Dấu ấn học thuật nổi bật của Tạp chí Pháp lý trong nửa đầu năm 2026

(Pháp lý). Năm 2026 đánh dấu bước chuyển phát triển quan trọng của Tạp chí Pháp lý khi chính thức được Bộ Khoa học và Công nghệ công nhận đạt chuẩn tạp chí khoa học Việt Nam theo Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN ngày 28/4/2026. Đây không chỉ là sự ghi nhận đối với nỗ lực đổi mới toàn diện về mô hình tổ chức, quy trình phản biện và chuẩn hóa học thuật của Hội đồng biên tập, mà còn phản ánh chất lượng ngày càng nâng cao của các công trình nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Pháp lý trong thời gian qua.

Thời gian qua,  Tạp chí Pháp lý đã từng bước khẳng định vị thế là diễn đàn học thuật chuyên sâu, quy tụ đông đảo các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, nghiên cứu sinh, luật gia, thẩm phán, chuyên gia chính sách, doanh nhân và nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Chỉ trong 5 tháng đầu năm 2026, Tạp chí đã liên tục công bố 45 công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu với hàm lượng học thuật cao, phản ánh những vấn đề thời sự pháp lý, cải cách thể chế, kinh tế và quản trị quốc gia trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững.

a1-1779098792.png

Các công trình nghiên cứu không chỉ đa dạng về chủ đề mà còn thể hiện rõ chiều sâu lý luận, tư duy cải cách và năng lực phản biện chính sách. Từ cải cách lập pháp, đổi mới tư duy thi hành pháp luật, quản trị dữ liệu, thương mại số, trí tuệ nhân tạo, tài sản mã hóa, ESG, kinh tế xanh, phòng vệ thương mại cho đến cải cách tư pháp và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, mỗi công trình nghiên cứu đều đóng góp những luận điểm mới, kiến nghị thực tiễn và góc nhìn khoa học giá trị cho quá trình hoạch định chính sách và hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Tác giả của các công trình bài báo khoa học công bố trên Tạp chí Pháp lý thời gian gần đây là các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nghiên cứu sinh, Luật sư; Công an; Thẩm phán; Chuyên gia nghiên cứu chính sách công; Nhà quản lý;  Doanh nhân; Du học sinh; Sinh viên Luật khoa ….

 

Các tác giả đang công tác tại Viện Hàn Lâm; các Trường Đại học  Kiểm sát; ĐH Quốc gia; Ngoại thương; Luật Hà Nội; Đại học Kinh tế; Đại học Ngân hàng;  Học viện Chính trị; Học viện An ninh… Đại học quốc gia Seoul; Đại học RMIT ; các Viện Nghiên cứu; Cơ quan tư pháp, Công ty Luật, Doanh nghiệp….

Mở đầu chuỗi công trình học thuật đầu năm 2026, GS.TS. Võ Khánh Vinh, Phó Chủ tịch Hội đồng Giáo sư Nhà nước ngành Luật học, nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, đã đặt nền tảng lý luận quan trọng qua nghiên cứu “Đổi mới tư duy thi hành pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước: Suy nghĩ bước đầu”. Công trình không chỉ phân tích sâu sắc những hạn chế của tư duy quản lý hành chính truyền thống mà còn đề xuất định hướng chuyển mạnh sang mô hình quản trị pháp quyền hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ. Bài viết được giới học giả và dư luận đánh giá có giá trị học thuật và thực tiễn cao trong bối cảnh Việt Nam đổi mới tư duy xây dựng và thi hành pháp luật; thúc đẩy cải cách thể chế và chuyển đổi số quốc gia.

a2-1779098800.png

Tiếp nối tinh thần đó, TS. Trần Công Phàn, Phó Chủ tịch thường trực Hội Luật gia Việt Nam, trong bài viết: Nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội của Hội Luật gia Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa” đã làm rõ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Hội Luật gia Việt Nam trong xây dựng Nhà nước pháp quyền. Công trình phân tích cơ sở pháp lý và thực tiễn hoạt động phản biện chính sách, đồng thời chỉ ra những hạn chế trong cơ chế tiếp thu kiến nghị và bảo đảm nguồn lực. Các đề xuất về nâng cao năng lực phản biện và tăng cường giám sát thi hành pháp luật đối với Hội LGVN được xem là những gợi mở có ý nghĩa đối với quá trình hoàn thiện thể chế dân chủ và pháp quyền ở Việt Nam hiện nay.

Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, TS. Đào Kim Anh (giảng viên Khoa Luật Trường Đại học Ngoại thương), đã đưa ra cách tiếp cận mới về đánh giá tác động pháp luật trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Với chủ đề đề: “Đổi mới đánh giá tác động pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế”, bài viết nhấn mạnh yêu cầu phải đánh giá đầy đủ các tác động xuyên biên giới của chính sách và các cam kết quốc tế, thay vì chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia. Công trình có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng hoạch định chính sách và tăng cường năng lực hội nhập pháp lý của Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng.

Một công trình mang tính thời sự nổi bật khác của PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Hoa (Khoa Chính trị học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền) đã phân tích “Công ước Hà Nội về chống tội phạm mạng…” như một chất xúc tác pháp lý thúc đẩy thực thi Nghị quyết 66-NQ/TW. Bài viết làm rõ yêu cầu nội luật hóa các chuẩn mực quốc tế về an ninh mạng, hợp tác tư pháp số và hiện đại hóa pháp luật hình sự trong bối cảnh chuyển đổi số. Công trình góp phần cung cấp cơ sở lý luận quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách an ninh mạng và tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao.

a3-1779098800.jpg

Lễ mở ký Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm mạng đã diễn ra tại Hà Nội – Việt Nam ngày 25/10/2025 

Ở phương diện cải cách thể chế số, TS. Nguyễn Quang Anh và ThS. Đặng Ngọc Phương Thảo (Trường Đại học Luật Hà Nội), trong bài: “Hoàn thiện cơ chế pháp điển hoá điện tử, hướng tới một hệ thống pháp luật số thống nhất” đã đề xuất mô hình “pháp điển hóa điện tử” dựa trên quản trị dữ liệu pháp luật hiện đại. Công trình phân tích những hạn chế của mô hình pháp điển hóa hiện hành như quản trị phân tán, cập nhật chậm và thiếu tính thân thiện với người dùng. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, nhóm tác giả đề xuất định hướng xây dựng hệ thống pháp luật số thống nhất, minh bạch và lấy người dân làm trung tâm, phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền số.

Nghiên cứu của TS. Trần Hoàng Minh (Học viện Chính sách và Phát triển) về các quy định thương mại bền vững của EU như CBAM và EUDR đã cung cấp cơ sở pháp lý quan trọng giúp Việt Nam thích ứng với xu hướng thương mại xanh toàn cầu. Bài viết: “Thách thức pháp lý và giải pháp thích ứng của Việt Nam trước các quy định thương mại bền vững của EU…” phân tích sâu khả năng xung đột giữa các cơ chế thương mại xanh của EU với nguyên tắc WTO, đồng thời chỉ ra khoảng trống pháp lý của Việt Nam trong kiểm kê khí nhà kính, định giá carbon và truy xuất nguồn gốc chuỗi cung ứng. Đây được xem là công trình có giá trị thực tiễn cao đối với các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.

Trong khi đó, với bài viết: “Sự chồng chéo giữa Luật Đầu tư và Luật Đất đai đối với chấp thuận chủ trương đầu tư”, TS. Nguyễn Thị Huyền (Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương), đã chỉ ra những điểm nghẽn pháp lý giữa Luật Đầu tư và Luật Đất đai liên quan đến thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư. Bài viết phân tích sâu tình trạng thiếu liên thông giữa các giai đoạn pháp lý của dự án đầu tư có sử dụng đất, qua đó nhận diện những rủi ro thể chế và nguy cơ phát sinh tranh chấp trong thực tiễn triển khai dự án. Những kiến nghị của tác giả góp phần thúc đẩy quá trình đồng bộ hóa hệ thống pháp luật đầu tư và đất đai.

a4-1779098982.jpg

Một số dự án tại Quận 7 cũ có vị trí kết nối thuận lợi và được đầu tư bài bản về chất lượng xây dựng, tiện ích (ảnh minh họa)

Ở lĩnh vực đầu tư quốc tế, ThS. Phan Thị Trúc Linh (Đại học Quốc gia Seoul), mang đến góc nhìn cập nhật về cải cách cơ chế ISDS theo xu thế UNCITRAL qua bài viết: “Cơ chế giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và Nhà nước (ISDS): Định hướng sửa đổi phù hợp xu thế quốc tế. Tác giả phân tích những tranh luận quốc tế liên quan đến tính minh bạch, công bằng và quyền điều chỉnh chính sách của Nhà nước trong cơ chế giải quyết tranh chấp đầu tư. Công trình gợi mở nhiều định hướng quan trọng cho Việt Nam trong việc xây dựng chính sách đầu tư cân bằng giữa bảo hộ nhà đầu tư và bảo vệ lợi ích công cộng.

a5-1779099074.jpg

Tòa án chuyên biệt cho Trung tâm tài chính quốc tế sẽ đặt tại TP. Hồ Chí Minh (ảnh minh họa)

Đáng chú ý, với “Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế và sự chuyển đổi mô hình tư pháp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu”, Luật gia Lê Hùng (Học viện Chính trị khu vực I) đã phân tích sâu sắc Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế. Công trình cho thấy xu hướng chuyển đổi từ mô hình dân luật truyền thống sang mô hình tư pháp lai hiện đại, tiếp cận các chuẩn mực xét xử quốc tế như tố tụng điện tử, áp dụng pháp luật nước ngoài và sử dụng tiếng Anh trong xét xử. Bài viết có giá trị lớn trong việc nhận diện xu hướng hiện đại hóa tư pháp và nâng cao năng lực cạnh tranh pháp lý của Việt Nam.

Ở lĩnh vực phòng vệ thương mại, TS. Trần Thị Liên Hương (Khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương) đề xuất ứng dụng dữ liệu lớn trong xác định thiệt hại điều tra phòng vệ thương mại. Công trình: “Sử dụng dữ liệu lớn khi xác định thiệt hại trong điều tra phòng vệ thương mại” đã tiếp cận vấn đề dưới góc độ công nghệ dữ liệu hiện đại, phân tích những hạn chế của phương pháp truyền thống và đề xuất mô hình đánh giá dựa trên dữ liệu lớn nhưng vẫn bảo đảm tuân thủ các yêu cầu của WTO. Đây được xem là hướng nghiên cứu mới có ý nghĩa quan trọng trong nâng cao hiệu quả quản lý thương mại quốc tế.

Các nghiên cứu về doanh nghiệp, đổi mới sáng tạo và kinh tế số cũng tạo dấu ấn học thuật rõ nét với nhiều cách tiếp cận mới, gắn lý luận pháp lý với yêu cầu phát triển thực tiễn của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và chuyển đổi số. Trong bài: “Chuyển giao công nghệ từ các tập đoán đa quốc gia (MNC) sang doanh nghiệp trong nước: tiếp cận pháp lý so sánh và hàm ý cho Việt Nam, TS. Phùng Thị Yến (Viện nghiên cứu sáng tạo) phân tích cơ chế chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn đa quốc gia (MNC) sang doanh nghiệp trong nước dưới góc độ pháp lý so sánh, qua đó làm rõ vai trò của pháp luật trong thúc đẩy năng lực hấp thụ công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

TS. Phạm Thị Hồng Tâm (Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Phan Thiết) và ThS. Đàm Quang Trung (Công an tỉnh Lâm Đồng) nghiên cứu mức độ tương thích của pháp luật quản trị doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam với các chuẩn mực OECD qua bài nghiên cứu: “Pháp luật về quản trị doanh nghiệp tư nhân theo chuẩn OECD”. Theo đó đề xuất định hướng hoàn thiện cơ chế quản trị theo hướng minh bạch, hiện đại và cân bằng giữa quyền tự do kinh doanh với yêu cầu quản trị hiệu quả.

a6-1779099214.jpg

Thực tiễn đòi hỏi sớm hoàn thiện hành lang pháp lý  về Sandbox  mở đường cho đổi mới sáng tạo và tăng trưởng kinh tế xanh ở VN (ảnh minh hoạ)

Trong khi đó, với bài viết: “Pháp luật về sandbox đổi mới sáng tạo ở Việt Nam: Yêu cầu hoàn thiện nhằm thu hút FDI công nghệ cao”, NCS. Trần Thanh Tâm từ Đại học RMIT tập trung phân tích pháp luật về sandbox đổi mới sáng tạo như một công cụ cạnh tranh thể chế nhằm thu hút FDI công nghệ cao, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng cơ chế thử nghiệm pháp lý linh hoạt cho các mô hình kinh doanh mới.

Thông qua bài viết: “Nhận diện hành vi lừa đảo và một số đề xuất bảo vệ nhà đầu tư tiền ảo”, Luật gia Khổng Vũ Hà lại tiếp cận lĩnh vực tài sản số từ góc độ bảo vệ nhà đầu tư, nhận diện các hành vi lừa đảo phổ biến trong thị trường tiền ảo, phân tích những khoảng trống pháp lý hiện nay và đề xuất các giải pháp kiểm soát rủi ro, tăng cường an toàn thị trường trong bối cảnh tài sản số phát triển nhanh nhưng chưa có hành lang pháp lý đầy đủ.

Đáng chú ý, trong bài: “Bàn thêm về nguyên tắc trung lập công nghệ và vai trò trong việc hoàn thiện pháp luật về tài sản mã hoá”, TS. Đào Trọng Khôi và Nguyễn Ngọc Minh (Khoa Luật Tư, Trường ĐH Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội); và Nguyễn Ngọc Minh  (Trường Đại học VinUni) đã có đóng góp học thuật chuyên sâu khi phân tích nguyên tắc “trung lập công nghệ” trong xây dựng pháp luật về tài sản mã hóa. Công trình không chỉ khái quát cơ sở lý luận của nguyên tắc này mà còn làm rõ vai trò của cách tiếp cận trung lập công nghệ trong việc cân bằng giữa đổi mới sáng tạo và ổn định pháp lý, tránh khuynh hướng điều chỉnh cực đoan trước sự phát triển nhanh chóng của blockchain và tài sản mã hóa. Nghiên cứu đồng thời chỉ ra những thách thức mới trong việc áp dụng nguyên tắc trung lập công nghệ vào thực tiễn xây dựng pháp luật tại Việt Nam, góp phần bổ sung nền tảng lý luận cho quá trình hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số.

Ở lĩnh vực thương mại số và hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều công trình có chiều sâu cũng được công bố. ThS. Trần Phương Ngọc nghiên cứu các cam kết về thương mại dịch vụ số trong Hiệp định Đối tác kinh tế số (DEPA) và Hiệp định Khung kinh tế số ASEAN, làm rõ các tiêu chuẩn mới liên quan đến dữ liệu, an ninh mạng, bảo vệ người tiêu dùng và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế số, qua bài viết: “Các cam kết về thương mại dịch vụ số theo Hiệp định Đối tác kinh tế số và Hiệp định Khung kinh tế số ASEAN”.

a7-1779099332.jpg

Ảnh minh hoạ

PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà (Viện Nghiên cứu sáng tạo), trong bài viết: “Quy định về thương mại số trong các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam là thành viên” tập trung phân tích các quy định về thương mại số trong các FTA mà Việt Nam là thành viên như CPTPP, EVFTA, RCEP hay UKVFTA. Qua đó hệ thống hóa các cam kết thương mại số thế hệ mới và đưa ra khuyến nghị cho quá trình hoàn thiện pháp luật trong nước.

Bên cạnh đó, nghiên cứu của TS. Lê Lan Anh (Khoa Luật, Đại học Mở Hà Nội) và Vũ Thị Ngọc Linh (Lớp cao học Luật kinh tế ứng dụng, Trường ĐH Luật Hà Nội) về tính tương thích của pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong bối cảnh thực thi CPTPP và EVFTA qua bài viết: “Tính tương thích của pháp luật cạnh tranh Việt Nam trong bối cảnh thực thi các Hiệp định Thương mại tự do thế hệ mới CPTPP và EVFTA: Phân tích từ góc độ thể chế và thực thi” đã chỉ ra những khoảng cách về thể chế và tính độc lập của cơ quan cạnh tranh, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách cạnh tranh theo chuẩn mực quốc tế và yêu cầu hội nhập sâu rộng.

Sau các nghiên cứu tập trung vào kinh tế số, thương mại quốc tế và đổi mới sáng tạo ở số đầu năm, các công trình công bố trong số tháng 3/2026 tiếp tục mở rộng sang chủ đề cải cách lập pháp và kiến tạo thể chế. TS. Nguyễn Hoàng Mỹ Linh (Khoa Luật, Trường ĐH Ngoại thương) trong bài: “Từ phản ứng chính sách đến chủ động kiến tao: Bước chuyển trong hoạt động lập pháp của Quốc hội khoá XVI” đã phân tích sự chuyển đổi từ “lập pháp phản ứng chính sách” sang “lập pháp kiến tạo phát triển”, qua đó nhấn mạnh yêu cầu nâng cao tính chiến lược và khả năng dẫn dắt phát triển của hoạt động lập pháp. Công trình không chỉ mang giá trị lý luận mà còn phản ánh rõ yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

a8-1779100046.png

PGS.TS. Nguyễn Thị Thanh Thủy (Đại học Quốc gia Hà Nội) tiếp tục làm rõ yêu cầu tăng cường trách nhiệm giải trình và đánh giá tác động chính sách trong hoạt động lập pháp, qua bài viết: “Tăng cường trách nhiệm giải trình và đánh giá tác động chính sách trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam”. Tác giả đã chỉ ra tình trạng đánh giá tác động còn hình thức, cơ chế giám sát chưa hiệu quả và trách nhiệm giải trình chưa đầy đủ. Những kiến nghị được đưa ra góp phần thúc đẩy minh bạch hóa quy trình xây dựng pháp luật và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia.

Trong khi đó, TS. Đinh Thị Tâm (Công ty Luật Thiên Việt) tập trung vào kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạch định chính sách kinh tế nhằm bảo đảm tính liêm chính của Nhà nước pháp quyền, qua bài viết: “Pháp luật kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạch định chính sách kinh tế”. Công trình có giá trị thực tiễn cao khi phân tích sâu các biểu hiện của xung đột lợi ích, vai trò của pháp luật trong kiểm soát quyền lực và đề xuất cơ chế nhận diện, phòng ngừa hiệu quả hơn trong xây dựng chính sách công.

Ở lĩnh vực kinh tế số và chuyển đổi xanh, qua bài viết: “Vai trò của Quốc hội khóa XVI trong hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế số và chuyển đổi xanh ở Việt Nam”, NCS. Th.S Trần Võ Quang (Công Ty TNHH Tư Vấn ACC PRO Việt Nam) phân tích vai trò của Quốc hội khóa XVI trong hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế số và chuyển đổi xanh, với 2 đạo luật quan trọng như Luật Giao dịch điện tử 2023 và Luật Viễn thông 2023, đồng thời hoàn thiện quy định về bảo vệ môi trường, thị trường carbon và năng lượng tái tạo. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế về quản trị dữ liệu, công nghệ mới và cơ chế thị trường carbon. Công trình đề xuất một số định hướng nhằm tiếp tục hoàn thiện thể chế cho phát triển kinh tế số và chuyển đổi xanh.

Một số nghiên cứu khác tiếp tục đào sâu vai trò kiến tạo thể chế của Quốc hội và các thiết chế xã hội trong quản trị quốc gia hiện đại. Tiêu biểu là bài viết “Nâng cao chất lượng giám sát, phản biện chính sách của Mặt trận Tổ quốc và tổ chức xã hội trong lĩnh vực kinh tế” của TS. Nguyễn Thị Lan (Văn phòng Luật sư Investlinkco và Cộng sự), phân tích cơ chế phản biện xã hội đối với chính sách kinh tế và đề xuất nâng cao tính chuyên sâu, hiệu lực của hoạt động giám sát xã hội. Cùng hướng tiếp cận này, nghiên cứu “Vai trò của Quốc hội trong cải cách pháp luật đất đai, tài chính ngân hàng theo hướng pháp luật kiến tạo”  của TS. Phạm Thị Hồng Tâm (Khoa Luật Kinh tế, Trường Đại học Phan Thiết) đã làm rõ vai trò của Quốc hội trong hoàn thiện các thiết chế pháp lý nhằm khơi thông nguồn lực đất đai và thị trường tài chính trong giai đoạn phát triển mới…

Đặc biệt tháng 4/2026  , TCPL tiếp tục ghi dấu bằng các công trình mang tầm chiến lược. GS.TS. Võ Khánh Vinh với nghiên cứu về chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới , qua bài nghiên cứu: “Về chiến lược phát triển hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nghuyên phát triển mới” đã nhấn mạnh vai trò của pháp luật như một trụ cột quản trị quốc gia hiện đại. Bài viết đề xuất định hướng xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại, gắn với chuyển đổi số, kiểm soát quyền lực và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật.

a9-1779100046.png

TS. Lê Hằng Mỹ Hạnh (Trường Đại học Ngoại thương) nghiên cứu mô hình cơ quan lập pháp chuyên trách về kinh tế theo kinh nghiệm OECD qua bài: “Mô hình tổ chức cơ quan lập pháp chuyên trách về kinh tế: Kinh nghiệm các nước OECD và khả năng áp dụng tại Việt Nam”, đã gợi mở khả năng xây dựng các thiết chế lập pháp chuyên nghiệp, chuyên sâu tại Việt Nam. Công trình không chỉ có giá trị so sánh pháp luật mà còn đưa ra nhiều kiến nghị khả thi nhằm nâng cao chất lượng lập pháp trong lĩnh vực kinh tế.

Trong khi đó, với bài: “Pháp luật Việt Nam về xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử: Thực trạng và kiến nghị”, TS. Hà Công Anh Bảo (Trưởng khoa Luật, Trường Đại học Ngoại thương) phân tích pháp luật xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử, tập trung vào các thách thức mới của môi trường số. Bài viết đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, chỉ ra khoảng trống trong cơ chế thực thi và đề xuất giải pháp hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong nền kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ.

TS. Nguyễn Thị Huyền (Trường Đại học Ngoại thương) tiếp tục có thêm đóng góp học thuật với nghiên cứu về khung pháp lý chứng chỉ quản lý rừng trong bối cảnh phát triển bền vững và thương mại xanh, qua bài: “Khung pháp lý về chứng chỉ quản lý rừng nhằm quản lý phát triển rừng bền vững: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam”. Công trình làm rõ vai trò của chứng chỉ rừng trong tiếp cận thị trường quốc tế, đồng thời đề xuất hoàn thiện cơ chế pháp lý về quản lý rừng bền vững tại Việt Nam.

Đáng chú ý, nhiều bài viết đã tiếp cận những chủ đề mới có tính liên ngành cao như vận dụng nguyên tắc tương xứng trong pháp luật EU nhằm tránh hình sự hóa quan hệ kinh tế – dân sự; phát triển bảo hiểm sáng chế tại Việt Nam; hay hoàn thiện pháp luật kinh doanh bao trùm lồng ghép giới theo kinh nghiệm ASEAN. Những công trình này cho thấy xu hướng mở rộng không gian nghiên cứu của Tạp chí sang các vấn đề giao thoa giữa pháp luật, kinh tế, công nghệ và quản trị phát triển.

Ở số tháng 5/2026, các công trình tiếp tục cho thấy xu hướng nghiên cứu gắn chặt với yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển bền vững. TS. Nguyễn Quang Anh và Đặng Ngọc Phương Thảo (Trường Đại học Luật Hà Nội) phân tích cơ chế bảo đảm quyền tự do kinh doanh từ kinh nghiệm Hoa Kỳ và Trung Quốc qua công trình: “Khung pháp lý về bảo đảm quyền tự do kinh doanh: Kinh nghiệm quốc tế khuyến nghị cho Việt Nam”. Qua đó đề xuất xây dựng một đạo luật nền tảng về kinh tế tư nhân tại Việt Nam nhằm tăng cường an toàn pháp lý và kiểm soát quyền lực hành chính.

a10-1779100047.png

PGS.TS. Viên Thế Giang (Trường Đại học Ngân hàng) đánh giá thể chế thị trường dịch vụ tài chính trong điều kiện mới, chỉ ra những hạn chế về quy mô tài chính, bảo vệ người tiêu dùng và khung pháp lý cho dịch vụ tài chính công nghệ, qua bài viết: “Thể chế cho phát triển nhanh và bền vững thị trường dịch vụ tài chính trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và một số khuyến nghị”. Công trình có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy phát triển tài chính số và hiện đại hóa thị trường tài chính.

Với: “Pháp luật về phòng, chống tham nhũng và lãng phí trong quá trình sắp xếp, xử lý tài sản công: Thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện”, TS. Hoàng Ngọc Hải (Học viện Hành chính và Quản trị công) và Luật gia Lê Hùng (Học viện Chính trị khu vực I) nghiên cứu chuyên sâu về phòng chống tham nhũng, lãng phí trong xử lý tài sản công sau sáp nhập bộ máy hành chính. Bài viết có giá trị thực tiễn nổi bật khi đề xuất mô hình “một cửa”, ứng dụng chuyển đổi số trong giám sát tài sản công và tăng cường trách nhiệm người đứng đầu nhằm nâng cao hiệu quả quản trị công.

Trong lĩnh vực PPP và môi trường đầu tư, TS. Đào Xuân Thủy (Trường Đại học Ngoại thương), với bài viết: “Những vướng mắc pháp lý khi thực hiện đầu tư dự án PPP tại Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện pháp luật” đã chỉ ra các vướng mắc pháp lý trong triển khai dự án PPP, đặc biệt là cơ chế chia sẻ rủi ro và tính ổn định của chính sách pháp luật. Công trình được xem là tài liệu tham khảo có giá trị đối với quá trình hoàn thiện pháp luật đầu tư theo phương thức đối tác công tư tại Việt Nam.

11-1779100047.png

Tạo cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi cho việc triển khai thực hiện dự án PPP và dự án đầu tư có sử dụng đất (ảnh minh họa)

TS. Phạm Thị Hồng Tâm (Khoa Luật Kinh tế, Trường ĐH Phan Thiết) cùng ThS. Nguyễn Trí Tuấn (TAND khu vực 6 – Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh) nghiên cứu vấn đề không hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự trong sửa đổi Bộ luật Hình sự qua bài viết: “Sửa đổi Bộ luật Hình sự và vấn đề không hình sự hoá các quan hệ kinh tế, dân sự”. Bài viết phân tích nguy cơ mở rộng trách nhiệm hình sự quá mức và đề xuất thu hẹp phạm vi can thiệp của luật hình sự nhằm bảo đảm môi trường đầu tư kinh doanh ổn định và minh bạch.

12-1779100046.png

Ở góc độ lý luận pháp luật hình sự hiện đại, nghiên cứu “Vận dụng nguyên tắc tương xứng trong pháp luật Liên minh châu Âu nhằm tránh hình sự hóa quan hệ kinh tế, dân sự tại Việt Nam” của ThS. Trần Thị Việt Trinh (Trường ĐH Ngoại thương), ThS. Trần Minh Khang (Cục Thuế) đã tiếp cận nguyên tắc proportionality như một công cụ giới hạn sự can thiệp quá mức của luật hình sự vào các quan hệ kinh tế – dân sự. Công trình góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho xu hướng xây dựng môi trường đầu tư – kinh doanh ổn định, minh bạch và giảm thiểu rủi ro hình sự hóa các quan hệ dân sự thuần túy.

Từ bài viết: “Quy định về tuân thủ chuẩn mực ESG cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam hướng tới thị trường Châu Âu (EU)”, NCS. ThS. Hoàng Lan Anh (Công ty TNHH Tư vấn Kinh doanh Trách nhiệm và Bền vững) đề xuất lộ trình tuân thủ ESG cho doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam hướng tới thị trường EU. Công trình nhấn mạnh ESG không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là chiến lược cạnh tranh dài hạn giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bên cạnh các công trình đã được giới thiệu, nhiều nghiên cứu khác công bố trên Tạp chí Pháp lý trong 5 tháng đầu năm 2026 cũng góp phần mở rộng chiều sâu học thuật và phản ánh rõ xu hướng nghiên cứu liên ngành, hiện đại. Công trình “Cam kết về phòng vệ thương mại trong các FTA thế hệ mới và thực tiễn thực thi tại Việt Nam” của Trần Thị Liên Hương (Khoa Luật, Trường ĐH Ngoại thương) tiếp tục làm rõ những yêu cầu mới về minh bạch, thủ tục điều tra và nội luật hóa các cam kết WTO+ trong CPTPP và EVFTA.

45 công trình nghiên cứu khoa học được công bố liên tục trên Tạp chí Pháp lý trong 5 tháng đầu năm 2026 đã cho thấy sự chuyển mình mạnh mẽ của một diễn đàn pháp lý chuyên ngành theo hướng học thuật chuyên sâu, hiện đại và hội nhập quốc tế. Đây không chỉ là kết quả của quá trình đổi mới mô hình tổ chức và nâng cao chất lượng phản biện khoa học, mà còn phản ánh uy tín ngày càng lớn của Hội đồng biên tập trong việc quy tụ đội ngũ học giả, chuyên gia và nhà nghiên cứu hàng đầu trong nhiều lĩnh vực.

Việc được công nhận đạt chuẩn tạp chí khoa học Việt Nam năm 2026 là cột mốc quan trọng khẳng định vị thế mới của Tạp chí Pháp lý trong hệ sinh thái nghiên cứu khoa học pháp lý quốc gia. Như TS. Hà Công Anh Bảo – Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng biên tập Tạp chí Pháp lý, nhấn mạnh: “…là sự ghi nhận đối với những nỗ lực nâng cao chất lượng học thuật, chuẩn hóa quy trình xuất bản và tăng cường phản biện chính sách theo hướng tiệm cận các chuẩn mực quốc tế”.

Với nền tảng học thuật đã được khẳng định cùng đội ngũ tác giả ngày càng đa dạng, chất lượng và chuyên sâu, Tạp chí Pháp lý đang từng bước trở thành một diễn đàn khoa học có uy tín, đóng góp thiết thực cho tiến trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, cải cách thể chế và phát triển bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Ban Biên tập TCPL

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin