổ chức xã hội tham gia giám sát việc xây dựng, ban hành và thực hiện các chính sách có liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế – xã hội, quản lý tài sản công, đầu tư, đất đai, doanh nghiệp và an sinh xã hội. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để mở rộng không gian tham gia của xã hội vào hoạt động quản lý kinh tế nhà nước. Tuy nhiên, các quy định về thẩm quyền giám sát và phản biện vẫn mang tính khái quát, chưa phân định rõ phạm vi, mức độ và giới hạn can thiệp của Mặt trận và các tổ chức xã hội đối với từng loại chính sách kinh tế cụ thể. Pháp luật chưa làm rõ ranh giới giữa phản biện chính sách với việc tham gia quản lý hoặc quyết định chính sách, dẫn đến việc thực hiện trên thực tế còn dè dặt, thiếu chủ động và chưa phát huy hết vai trò xã hội.
Ngoài ra, pháp luật hiện hành quy định nội dung giám sát và phản biện xã hội tương đối rộng, bao gồm việc góp ý đối với chủ trương, chính sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, cũng như việc giám sát quá trình tổ chức thực hiện chính sách trong đó bao gồm lĩnh vực kinh tế[5]. Hầu như mọi thể thức văn bản và nội dung văn bản do các cơ quan nhà nước ban hành đều có thể được coi là "văn bản thực hiện chính sách, pháp luật của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân" để giám sát. Điều này cho thấy phạm vi, giám sát và phản biện chính sách trong lĩnh vực kinh tế là quá rộng, khiến hiệu quả của việc thực thi hoạt động giám sát và phản biện là không cao, dẫn đến nhiều văn bản có thể bị bỏ sót; nhân sự không đủ để thực hiện các hoạt động giám sát và phản biện dẫn đến việc thực hiện hoạt động giám sát, phản biện chỉ mang tính hình thức. Đây là vấn đề cũng cần phải được rà soát, đánh giá lại để phù hợp hơn với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tiễn, vừa bảo đảm tính thống nhất trong quy định về giám sát của các văn bản trong hệ thống pháp luật, vừa phân định rõ đối tượng văn bản được giám sát theo tính chất văn bản và lĩnh vực hoạt động nhà nước.[6]
Về mặt hình thức, các quy định này tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức xã hội tham gia vào hầu hết các khâu của chu trình chính sách. Tuy nhiên, đối với lĩnh vực kinh tế – một lĩnh vực có tính kỹ thuật và chuyên môn cao – pháp luật chưa thiết kế các tiêu chí hoặc chuẩn mực cụ thể cho nội dung phản biện. Việc thiếu các tiêu chí đánh giá về hiệu quả kinh tế, tác động xã hội, chi phí – lợi ích hay rủi ro chính sách khiến hoạt động phản biện dễ dừng lại ở mức độ nhận xét chung, thiếu chiều sâu phân tích.
Thứ hai, về phương pháp, hình thức và quy trình giám sát, phản biện chính sách trong lĩnh vực kinh tế
Pháp luật đã ghi nhận nhiều phương pháp giám sát và phản biện như: xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát; tổ chức khảo sát thực tế tiếp thu ý kiến phản ánh của các thành viên, đoàn viên, hội viên, ý kiến của nhân dân, ý kiến của các chuyên gia; giám sát thông qua việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về dân chủ ở cơ sở, hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng; giám sát thông qua nghiên cứu văn bản, tài liệu, báo cáo của các cơ quan, tổ chức; đơn, thư khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của các tổ chức, cá nhân gửi MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội và qua phản ánh của các phương tiện thông tin đại chúng…
Cùng với những quy định giám sát trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều đạo luật khác có liên quan đã thể chế hóa quyền giám sát của Mặt trận trên các lĩnh vực trong đó bao gồm lĩnh vực kinh tế như: Luật Thanh tra, Luật Đầu tư công và các văn bản dưới luật ghi nhận giám sát của Nhân dân thông qua Ban Thanh tra nhân dân như Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư; Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về giám sát đầu tư của cộng đồng...[7]
Các hình thức giám sát của MTTQVN và các tổ chức xã hội được thực hiện thông qua: tổ chức đoàn giám sát, thông qua Ban thanh tra nhân dân, tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền …tổ chức hội nghị góp ý, lấy ý kiến chuyên gia, gửi kiến nghị bằng văn bản hoặc tham gia các hội đồng tư vấn, tổ chức đối thoại trực tiếp[8].... Đây là cơ sở để Mặt trận và các tổ chức xã hội linh hoạt lựa chọn phương thức phù hợp với từng nội dung chính sách kinh tế. Ngoài ra để hướng dẫn chi tiết quy trình giám sát và quy trình phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQVN, Ủy ban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam ban hành Thông tri số 23/TTr-MTTW-BTT ngày 21 tháng 7 năm 2017 với mục đích hướng dẫn thống nhất quy trình giám sát và quy trình phản biện xã hội trong toàn hệ thống Mặt trận. Thông tri đã cụ thể hóa các bước tiến hành, từ xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, tổng hợp ý kiến đến theo dõi, đôn đốc việc tiếp thu kiến nghị. Có thể khẳng định rằng, về mặt hình thức pháp lý, quy trình giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN hiện nay tương đối đầy đủ, rõ ràng và có tính hệ thống. Tuy nhiên, từ góc độ thực tiễn thực hiện và yêu cầu của một cơ chế giám sát xã hội hiệu quả, quy trình này vẫn bộc lộ không ít bất cập, hạn chế. Quá trình thực hiện còn nhiều khó khăn, vướng mắc trong lựa chọn nội dung phản biện, nguồn nhân lực, kinh phí và kể cả những vấn đề “tế nhị” trong quá trình phản biện, nhất là tại các địa phương. Trong 3 hình thức PBXH, mới chú trọng thực hiện hình thức hội nghị phản biện, cấp huyện và xã thực hiện phản biện xã hội còn ít và khó khăn.[9]
Ngoài ra, quy trình lựa chọn nội dung giám sát và phản biện xã hội còn thiếu tính chủ động và chưa thực sự xuất phát từ các vấn đề xã hội bức xúc. Theo hướng dẫn tại Thông tri số 23/TTr-MTTW-BTT, nội dung phản biện xã hội chủ yếu dựa trên các dự thảo văn bản do cơ quan nhà nước gửi đến hoặc theo chương trình, kế hoạch đã được thống nhất trước. Cách tiếp cận này vô hình trung khiến MTTQVN rơi vào thế bị động, phụ thuộc vào “nguồn cung” văn bản phản biện từ chính các chủ thể chịu sự phản biện. Trong khi đó, nhiều chính sách, quyết định hành chính tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân lại không được đưa ra phản biện kịp thời hoặc đầy đủ, làm suy giảm vai trò đại diện và phản ánh ý chí, nguyện vọng của Nhân dân – vốn là bản chất của phản biện xã hội.
Thứ ba, về trách nhiệm tiếp thu, giải trình và giá trị pháp lý của phản biện
Một trong những hạn chế lớn của pháp luật hiện hành là chưa xác lập rõ trách nhiệm pháp lý của cơ quan nhà nước trong việc tiếp thu, giải trình hoặc phản hồi ý kiến giám sát và phản biện.
Trong quy trình thực hiện việc giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN được quy định chi tiết tại Thông tri số 23/TTr-MTTW-BTT, theo đó sau khi phát hiện văn bản được giám sát chưa phù hợp với Hiến pháp hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, UB MTTQVN, tổ chức chính trị - xã hội chủ trì giám sát có văn bản kiến nghị gửi cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết sửa đổi, bổ sung hoặc đình chỉ thi hành. UBMTTQVN và các tổ chức chính trị xã hội chỉ có quyền theo dõi và đôn đốc việc giải quyết kiến nghị sau giám sát… (Mục II quy trình giám sát Thông tri số 23/TTr-MTTW-BTT).
Như vậy, quy định hiện nay chủ yếu dừng lại ở việc ghi nhận quyền kiến nghị của Mặt trận và các tổ chức xã hội, mà chưa đặt ra nghĩa vụ pháp lý tương ứng đối với chủ thể được giám sát, phản biện. Việc thiếu cơ chế giải trình bắt buộc làm cho hoạt động phản biện chính sách kinh tế chưa có giá trị pháp lý rõ ràng trong quy trình ra quyết định. Trong nhiều trường hợp, ý kiến phản biện chỉ mang tính tham khảo, không có cơ chế theo dõi việc tiếp thu hoặc không tiếp thu, dẫn đến khó đánh giá hiệu quả thực chất của phản biện xã hội. Đối với chính sách kinh tế, nơi mà mỗi quyết định có thể kéo theo hệ quả tài chính và xã hội lớn, khoảng trống pháp lý này càng trở nên đáng lưu ý, bởi nó làm suy giảm vai trò kiểm soát quyền lực mềm của xã hội đối với hoạt động quản lý kinh tế. Thông tri số 23/TTr-MTTW-BTT có đề cập đến việc theo dõi, đôn đốc cơ quan chịu sự giám sát, phản biện trong việc tiếp thu kiến nghị. Tuy nhiên, trên thực tế, chưa hình thành được một cơ chế thống nhất để đánh giá mức độ tiếp thu, cũng như tác động thực sự của hoạt động giám sát, phản biện xã hội đối với việc hoàn thiện chính sách, pháp luật và quản lý nhà nước nói chung và trong lĩnh vực kinh tế nói riêng.
Việc thiếu các tiêu chí đánh giá cụ thể và thiếu công khai hóa kết quả tiếp thu kiến nghị làm cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội chưa phát huy hết vai trò là một kênh kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía xã hội. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý nhằm gắn kết chặt chẽ hơn giữa phản biện xã hội với quy trình ra quyết định chính sách kinh tế, coi phản biện xã hội là một yếu tố cấu thành của quản trị kinh tế hiện đại.
Ngoài ra, nghiên cứu thực tiễn cho thấy trình độ chuyên môn về pháp luật và các lĩnh vực kinh tế - xã hội còn hạn chế, chưa đồng đều về chất lượng. Chưa có cơ chế, chính sách thu hút được các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn, lực lượng báo chí và Nhân dân tham gia vào hoạt động giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc.
4. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả của hoạt động giám sát, phản biện chính sách kinh tế của Mặt trận tổ quốc và tổ chức xã hội
Để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện chính sách kinh tế, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, cả về mặt pháp lý, tổ chức và năng lực thực thi, nhằm bảo đảm chính sách được xây dựng, triển khai và hoàn thiện một cách hiệu quả, công bằng và minh bạch.
Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế pháp lý và chính sách để tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động giám sát và phản biện. Cần xây dựng các quy định cụ thể về trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi kiến nghị phản biện, đồng thời thiết lập cơ chế công khai, minh bạch thông tin về kết quả xử lý kiến nghị. Việc này không chỉ tạo sự ràng buộc pháp lý mà còn nâng cao niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp vào hoạt động giám sát, phản biện của Mặt trận.
Thứ hai, cần xây dựng các quy định hướng dẫn chi tiết về phạm vi giám sát, trong đó quy định rõ các văn bản do cơ quan nào có thẩm quyền thuộc đối tượng giám sát và phản biện.
Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực và phương pháp thực hiện phản biện, có thể nói việc nâng cao năng lực và phương pháp thực hiện phản biện là yếu tố then chốt. Các cán bộ, chuyên gia, cộng tác viên của Mặt trận và các tổ chức xã hội cần được trang bị kiến thức chuyên môn về kinh tế, pháp luật, quản lý nhà nước, thông qua các hoạt động đào tạo bồi dưỡng chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ MTTQ và đoàn thể ở cơ sở và bố trí kinh phí hoạt động cho ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng ở cơ sở để khuyến khích, động viên thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ được giao.
Đồng thời áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học, đánh giá tác động chính sách và phân tích dữ liệu định lượng trong lĩnh vực kinh tế - lĩnh vực có tính chất đặc thù. Việc tăng cường năng lực này giúp các kiến nghị phản biện trở nên thuyết phục, khả thi và phù hợp với thực tiễn, từ đó nâng cao hiệu quả của giám sát.
Hơn nữa, cần xây dựng các bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả chính sách kinh tế, làm cơ sở cho các báo cáo giám sát và phản biện, đảm bảo tính hệ thống và khách quan trong hoạt động này. Thêm vào đó, cần mở rộng hình thức lấy ý kiến, kết hợp giữa hội thảo, khảo sát trực tiếp, tiếp xúc cử tri và ứng dụng công nghệ thông tin, nhằm thu thập thông tin phản hồi đa chiều từ người dân, doanh nghiệp và các tổ chức nghề nghiệp. Đồng thời, cần xây dựng cơ sở dữ liệu về chính sách, dự án và phản hồi của cộng đồng để phục vụ giám sát và phân tích tác động chính sách một cách kịp thời và có hệ thống.
Đẩy mạnh công tác tăng cường phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức xã hội, cơ quan quản lý nhà nước và các hiệp hội nghề nghiệp trong hoạt động giám sát và phản biện. Sự phối hợp này giúp khai thác nguồn lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và thông tin phản hồi từ nhiều đối tượng khác nhau, từ đó nâng cao chất lượng, độ tin cậy và khả năng tiếp thu các kiến nghị. Việc phối hợp chặt chẽ cũng giúp tránh tình trạng trùng lặp hoạt động và phân tán nguồn lực, tạo ra sự đồng bộ trong công tác giám sát và phản biện chính sách kinh tế.
Ngoài ra, phải nâng cao nhận thức và sự tham gia của cộng đồng là một giải pháp lâu dài và bền vững. Việc tuyên truyền, phổ biến về quyền và nghĩa vụ tham gia phản biện chính sách, nâng cao kiến thức pháp luật và khả năng phân tích thông tin kinh tế sẽ khuyến khích người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tích cực tham gia. Khi nhận thức về quyền làm chủ và trách nhiệm giám sát được nâng cao, hoạt động phản biện sẽ thực sự phản ánh ý chí, nguyện vọng và lợi ích của cộng đồng, đồng thời tăng cường niềm tin của người dân vào cơ quan Nhà nước.
Xây dựng bổ sung cơ chế chính sách thu hút các chuyên gia, nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn, lực lượng báo chí và nhân dân tham gia vào hoạt động giám sát và phản biện xã hội của MTTQ.[10]
Có thể nói, việc nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát và phản biện chính sách kinh tế của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội đòi hỏi sự kết hợp giữa hoàn thiện cơ chế pháp lý, nâng cao năng lực chuyên môn, mở rộng phạm vi thông tin, tăng cường phối hợp liên ngành và nâng cao nhận thức cộng đồng. Sự kết hợp đồng bộ các giải pháp này sẽ giúp hoạt động giám sát và phản biện thực sự trở thành công cụ hiệu quả để xây dựng và triển khai các chính sách kinh tế công bằng, minh bạch và phát triển bền vững.
5. Kết luận
Qua nghiên cứu, có thể khẳng định rằng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức xã hội đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giám sát và phản biện chính sách trong lĩnh vực kinh tế. Hoạt động này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch, công bằng và hiệu quả của chính sách, mà còn phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường trách nhiệm giải trình của cơ quan Nhà nước và thúc đẩy sự đồng thuận xã hội. Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực như cải thiện chất lượng lập pháp, nâng cao hiệu quả triển khai chính sách, phát hiện các bất cập và phòng ngừa lãng phí, hoạt động giám sát và phản biện vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bao gồm phạm vi thông tin chưa đồng đều, năng lực phân tích hạn chế, cơ chế tiếp nhận kiến nghị chưa hoàn thiện và mức độ tham gia của cộng đồng chưa cao. Để phát huy tối đa vai trò của Mặt trận và các tổ chức xã hội, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện cơ chế pháp lý, nâng cao năng lực chuyên môn và phương pháp phản biện, mở rộng phạm vi thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu về chính sách, đồng thời, tăng cường phối hợp liên ngành và nâng cao nhận thức cộng đồng. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần xây dựng và thực thi các chính sách kinh tế công bằng, minh bạch và phát triển bền vững./.
---------------------
Tài liệu tham khảo
1. Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, sửa đổi năm 2025;
2. Nghị quyết liên tịch số 403/2017/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTƯMTTQVN;
3. Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12 tháng 12 năm 2013 của Bộ Chính trị ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và cc đoàn thể chính trị - xã hội;
4. Thông tri số 23/TTr-MTTW-BTT ngày 21 tháng 7 năm 2017 của Ban thường trực , Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, hướng dẫn quy trình giám sát và quy trình phản biện xã hội của mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
5. Đỗ Văn Chiến, (2022), “Nâng cao chất lượng phản biện xã hội của mặt trận tổ quốc Việt Nam trong điều kiện mới”, xem tại https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/nang-cao-chat-luong-phan-bien-xa-hoi-cua-mat-tran-to-quoc-viet-nam-trong-dieu-kien-moi, truy cập ngày 05/01/2026;
6. TS. Nguyễn Quang Minh, Một số vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của MTTQ Việt nam bằng hình thức nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền, (02/4/2024), xem tại https://m.mattran.org.vn/giam-sat-phan-bien-xa-hoi/mot-so-van-de-ly-luan-ve-hoat-dong-giam-sat-cua-mttq-viet-nam-bang-hinh-thuc-nghien-cuu-xem-xet-van-ban-cua-co-quan-co-tham-quyen-55193.html#ref-https://www.google.com/, truy cập ngày 12/01/2026;
7. Bùi Thị Nguyệt Thu, “Hoạt động giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Thực tiễn và một số kiến nghị”, xem tại: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=287, truy cập ngày 05/01/2026;
8. Đỗ Duy Thường, Các điều kiện bảo đảm cho hoạt đọng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, (02/10/2022) xem tại https://m.mattran.org.vn/giam-sat-phan-bien-xa-hoi/cac-dieu-kien-bao-dam-cho-hoat-dong-giam-sat-va-phan-bien-xa-hoi-cua-mat-tran-to-quoc-viet-nam-46854.html#ref-https://www.google.com/, truy cập ngày 11/01/2026;
9. Ngô Sách Thực, Thực trạng, những vấn đề đặt ra hiện nay trong hoạt động phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam (18/03/2019), xem tại https://m.mattran.org.vn/hoi-dong-tu-van/thuc-trang-nhung-van-de-dat-ra-hien-nay-trong-hoat-dong-phan-bien-xa-hoi-cua-mttq-viet-nam-22241.html#ref-https://www.google.com/, truy cập ngày 11/01/2026;
10. Tạp chí mặt trận, Một số giải pháp trong công tác giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam (02/08/2023), xem tại: https://mttqhanoi.org.vn/mot-so-giai-phap-trong-cong-tac-giam-sat-va-phan-bien-xa-hoi-cua-mat-tran-to-quoc-viet-nam.htm, truy cập ngày 12/01/2025.
[1] Bùi Thị Nguyệt Thu, “Hoạt động giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Thực tiễn và một số kiến nghị”, xem tại: https://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=287, truy cập ngày 05/01/2026
[2] Điều 25 Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam năm 2015, sửa đổi năm 2025
[3] Đỗ Văn Chiến, (2022), “Nâng cao chất lượng phản biện xã hội của mặt trận tổ quốc Việt Nam trong điều kiện mới”, xem tại https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/nang-cao-chat-luong-phan-bien-xa-hoi-cua-mat-tran-to-quoc-viet-nam-trong-dieu-kien-moi, truy cập ngày 05/01/2026
[4] Đều 32 Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam năm 2015, sửa đổi năm 2025
[5] Điều 26, Điều 33 Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam năm 2015, sửa đổi năm 2025
[6]TS. Nguyễn Quang Minh, Một số vấn đề lý luận về hoạt động giám sát của MTTQ Việt nam bằng hình thức nghiên cứu, xem xét văn bản của cơ quan có thẩm quyền, (02/4/2024), xem tại https://m.mattran.org.vn/giam-sat-phan-bien-xa-hoi/mot-so-van-de-ly-luan-ve-hoat-dong-giam-sat-cua-mttq-viet-nam-bang-hinh-thuc-nghien-cuu-xem-xet-van-ban-cua-co-quan-co-tham-quyen-55193.html#ref-https://www.google.com/, truy cập ngày 12/01/2026.
[7] Tạp chí mặt trận, Một số giải pháp trong công tác giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam (02/08/2023), xem tại: https://mttqhanoi.org.vn/mot-so-giai-phap-trong-cong-tac-giam-sat-va-phan-bien-xa-hoi-cua-mat-tran-to-quoc-viet-nam.htm, truy cập ngày 12/01/2025.
[8] Điều 27, Điều 34 Luật mặt trận tổ quốc Việt Nam năm 2015, sửa đổi năm 2025; Điều 7, Điều 11 Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12 tháng 12 năm 2013”
[9] Ngô Sách Thực, Thực trạng, những vấn đề đặt ra hiện nay trong hoạt động phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam (18/03/2019), xem tại https://m.mattran.org.vn/hoi-dong-tu-van/thuc-trang-nhung-van-de-dat-ra-hien-nay-trong-hoat-dong-phan-bien-xa-hoi-cua-mttq-viet-nam-22241.html#ref-https://www.google.com/, truy cập ngày 11/01/2026.
[10] Đỗ Duy Thường, Các điều kiện bảo đảm cho hoạt đọng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, (02/10/2022) xem tại https://m.mattran.org.vn/giam-sat-phan-bien-xa-hoi/cac-dieu-kien-bao-dam-cho-hoat-dong-giam-sat-va-phan-bien-xa-hoi-cua-mat-tran-to-quoc-viet-nam-46854.html#ref-https://www.google.com/, truy cập ngày 11/01/2026.