Thể chế cho phát triển nhanh và bền vững thị trường dịch vụ tài chính trong giai đoạn hiện nay: Thực trạng và một số khuyến nghị

(Pháp lý). Bài viết phân tích, đánh giá các khía cạnh, pháp lý của thể chế thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam đáp ứng mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong điều kiện mới.

Tóm tắt: Kết quả nghiên cứu cho thấy, thể chế cho thị trường dịch vụ tài chính ở Việt Nam vẫn còn một số hạn chế như: i) về quy mô và năng lực tài chính của các định chế tài chính; ii) thiếu các quy định pháp luật trong điều chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính công nghệ, kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực và iii) người tiêu dùng dịch vụ tài chính chưa được bảo vệ một cách thích đáng. Những hạn chế này có thể tiềm ẩn nhiều rủi ro tiềm tàng và do đó, khuôn khổ thể chế thị trường dịch vụ tài chính cần được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong điều kiện mới ở Việt Nam hiện nay.

Từ khóa: thể chế, thị trường dịch vụ tài chính, phát triển nhanh và bền vững, định chế tài chính, người tiêu dùng dịch vụ tài chính.

LEGAL AND INSTITUTIONAL FRAMEWORKS FOR THE SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF VIET NAM’S FINANCIAL SERVICES MARKET: CURRENT CHALLENGES AND POLICY RECOMMENDATIONS

Abstract: This article examines the legal and institutional frameworks governing the financial services market in Viet Nam in the context of the country’s sustainable development objectives. The study identifies several institutional and regulatory shortcomings that continue to constrain the development of the financial services sector, including: (i) limited scale and financial capacity of financial institutions; (ii) the absence of a comprehensive legal framework governing fintech-based financial services and multi-sector business activities; and (iii) inadequate mechanisms for the protection of financial consumers. These limitations may create significant market and systemic risks, thereby undermining the stability and sustainability of the financial services market. The article argues that the existing institutional framework should be further refined and modernized in order to strengthen market resilience, improve regulatory effectiveness, and support the sustainable development of Viet Nam’s financial services sector in the current period.

Keywords: institutional framework; financial services market; sustainable development; financial institutions; financial consumer protection.

a12-1778734866.png

Khu vực quận 1 với nhiều tòa nhà văn phòng được xem có nhiều lợi thế để hình thành trung tâm tài chính quốc tế  ( ảnh Văn Trung - tuoitre.vn)

1. Một số vấn đề lý luận về thể chế thị trường dịch vụ tài chính

1.1. Thể chế, cải cách thể chế trong quá trình phát triển của Việt Nam

Thể chế, một khái niệm rộng và trừu tượng, có nhiều cách tiếp cận để lý giải,[1] có thể là thể chế chính thức hoặc thể chế không chính thức. Tuy nhiên có thể hiểu thể chế là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực và cơ chế điều chỉnh hành vi của các chủ thể trong đời sống kinh tế – xã hội. Trong lĩnh vực kinh tế, thể chế có vai trò quan trọng trong việc tạo lập môi trường pháp lý ổn định, bảo đảm quyền tự do kinh doanh, giảm thiểu rủi ro và thúc đẩy các giao dịch thị trường diễn ra an toàn, hiệu quả. [2] Do đó, cải cách và hoàn thiện thể chế luôn được xem là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trong quá trình gần 40 năm đổi mới, Việt Nam không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế. Đặc biệt, cùng với tiến trình tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển, vai trò kiến tạo của Nhà nước thông qua hệ thống thể chế pháp luật ngày càng được khẳng định. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế nhằm bảo đảm quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng của các chủ thể trong nền kinh tế.

Trong bối cảnh đó, việc hoàn thiện thể chế cho thị trường dịch vụ tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, nâng cao năng lực cạnh tranh của các định chế tài chính, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

1.2. Thể chế thị trường dịch vụ tài chính

Thị trường dịch vụ tài chính là nơi diễn ra các hoạt động cung ứng và sử dụng các dịch vụ tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu huy động, phân bổ và sử dụng nguồn vốn trong nền kinh tế. Thị trường này chủ yếu bao gồm các hoạt động cung ứng dịch vụ ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm. Sự vận hành hiệu quả của thị trường dịch vụ tài chính có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh, bảo đảm sự luân chuyển vốn và ổn định của nền kinh tế.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, thị trường dịch vụ tài chính đang có sự thay đổi mạnh mẽ với sự xuất hiện của các công ty công nghệ tài chính (fintech), các nền tảng tài chính số và xu hướng tích hợp đa dịch vụ tài chính. Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, xu hướng này cũng đặt ra nhiều thách thức pháp lý liên quan đến an toàn hệ thống tài chính, bảo vệ dữ liệu khách hàng, quản trị rủi ro và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dịch vụ tài chính.

Thể chế thị trường dịch vụ tài chính được hiểu là hệ thống các quy tắc và cơ chế pháp lý điều chỉnh việc tổ chức và vận hành các bộ phận của thị trường tài chính như thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán và các công cụ tài chính khác. Do các bộ phận của thị trường tài chính có tính liên thông và tác động qua lại lẫn nhau nên việc xây dựng thể chế cho thị trường dịch vụ tài chính cần được tiếp cận theo hướng tổng thể, bảo đảm an toàn hệ thống, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường tài chính trong bối cảnh kinh tế số hiện nay.

2. Thực trạng và những thách thức đặt ra đối với thể chế cho phát triển của thị trường dịch vụ tài chính

2.1. Chủ thể cung ứng dịch vụ tài chính: nhiều, nhưng còn ở quy mô nhỏ, thiếu năng lực cạnh tranh quốc tế

Chủ thể cung ứng dịch vụ tài chính là các định chế tài chính hoạt động tương ứng với từng bộ phận của thị trường tài chính. Trong lĩnh vực ngân hàng, các chủ thể cung ứng dịch vụ tài chính bao gồm ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân. Trong đó, ngân hàng thương mại giữ vai trò trung tâm do được thực hiện đầy đủ các hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu lợi nhuận. Đến nay, Việt Nam đã hình thành hệ thống các tổ chức cung ứng dịch vụ ngân hàng tương đối đa dạng với 01 Ngân hàng thương mại Nhà nước, 34 ngân hàng thương mại cổ phần, 09 ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài cùng mạng lưới công ty tài chính, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân phân bố rộng khắp cả nước.

Đối với thị trường chứng khoán, các dịch vụ tài chính được cung ứng bởi nhiều chủ thể khác nhau như tổ chức phát hành, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, tổ chức lưu ký chứng khoán và các chủ thể vận hành hệ thống giao dịch chứng khoán. Trong khi đó, trên thị trường bảo hiểm, các dịch vụ tài chính được cung ứng chủ yếu bởi doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm và các tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.

Sự phát triển của hệ thống các định chế tài chính trong thời gian qua đã góp phần mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân và doanh nghiệp, thúc đẩy huy động và phân bổ nguồn vốn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, quy mô vốn, năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh quốc tế và mức độ đổi mới sáng tạo của nhiều định chế tài chính vẫn còn hạn chế. Theo định hướng phát triển đến năm 2025, Việt Nam phấn đấu có từ 2–3 ngân hàng thương mại nằm trong nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á; đến năm 2030, quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt khoảng 120% GDP và số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán đạt khoảng 11 triệu tài khoản. Đối với thị trường bảo hiểm, mục tiêu đặt ra là doanh thu ngành bảo hiểm đạt khoảng 3,3–3,5% GDP vào năm 2030.[3]

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, thị trường dịch vụ tài chính đang chịu tác động mạnh mẽ từ sự phát triển của công nghệ tài chính (fintech), tài chính số và xu hướng tích hợp đa dịch vụ tài chính. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, hiện đại nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, nâng cao năng lực cạnh tranh của các định chế tài chính, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dịch vụ tài chính trong nền kinh tế số hiện nay.

2-1778733426.png

2.2. Bảo vệ người sử dụng dịch vụ tài chính, số hóa dịch vụ tài chính với bảo đảm an ninh, an toàn thông tin khách hàng

Người sử dụng dịch vụ tài chính trên thị trường tài chính cũng được nhận diện tương ứng với chủ thể có nhu cầu sử dụng dịch vụ trên các bộ phận của thị trường tài chính. Lý luận và thực tiễn cho thấy, bảo đảm an toàn thông tin khách hàng trong cung ứng dịch vụ tài chính, bên cạnh việc bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính, còn góp phần xây dựng, bồi đắp lòng tin của người tiêu dùng dịch vụ tài chính, giữ chân khách hàng trung thành với dịch vụ tài chính do mình cung cấp. Bên cạnh đó, bảo đảm an toàn thông tin khách hàng cũng góp phần ứng phó hiệu quả với hành vi tội phạm trong môi trường số cũng như ngăn chặn các hành vi gian lận tài chính. Tuy nhiên, việc gia tăng tình trạng lừa đảo, gian lận trong sử dụng dịch vụ tài chính cũng ảnh hưởng rất lớn đến niềm tin của khách hàng đối với các định chế tài chính.

- Trên thị trường ngân hàng, thông qua nghiệp vụ nhận tiền gửi[4], tổ chức tín dụng thực hiện được chức năng trung gian tài chính bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Thông qua hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng, tổ chức tín dụng sẽ “cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng”[5]. Năm 2024, thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam đạt hơn 17 tỷ giao dịch, tổng giá trị đạt khoảng 280 triệu tỷ đồng (tăng hơn 120% về giá trị so với cùng kỳ), góp phần thúc đẩy hiệu quả nền kinh tế số, xã hội số ở Việt Nam, đặc biệt đã có hơn 87% người trưởng thành đã có tài khoản thanh toán tại ngân hàng và nhiều ngân hàng có trên 95% số lượng giao dịch được xử lý trên kênh số[6]. Tuy nhiên, tình trạng thông tin tài khoản ngân hàng bị tiết lộ cho bên thứ ba đang diễn ra ngày càng phổ biến. Chẳng hạn, Kết quả điều tra của Phòng An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an Đà Nẵng đã phá một đường dây thu thập, mua bán trái phép thông tin tài khoản ngân hàng do nhân viên ngân hàng thực hiện bằng cách sử dụng sử dụng tài khoản nội bộ ngân hàng đăng nhập vào hệ thống để tra soát thông tin rồi bán cho bên có nhu cầu với giá chỉ 200.000 đồng đến 1,9 triệu đồng mỗi trường hợp[7]. Hay trong vụ án người gửi tiền bị mất 26,5 tỷ xảy ra ở Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam và Ngân hàng Thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh khi xét xử phúc thẩm đã xác định ngân hàng không có lỗi nên không phải bồi thường và khách hàng sẽ làm Đơn kiến nghị lên Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội để xem xét lại Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn và Bản án phúc thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh theo trình tự giám đốc thẩm[8]. Dù còn “hy vọng” vào quyết định “có thể” đảo ngược, nhưng án phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật và mệnh lệnh “mất 26,5 tỷ” trong bản án đang là hiện thực mà người gửi tiền phải đối diện.

- Đối với thị trường chứng khoán, tính đến ngày 30/6/2025 đã có: i) hơn 10 triệu tài khoản của nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài, có 2307 doanh nghiệp niêm yết, đăng ký giao dịch, 89 quỹ đầu tư (tính đến ngày 30/4/2025)[9]. Số lượng các công ty chứng khoán không ngừng tăng về số lượng và vốn điều lệ. Đánh giá thực tiễn phát triển công ty chứng khoán, Báo cáo số 63/BC-BTC ngày 28/7/2017 về việc tổng kết thi hành Luật Chứng khoán của Bộ Tài chính cho thấy quy mô hiện tại của các công ty chứng khoán rất nhỏ nếu so với quy mô của các tổ chức niêm yết hoặc ngân hàng thương mại. Trong số các công ty chứng khoán hiện đang hoạt động, chỉ có hơn 10% số công ty chứng khoán có mức vốn điều lệ lớn hơn 500 tỷ đồng. Về tính đa dạng và chuyên môn hóa trong cơ cấu cạnh tranh của các công ty chứng khoán, đến nay, về dịch vụ, trong tổng số các công ty chứng khoán có 38 công ty chứng khoán thực hiện cả 04 nghiệp vụ kinh doanh, 34 công ty chứng khoán được thực hiện 3 nghiệp vụ kinh doanh, 31 công ty chứng khoán được thực hiện 02 nghiệp vụ kinh doanh và 02 công ty chứng khoán chỉ thực hiện 01 nghiệp vụ tư vấn đầu tư. Tuy nhiên, trong hoạt động đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư bị đi trong mê trận của các tin đồn thất thiệt. Hậu quả của tình trạng tin đồn, tin giả làm ảnh hưởng tới phát triển kinh tế cũng rất lớn, nhất là đối với thị trường luôn nhạy cảm với thông tin như chứng khoán, tài chính, bất động sản. Thực tế cho thấy có những tin gây thiệt hại vốn hóa nhiều nghìn tỷ đồng trên thị trường chứng khoán do thông tin được “dán nhãn mác” là tài liệu mật hay chỉ đạo nội bộ[10]. Ngoài ra, các hành vi vi phạm pháp luật về công bố thông tin, dù mức phạt cao và nhiều người đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng tình trạng vi phạm pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán vẫn không ngừng tăng lên.

- Về thị trường dịch vụ bảo hiểm, các chủ thể tham gia quan hệ bảo hiểm bao gồm: i) Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô và đóng phí bảo hiểm; ii) Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, sức khỏe, tính mạng, nghĩa vụ hoặc lợi ích kinh tế được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm; iii) Người thụ hưởng là tổ chức, cá nhân được bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Các hành vi gian lận bảo hiểm vẫn còn khá phổ biến như: hành vi thông đồng với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật; giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin để từ chối bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm đã xảy ra; giả mạo tài liệu, cố ý làm sai lệch thông tin trong hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm; tự gây thiệt hại về tài sản, sức khỏe của mình để hưởng quyền lợi bảo hiểm[11]. Đối với bảo hiểm nhân thọ, hành vi gian lận bảo hiểm bắt nguồn từ tình trạng thông tin bất cân xứng giữa người tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm. Bên cạnh đó, tình trạng người được bảo hiểm dàn dựng hiện trường giả, hoặc thậm chí cố ý tự gây thiệt hại về tính mạng của mình để hưởng quyền lợi bảo hiểm, hay giết người khác, dàn dựng hiện trường giả[12] cũng trở thành thách thức trong bảo đảm quyền lợi của chủ thể kinh doanh bảo hiểm, đặc biệt là hệ thống thông tin khách hàng, thông tin về các hành vi sai phạm trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm còn hạn chế.

Trong giai đoạn mọi lĩnh vực của đời sống xã hội được số hóa toàn diện, dữ liệu cá nhân trở thành một nguồn lực dù có tính chất “vô hình”, nhưng nó là tài sản quý giá giúp doanh nghiệp, trong đó có các định chế tài chính, tiếp cận khách hàng nhanh nhất dựa trên các nguồn dữ liệu đã được cung cấp. Các “chợ đen” dữ liệu cá nhân dần được hình thành, trở thành “môi trường” lý tưởng cho các hành vi phạm tội được thực hiện, nhất là tình trạng giả danh ngân hàng, công an, tòa án để đe dọa, yêu cầu chuyển tiền. Với sự kết nối các thông tin liên quan, các đối tượng phạm tội có thể tiếp cận được nguồn dữ liệu thông qua các “thông tin liên quan” và sự kết nối. Do đó, để bảo vệ quyền lợi người sử dụng dịch vụ tài chính trong tiến trình số hóa dịch vụ tài chính, đòi hỏi các định chế tài chính phải không ngừng hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật, nhất là yêu cầu bảo mật, an ninh và an toàn thông tin khách hàng. Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần nhanh chóng thiết lập các quy định pháp luật nhằm xác định trách nhiệm của các bên liên quan trong “dòng chảy” thông tin để xác định rõ ràng trách nhiệm khi xảy ra tình trạng thông tin khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính bị tiết lộ.

Từ những phân tích trên cho thấy, bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm khi thiết lập, vận hành thị trường dịch vụ tài chính, bởi lẽ, thị trường dịch vụ tài chính có liên quan đến tập hợp, sử dụng, phân phối các nguồn vốn phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, trong đó có bảo đảm phát triển tài chính toàn diện[13]. Điều đó có nghĩa là, bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính sẽ tạo lập cơ chế pháp lý để bảo đảm cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính, được đối xử bình đẳng, được giải quyết các khó khăn, vướng mắc khi có yêu cầu, nhất là bảo đảm an toàn (cho tài sản hoặc quyền lợi) của khách hàng khi sử dụng các dịch vụ tài chính của các định chế tài chính trên thị trường. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, khung pháp luật về bảo vệ người sử dụng dịch vụ tài chính mới đang trong quá trình hoàn thiện, được thực hiện song song với tiến trình hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động kinh tế số ở Việt Nam[14] có thể là rào cản cho việc bảo vệ hiệu quả người sử dụng dịch vụ tài chính trong giai đoạn đòi hỏi sự phát triển nhanh, nhưng phải bảo đảm yêu cầu bền vững.

2.3. Hai xu hướng tích hợp trong cung ứng dịch vụ tài chính: thách thức trong quản lý điều hành, hoạch định chiến lược và quản trị rủi ro

Trong giai đoạn hiện nay, hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính đang diễn ra theo hai xu hướng tích hợp chủ yếu.

Thứ nhất, xu hướng tích hợp dịch vụ tài chính vào các nền tảng công nghệ thông qua sự phát triển của các công ty công nghệ tài chính (fintech), tài chính số và dịch vụ tài chính nhúng (embedded finance). [15] Xu hướng này góp phần mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, giảm chi phí giao dịch, đa dạng hóa sản phẩm và thúc đẩy tài chính toàn diện. Nhiều dịch vụ tài chính hiện nay được cung ứng trực tiếp trên các nền tảng số như thanh toán điện tử, ngân hàng số, cho vay ngang hàng và các dịch vụ tài chính tích hợp trong hệ sinh thái công nghệ. Đáng chú ý, nhiều doanh nghiệp công nghệ ngoài lĩnh vực ngân hàng cũng bắt đầu cung ứng dịch vụ tài chính thông qua mô hình embedded finance, trong khi ngân hàng đóng vai trò cung cấp hạ tầng và xử lý giao dịch phía sau.

Tuy nhiên, quá trình tích hợp dịch vụ tài chính với nền tảng công nghệ cũng làm gia tăng nhiều thách thức liên quan đến quản trị rủi ro, an toàn hệ thống, bảo mật dữ liệu khách hàng và kiểm soát cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời, áp lực đổi mới công nghệ liên tục cũng buộc các định chế tài chính phải điều chỉnh chiến lược phát triển và nâng cao năng lực quản trị trong môi trường cạnh tranh số.

Thứ hai, xu hướng tích hợp đồng thời nhiều dịch vụ tài chính thông qua mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng hoặc liên kết giữa các định chế tài chính trong các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm ngày càng trở nên phổ biến. Xu hướng này cho phép các định chế tài chính đa dạng hóa dịch vụ, mở rộng hệ sinh thái tài chính và nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các mô hình như bancassurance, universal banking hay tập đoàn tài chính là những biểu hiện điển hình của xu hướng tích hợp dịch vụ tài chính hiện nay.

Mặc dù mang lại nhiều lợi ích về kinh tế và khả năng đa dạng hóa dịch vụ, xu hướng tích hợp tài chính cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro như xung đột lợi ích, rủi ro lan truyền giữa các lĩnh vực tài chính, khó khăn trong giám sát và nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế quản lý và cơ chế giám sát tài chính theo hướng đồng bộ, hiện đại và thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường dịch vụ tài chính trong nền kinh tế số hiện nay.

2.4. Xanh hóa dịch vụ tài chính trong mối quan hệ với phát triển nhanh và bền vững

Ngày nay, chuyển đổi sang kinh tế xanh trở thành xu hướng tất yếu khi những tác động tiêu cực đến môi trường ngày càng nghiêm trọng. Khi đề cập đến kinh tế xanh, các quốc gia đặt trọng tâm vào việc bảo đảm giảm thiểu hoặc có thể kiểm soát được những tác động xấu từ các hoạt động kinh tế đối với môi trường sống. Nội dung này được xem xét dựa trên tương quan giữa lợi ích kinh tế mang lại và những chi phí bỏ ra để giảm thiểu những tác hại xấu đối với môi trường sống cũng như sinh kế của người dân không bị ảnh hưởng do những biến đổi của môi trường do tác động của các hoạt động kinh tế. Việc đổi mới công nghệ, tăng cường nguồn năng lượng tái tạo, giảm sự lệ thuộc vào nguồn năng lượng hóa thạch, từ đó sẽ tạo ra được những hàng hóa, dịch vụ thân thiện với môi trường cũng được xác định là yếu tố của tăng trưởng xanh và nhấn mạnh đến yêu cầu sản xuất xanh bao gồm sản phẩm xanh, ngành/lĩnh vực sản xuất xanh... từ đó hình thành các xu hướng đầu tư theo hướng phát triển xanh bằng các biện pháp, chính sách hỗ trợ, tác động từ phía Nhà nước để xu hướng sản xuất, tiêu dùng xanh trở thành yếu tố chủ đạo, dẫn dắt nền kinh tế. Để làm được điều này, ngoài việc đa dạng hóa các kênh thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước thì Nhà nước cũng có những đầu tư thích đáng cho việc hình thành ngành kinh tế xanh, doanh nghiệp xanh.

Việt Nam là quốc gia chịu tác động mạnh mẽ của biến đổi khí hậu và tình trạng suy thoái môi trường đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng. Theo đó, Việt Nam là một trong 9 nước có ít nhất 50 triệu người bị đe dọa bởi nước biển dâng, bão với cường độ mạnh hơn và các rủi ro khác. Biến đổi khí hậu tác động lên Việt Nam vừa có tính chất kinh niên và vừa có tính chất cực đoan. Các tác động kinh niên gồm xâm nhập mặn tại các khu vực thấp, ví dụ đồng bằng sông Cửu Long, gây ảnh hưởng đến mùa vụ và nước ngầm. Nhiệt độ tăng cũng được xem là nguyên nhân dẫn tới tần suất cháy rừng tăng lên[16]. Đây là cơ sở để Việt Nam xác định “Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, dẫn dắt; người dân và doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm và là chủ thể thực hiện cùng với sự tham gia hiệu quả của các tổ chức chính trị - xã hội”[17] trong thực hiện chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu. Để chuyển đổi xanh, Việt Nam cũng như các quốc gia cần huy động các nguồn lực tài chính cho các mục tiêu tăng trưởng xanh, bao gồm các dịch vụ tài chính, thể chế, các sáng kiến và chính sách quốc gia, và các sản phẩm tài chính (nợ, vốn chủ sở hữu, bảo hiểm, và tài sản đảm bảo); được thiết kế để thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môi trường, giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao hiệu quả trong bảo tồn nguồn vốn tự nhiên và huy động các nguồn lực. Do vậy, có thể hiểu tài chính xanh được hiểu là tài chính phục vụ cho sự phát triển bền vững của toàn xã hội[18].

Tại Việt Nam, tài chính cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đã được định hình thông qua các quy định pháp luật về tín dụng xanh[19], trái phiếu xanh[20]. Tuy nhiên, các quy định pháp luật về tín dụng xanh chưa được thể hiện rõ nét trong các quy định về cấp tín dụng. Theo đó, trong các quy định pháp luật về cấp tín dụng, chỉ có nghiệp vụ cho vay đòi hỏi khi quyết định cho vay, tổ chức tín dụng phải tuân thủ pháp luật, trong đó có pháp luật về bảo vệ môi trường[21]. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng vốn vay, các rủi ro môi trường do dự án đầu tư mang lại là “khả năng xảy ra những tác động xấu tới môi trường trong quá trình thực hiện dự án đầu tư dẫn đến làm phát sinh thêm chi phí, giảm thu nhập hoặc gây tổn thất về vốn, tài sản của khách hàng là chủ dự án đầu tư”[22] nên khó có thể dự liệu được hết các tình huống phát sinh. Do vậy, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 hướng dẫn thực hiện quản  rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tạo lập khuôn khổ pháp lý để tổ chức tín dụng xây dựng quy định nội bộ để quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng độc lập hoặc lồng ghép trong quy định nội bộ về cấp tín dụng và quy định nội bộ về kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, phù hợp với các quy định của pháp luật về hoạt động cấp tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu nêu trên, song nguồn tài chính cho phát triển kinh tế xanh phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng. Trong điều kiện nguồn vốn tín dụng cho phát triển kinh tế xanh vẫn chiếm tỷ trọng lớn, đòi hỏi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong điều hành chính sách tiền tệ cần quan tâm thích đáng và đưa nội dung tín dụng xanh vào nội dung và thực tiễn điều hành chính sách tiền tệ. Để bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ này, bên cạnh việc phát huy vai trò của Chính phủ và các bộ, ngành, còn đòi hỏi phải phát huy hơn nữa vai trò của ngân hàng trung ương Việt Nam trong hoạch định chính sách, điều hành chính sách tiền tệ phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế xanh của Nhà nước. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, nguồn tài chính cho phát triển kinh tế xanh ở Việt Nam nhìn chung vẫn non trẻ và chậm trong việc triển khai áp dụng những công cụ tài chính mới so với thị trường quốc tế. Tín dụng xanh vẫn là công cụ huy động vốn chủ yếu, chiếm tỷ trọng lớn cho các dự án xanh, với tốc độ tăng trưởng trung bình lên đến 25%/năm. Tổng dư nợ tín dụng xanh đạt hơn 18,7 tỷ USD vào 2021 (tăng 33% so với năm 2020), chiếm 4,2% tổng dư nợ tín dụng nền kinh tế và 5,27% GDP. Các công cụ tài chính mới (như trái phiếu xanh) được áp dụng phổ biến trên thế giới, nhưng chưa phổ biến tại Việt Nam. Điều này hoàn toàn trái ngược với các quốc gia phát triển, đi đầu và có nhiều kinh nghiệm về tăng trưởng xanh như Thụy Điển, Na Uy và Iceland có tỉ trọng trái phiếu xanh cao hơn hẳn (với lần lượt 6,6%; 6,9% và 8,2% thị trường trái phiếu toàn quốc) trong giai đoạn 2012-2021. Từ kinh nghiệm của các quốc gia này cho thấy, công cụ tài chính xanh có vai trò quan trọng trong thu hút vốn đầu tư xanh[23] không chỉ đáp ứng cho nhu cầu tài chính của từng dự án đầu tư, mà còn trở thành kênh đầu tư hữu hiệu.

2.5. Hoạt động quản lý, giám sát thị trường dịch vụ tài chính

Quản lý, giám sát thị trường dịch vụ tài chính là hoạt động giám sát đối với các chủ thể cung ứng dịch vụ tài chính, dịch vụ tài chính và hạ tầng cung ứng dịch vụ tài chính nhằm bảo đảm an toàn hệ thống tài chính và bảo vệ quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Hiện nay, Việt Nam áp dụng mô hình giám sát tài chính chuyên ngành, theo đó mỗi bộ phận của thị trường dịch vụ tài chính được quản lý bởi cơ quan giám sát tương ứng.

Trong lĩnh vực ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện hoạt động thanh tra, giám sát đối với các tổ chức tín dụng nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng, góp phần bảo đảm sự ổn định của hệ thống tài chính và bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền. Đối với lĩnh vực bảo hiểm, hoạt động quản lý, giám sát do Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm thực hiện đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm và các chủ thể liên quan trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Trong khi đó, hoạt động quản lý, giám sát chứng khoán và thị trường chứng khoán được thực hiện bởi Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đối với các chủ thể tham gia thị trường và hệ thống giao dịch chứng khoán.

Tuy nhiên, trong bối cảnh tích hợp dịch vụ tài chính và chuyển đổi số hiện nay, mô hình giám sát chuyên ngành đã bộc lộ một số hạn chế nhất định. Thứ nhất, mô hình này khó đáp ứng yêu cầu giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính đa ngành, đa lĩnh vực cũng như hoạt động của các tập đoàn tài chính – ngân hàng và hệ sinh thái tài chính số có tính liên thông cao. Điều này có thể tạo ra khoảng trống trong quản lý, giám sát và làm gia tăng nguy cơ rủi ro lan truyền trong hệ thống tài chính.

Thứ hai, khuôn khổ pháp lý và cơ chế giám sát đối với các dịch vụ tài chính số, fintech và các nền tảng công nghệ tài chính vẫn chưa theo kịp tốc độ phát triển của thị trường. Sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ tài chính số đặt ra nhiều vấn đề mới liên quan đến bảo mật dữ liệu khách hàng, trách nhiệm pháp lý của chủ thể cung ứng dịch vụ tài chính số, cơ chế giải quyết tranh chấp và bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính.

Thứ ba, mức độ liên thông giữa thị trường dịch vụ tài chính với thị trường bất động sản ngày càng gia tăng thông qua hoạt động tín dụng và phát hành trái phiếu doanh nghiệp bất động sản. Điều này có thể làm phát sinh nguy cơ ảnh hưởng dây chuyền giữa thị trường ngân hàng, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản, từ đó tác động đến sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính..

3-1778733426.jpg

Hoạt động giao dịch ngân hàng (ảnh minh hoạ)

3. Kết luận và kiến nghị

Thể chế cho phát triển thị trường dịch vụ tài chính là một bộ phận không thể tách rời của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thị trường dịch vụ tài chính đóng vai trò thúc đẩy luân chuyển nguồn vốn trong nền kinh tế, đáp ứng tối đa yêu cầu của các bên liên quan. Với những khó khăn, thách thức được đặt ra ở trên, tác giả khuyến nghị một số giải pháp góp phần hoàn thiện thể chế thị trường dịch vụ tài chính đối với sự phát triển nhanh và bền vững đất nước trong điều kiện mới như sau:

Một là, hoàn thiện khuôn khổ thể chế phát triển định chế tài chính có đủ năng lực tài chính để cạnh tranh với các định chế tài chính trong khu vực cũng như trên thế giới. Đây là giải pháp cần được nhanh chóng thực hiện thông qua:

- Sửa đổi các quy định về vốn pháp định hay vốn điều lệ tối thiểu theo hướng nâng cao giá trị vốn so với các quy định hiện hành.

- Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đầu tư vào các định chế tài chính. Giải pháp này, trước hết, giúp nâng cao năng lực tài chính, tiếp nhận từng bước các tiêu chuẩn, năng lực quản trị thông qua việc bảo đảm sự tham gia của các định chế tài chính nước ngoài vào quản lý, điều hành. Bên cạnh đó, với hoạt động đầu tư của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, các định chế tài chính trong nước có được “cầu nối” trong liên kết phát triển, mở rộng phạm vi hoạt động của mình.

- Nâng cao năng lực quản trị, điều hành, nhất là phát huy vai trò của người quản lý, người điều hành các định chế tài chính trong hoạch định chiến lược phát triển, nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực tiễn hoạt động quản lý, điều hành.

Hai là, tiếp tục hoàn thiện thể chế bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính theo hướng, nhấn mạnh vai trò trung tâm của người sử dụng dịch vụ tài chính trong cung ứng dịch vụ tài chính trên thị trường. Các giải pháp cần tập trung vào:

- Xác định bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính trước hết thuộc về tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính, nhất là bảo vệ thông tin người dùng cũng như bảo đảm an toàn giao dịch, nhất là nguy cơ bị lừa đảo thông qua các ứng dụng. Các định chế tài chính nên xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, thường xuyên cập nhật các hành vi lừa đảo mới hoặc các nguy cơ hay rủi ro mới phát sinh để người tiêu dùng dịch vụ tài chính có thể nhận biết sớm để phòng ngừa, đồng thời thiết lập bộ phận chuyên trách trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tài chính cũng như hỗ trợ người tiêu dùng dịch vụ tài chính trong những trường hợp cần thiết.

- Nghiên cứu thiết lập cơ quan chuyên trách trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dịch vụ tài chính trong cơ cấu, tổ chức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý, giám sát thị trường dịch vụ tài chính. Kinh nghiệm tại Indonesia cho thấy, Cơ quan dịch vụ tài chính có vai trò quan trọng trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dịch vụ tài chính, nhất là trong bối cảnh sự phát triển của ngành công nghệ tài chính[24]. Trách nhiệm này được dựa trên các quy định pháp luật và sự tham gia của cơ quan giám sát tài chính[25].

- Nghiên cứu xây dựng văn bản hướng dẫn bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng dịch vụ tài chính. Các quy định này một mặt phải tuân thủ quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đồng thời phải thể hiện đặc thù của dịch vụ tài chính, nhất là bảo đảm an toàn cho các giao dịch liên quan đến tạo lập, sử dụng, phân phối nguồn lực tài chính trong nền kinh tế cũng như bảo vệ quyền lợi các bên liên quan trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán.

Ba là, nghiên cứu hoàn thiện khuôn khổ chính sách cho phát triển dịch vụ tài chính công nghệ, nhất là việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong cung ứng dịch vụ tài chính. Hiện nay, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo đã đi vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Bên cạnh vai trò tích cực, những khía cạnh rủi ro hoặc tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội, đạo đức cũng đang được các quốc gia phân tích, đánh giá và từng bước xây dựng khuôn khổ pháp luật điều chỉnh từ những quốc gia có nền kinh tế phát triển như Liên minh Châu Âu[26] cho đến đi vào những thách thức trong tuân thủ pháp luật khi điều chính trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính[27]. Nhiều thách thức được đặt ra và phân tích ở khía cạnh pháp lý, như vấn đề an ninh mạng trong ngành tài chính[28] cũng như các vấn đề về quyền riêng tư, bảo vệ dữ liệu và đạo đức khi thiết kế khuôn khổ pháp lý và quy định cho việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong thị trường dịch vụ tài chính nhằm tăng cường khả năng tiếp cận tài chính (bao trùm tài chính)[29]. Để thiết lập khuôn khổ thể chế cho xu hướng tích hợp các dịch vụ tài chính dựa trên các nền tảng công nghệ, tác giả kiến nghị:

- Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện khuôn khổ pháp luật cho hoạt động tài chính công nghệ để tạo lập cơ sở pháp lý thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính số[30] đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế số, xã hội số.

- Nghiên cứu làm rõ nội hàm và phạm vi của tài chính số[31] nhằm tạo cơ sở cho hoạt động quản trị rủi ro cũng như điều chỉnh pháp luật tương ứng với từng bộ phận của thị trường dịch vụ tài chính.

Bốn là, nghiên cứu hoàn thiện khuôn khổ thể cho phát triển tài chính xanh trung và dài hạn, giảm thiểu sự lệ thuộc vào thị trường tín dụng xanh, nhất là phát triển trái phiếu xanh[32] và chứng khoán xanh các loại. Đây là giải pháp cần được xem là giải pháp căn cơ, lâu dài nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững[33], đồng thời cũng cần tiến hành đồng bộ cùng với quá trình hoàn thiện khuôn khổ chính sách, pháp luật của các bộ phận của thị trường tài chính.

Năm là, tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ thể chế cho hoạt động quản lý, giám sát thị trường cung ứng dịch vụ tài chính theo hướng, kết hợp quản lý, giám sát độc lập, chuyên ngành, đồng thời tăng cường cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin không chỉ giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với Bộ Tài chính mà còn với Bộ Công an trong việc phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, nhất là tội phạm công nghệ cao, tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm đang có nhiều hướng ngày càng gia tăng hiện nay.

4. Kết luận

Phát triển thị trường dịch vụ tài chính có mối liên hệ chặt chẽ với các mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia. Điều này được lý giải ở chính vai trò tạo lập, sử dụng và phân bổ các nguồn lực tài chính để đáp ứng nhu cầu của các bên trên thị trường tài chính. Để phát triển bền vững thị trường dịch vụ tài chính bên cạnh đòi hỏi phải dựa trên khuôn khổ thể chế cụ thể, rõ ràng, minh bạch và theo kịp thời sự phát triển của thị trường dịch vụ tài chính còn phải thiết lập được các định chế tài chính có tiềm lực tài chính, đa dạng dịch vụ và theo kịp xu hướng phát triển về công nghệ cũng như kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực. Bên cạnh đó, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quản lý, giám sát bảo đảm ổn định, an toàn hệ thống tài chính cũng là chìa khóa giúp hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của thị trường dịch vụ tài chính.

-----------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Calliess, Christian, and Anika Baumgarten. “Cybersecurity in the EU: The Example of the Financial Sector: A Legal Perspective.” German Law Journal 21, no. 6 (2020): 1149–1179. https://doi.org/10.1017/glj.2020.67.

2. Geoffrey M. Hodgson. “What Are Institutions?” Journal of Economic Issues 40, no. 1 (2006): 1–25.

3. Iyelolu, T. V., E. E. Agu, C. Idemudia, and T. I. Ijomah. “Legal Innovations in FinTech: Advancing Financial Services through Regulatory Reform.” Finance & Accounting Research Journal 6, no. 8 (2024): 1310–1319.

4. Nguyễn Thị Hải Bình và Dương Ngọc Sơn. “Triển vọng thị trường tài chính Việt Nam năm 2025.” Tạp chí Tài chính, kỳ 1–2, tháng 2 năm 2025.

5. Pazarbasioglu, Ceyla, Alfonso Garcia Mora, Mahesh Uttamchandani, Harish Natarajan, Erik Feyen, and Matthew Saal. Digital Financial Services. Washington, DC: World Bank, 2020.

 


[1] Woodhouse, Drew (2024). Institutional Theory. In: Reference Collection in Social Sciences. Elsevier, Sheffield Hallam University Research Archive.

[2] Geoffrey M. Hodgson. (2006). What are institutions? Journal of Economic Issues. Vol. XL No. 1 March 2006, 1-25.

[3] Quyết định số 986/QĐ-TTg 2018 ngày 8/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến 2025, định hướng đến 2030.

[4] Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi và hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho tổ chức, cá nhân gửi tiền (Khoản 27 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024).

[5] Khoản 15 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2024.

[6] Nguyễn Thị Hải Bình, Dương Ngọc Sơn, Triển vọng thị trường tài chính Việt Nam năm 2025, Tạp chí Tài chính kỳ 1+2 tháng 2/2025.

[7] Ánh Hồng, Chặn rò rỉ thông tin tài khoản ngân hàng, Tuổi Trẻ Online, truy cập tại địa chỉ: http://tuoitre.vn ngày 24/6/2023.

[9] Số liệu được tác giả thu thập từ http://ssc.gov.vn

[10] Thanh Lam, Đầu tư chứng khoán thời tin giả 'đè' tin thật, truy cập tại địa chỉ: http://nhadautu.vn ngày 03/7/2025.

[11] Nguyễn Quốc Phú, Nguyễn Phương Anh, Phòng, chống gian lận trong kinh doanh bảo hiểm, Tạp chí Quản lý nhà nước số 327, tháng 4/2023, tr.49-52.

[12] Bạch Thị Nhã Nam, Gian lận bảo hiểm nhân thọ và giải pháp phòng, chống gian lận, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 438, kỳ 2 tháng 7/2021, tr.18-24.

[13] Hoàng Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Vân, Đỗ Thị Hồng Hạnh, Bảo vệ người tiêu dùng tài chính trong bối cảnh phát triển tài chính toàn diện tại Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Đào tạo ngân hàng số 218, tháng 7/2020, tr.9-19.

[14] Bùi Hữu Toàn, Khung pháp lý về bảo vệ người tiêu dùng tài chính ở Việt Nam – thực trạng và một số khuyến nghị chính sách, Tạp chí Ngân hàng số 3, tháng 2/3023, tr.3-20.

[15] Bùi Thị Mến, Phạm Thị Vân Huyền, Lương Minh Hà, Thúc đẩy dịch vụ tài chính chính thức tại Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, Số 208- Tháng 9/2019, tr.72-82.

[16] World Bank Group. (2020). Việt Nam năng động: Tạo nền tảng cho một nền kinh tế thu nhập cao. Các chuyên đề nghiên cứu, tháng 5/2020, Nxb. Thanh Niên, Hà Nội, tr.163.

[17] Thủ tướng Chính phủ. (2022). Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26 tháng 7 năm 2022 phê duyệt “Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050”.

[18] Trần Thị Xuân Anh Nguyễn Thị Lâm Anh Ngô Thị Hằng Trần Anh Tuấn, Xây dựng hệ thống Tài chính xanh- Kinh nghiệm một số nước trên thế giới và bài học cho Việt Nam, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng Số 204, tháng 5/2019, tr.65-78.

[19] Theo quy định tại Khoản 1 Điều 149 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Tín dụng xanh là tín dụng được cấp cho dự án đầu tư sau đây:

a) Sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên;

b) Ứng phó với biến đổi khí hậu;

c) Quản lý chất thải;

d) Xử lý ô nhiễm, cải thiện chất lượng môi trường;

đ) Phục hồi hệ sinh thái tự nhiên;

e) Bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học;

g) Tạo ra lợi ích khác về môi trường.

[20] Trái phiếu xanh là trái phiếu do Chính phủ, chính quyền địa phương, doanh nghiệp phát hành theo quy định của pháp luật về trái phiếu để huy động vốn cho hoạt động bảo vệ môi trường, dự án đầu tư mang lại lợi ích về môi trường (Khoản 1 Điều 150 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020).

[21] Khoản 1 Điều 4 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 31/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

[22] Khoản 2 Điều 3 Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dẫn thực hiện quản  rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

[23] Bộ Kế hoạch và Đầu tư. (2023). Tăng trưởng xanh: cơ hội đột phá và hướng đi cho Việt Nam. Báo cáo triển khai Kết luận Phiên họp toàn thể lần thứ nhất Ban Chỉ đạo quốc gia về tăng trưởng xanh, Hà Nội, ngày 30 tháng 5 năm 2023, tr. 9.

[24] Widiyastuti, S. M., & Widijantoro, J. (2019). The role of Financial Services Authority in the consumer protection amid the growth of fintech industry in Indonesia. Jurnal of Mimbar Hukum31(2), 297-308.

[25] Guntara, D., & Abas, M. Legal Analysis of Financial Sector Supervision and Regulation for Consumer Protection in Financial Services. Jurnal Pembaharuan Hukum12(1), 159-178.

[26] Oksana, S., Roman, B. (2025). The evolution of legal foundations for financial services regulation in the European Union: Challenges and prospects. Journal of Legal, Ethical and Regulatory Issues, 28(2), 1-13.

[27] Mirishli, S. (2025). Regulating AI in Financial Services: Legal Frameworks and Compliance Challenges. arXiv preprint arXiv:2503.14541.

[28] Calliess C, Baumgarten A. (2020). Cybersecurity in the EU: The Example of the Financial Sector: A Legal Perspective. German Law Journal. Vol. 21 (6):1149-1179. doi:10.1017/glj.2020.67

[29] Lee, J. (2020). Access to finance for artificial intelligence regulation in the financial services industry. European Business Organization Law Review21(4), 731-757

[30] Iyelolu, T. V., Agu, E. E., Idemudia, C., & Ijomah, T. I. (2024). Legal innovations in FinTech: Advancing financial services through regulatory reform. Finance & Accounting Research Journal, Vol. 6(8), 1310-1319.

[31] Pazarbasioglu, C., Mora, A. G., Uttamchandani, M., Natarajan, H., Feyen, E., & Saal, M. (2020). Digital financial services. World Bank54(1), 1-54.

[32] Nguyễn Thị Liên, Phạm Hồng Hạnh, Phát hành trái phiếu xanh tại Việt Nam: thực trạng và khuyến nghị, Tạp chí Môi trường số 1/2025, tr.73-80.

[33] Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Cục Kinh tế Liên bang Thụy Sĩ (SECO), Sổ

tay Hướng dẫn phát hành cho trái phiếu xanh, trái phiếu xã hội và trái phiếu bền vững, xuất bản bởi Tổ chức Sáng kiến Trái phiếu khí hậu, tháng 1/2021.

PGS. TS. Viên Thế Giang (Trường ĐH Ngân hàng TP.HCM. Email: giangvt@hub.edu.vn)

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin