Văn hóa số - bệ phóng cho khát vọng vươn xa của sức mạnh mềm Việt Nam

Trong giai đoạn phát triển mới, văn hóa số không chỉ là số hóa các giá trị truyền thống mà còn là không gian định hình nhận thức, lối sống và chuẩn mực xã hội. Vì vậy, cần đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm, xây dựng hệ sinh thái sáng tạo, an toàn, qua đó chuyển hóa bản sắc Việt Nam thành nguồn lực và sức mạnh mềm quốc gia.

Nhân dân ở trung tâm - chủ thể sáng tạo, thụ hưởng văn hóa số

Nghị quyết số 80-NQ/TW ra đời trong bối cảnh đất nước đang chuyển mạnh sang mô hình phát triển dựa trên dữ liệu, tri thức, đổi mới sáng tạo và năng lực số. Nghị quyết tiếp tục khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực phát triển và sức mạnh mềm quốc gia; đồng thời xác định Nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng các giá trị văn hóa. Trong tiến trình chuyển đổi số, yêu cầu đặt ra không dừng ở việc số hóa sản phẩm và thiết chế văn hóa, mà hướng tới kiến tạo một không gian văn hóa mới giàu bản sắc dân tộc, thấm đẫm tinh thần dân chủ, nhân văn và hiện đại[1].

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 79 và 80 của Bộ Chính trị, ngày 25/2/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Nếu kinh tế quyết định năng lực đi nhanh, thì “văn hóa quyết định khả năng đi xa”. Nếu kinh tế tạo ra của cải vật chất, thì văn hóa tạo ra bản lĩnh, kỷ luật, niềm tin và sức mạnh tinh thần để đất nước vượt qua thử thách và vươn lên.

1-1785287258.jpg

Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) và các lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước tại Tổng Bí thư Tô Lâm dự Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện các Nghị quyết số 79 và số 80 của Bộ Chính trị hồi tháng 2/2025

Chỉ đạo sâu sắc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã đặt văn hóa trong bức tranh lớn về tương lai và sức mạnh của dân tộc. Quan điểm “kinh tế quyết định năng lực đi nhanh, văn hóa quyết định khả năng đi xa” thể hiện tư duy chiến lược, trí tuệ và tầm nhìn toàn cục về con đường phát triển đất nước. Kinh tế tạo ra nguồn lực vật chất, còn văn hóa bồi đắp bản lĩnh, kỷ luật, niềm tin và sức mạnh tinh thần để dân tộc vượt qua thử thách, giữ vững bản sắc và khẳng định vị thế.

Tầm nhìn của người đứng đầu Đảng, Nhà nước gợi mở một yêu cầu quan trọng: phát triển kinh tế số phải gắn với xây dựng con người số và môi trường văn hóa số lành mạnh. Đất nước đi nhanh nhờ công nghệ, nhưng muốn đi xa phải dựa trên nền tảng văn hóa dân tộc.

Muốn vậy, công cuộc đổi mới phải chiến thắng sức nặng của quán tính cũ, tạo chuyển biến căn bản trong quản lý, bảo tồn, sáng tạo và tổ chức đời sống văn hóa, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò đồng kiến tạo của Nhân dân.

Số hóa không tự động tạo ra văn hóa số. Một xã hội có mức độ kết nối cao vẫn có thể bị phân mảnh bởi tin giả, định kiến, bạo lực ngôn từ và những “bong bóng” thông tin. Số lượng lớn tài khoản mạng xã hội không đồng nghĩa với nhiều công dân số có tư duy phản biện. Chiều sâu văn hóa vẫn do con người, hệ giá trị và cách tổ chức đời sống số quyết định.

2-1785287266.png

TS. Vũ Văn Tiến, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội - tác giả bài viết

Văn hóa số bao gồm các giá trị, chuẩn mực, hành vi, năng lực và phương thức sáng tạo, lưu giữ, truyền bá, tiếp nhận văn hóa trong môi trường số. Trên không gian đó, công chúng trực tiếp sáng tạo và lan tỏa giá trị: nghệ nhân truyền nghề qua video, cộng đồng xây dựng bản đồ di sản, giáo viên làm bài giảng tương tác, người trẻ chuyển hóa truyền thuyết thành phim, âm nhạc, trò chơi.

Do đó, không gian số mở rộng quyền tiếp cận, biểu đạt và tham gia, song cũng đặt ra thách thức về thông tin, quyền riêng tư, sở hữu trí tuệ. Vì vậy, cần hài hòa kế thừa với đổi mới, hội nhập với tự chủ, tự do sáng tạo với trách nhiệm, dân chủ với kỷ cương.

Tăng cường sức đề kháng, bảo vệ không gian văn hóa số an toàn, lành mạnh

Việt Nam có kho tàng văn hóa phong phú. Tuy nhiên, “điểm nghẽn” hiện nay không nằm ở sự thiếu hụt tài nguyên, mà ở khả năng biến nguồn lực này thành tri thức dễ tiếp cận, câu chuyện có sức cuốn hút, sản phẩm sáng tạo và tài sản trí tuệ có giá trị. Dữ liệu phải được tổ chức, diễn giải để trở thành trải nghiệm sống động.

Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu xây dựng dữ liệu văn hóa quốc gia và ứng dụng công nghệ mới. Hạ tầng văn hóa số cần được vận hành như một nền tảng phát triển có khả năng kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả, để số hóa không dừng ở việc “cộng dồn” dữ liệu, mà góp phần “nhân” lên sức sáng tạo, giá trị khai thác và khả năng lan tỏa của văn hóa Việt Nam. Thế nhưng, cách thể hiện hiện đại phải dựa trên tính xác thực, hấp dẫn phải gắn với trách nhiệm; công nghệ không thể làm sai lệch lịch sử hoặc thương mại hóa một cách phản cảm những biểu tượng thiêng liêng của dân tộc.

Từ tinh thần đó, thước đo của chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa không chỉ nằm ở mức độ ứng dụng công nghệ, mà quan trọng hơn là khả năng đưa các giá trị văn hóa đến gần công chúng, tạo nên những trải nghiệm sâu sắc, thúc đẩy sáng tạo, nâng cao hiệu quả giáo dục, tạo giá trị kinh tế và quảng bá sản phẩm Việt Nam ra thế giới.

Đòi hỏi này càng trở nên cấp thiết khi không gian mạng đang gia tăng tin giả, nội dung xuyên tạc lịch sử, hành vi lừa đảo, xâm phạm dữ liệu cá nhân và bản quyền. Trong khi thuật toán ưu tiên những nội dung giật gân, cực đoan nhằm thu hút tương tác, các chuẩn mực văn hóa có nguy cơ bị chi phối bởi lượt xem, thay vì góp phần bồi đắp và lan tỏa những giá trị tích cực.

Trước những thách thức mà nền văn hóa đã, đang và sẽ phải đối mặt trên cả không gian thực lẫn không gian mạng, Nghị quyết số 80-NQ/TW yêu cầu kết hợp hài hòa giữa “xây” và “chống”, mở rộng không gian sáng tạo đi cùng bảo đảm an ninh, giữa khai thác dữ liệu với giữ vững chủ quyền văn hóa số; đồng thời chú trọng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu sáng tạo và môi trường văn hóa trên mạng.

Trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng không gian văn hóa số an toàn, lành mạnh, lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò nòng cốt trong bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh mạng, an toàn dữ liệu, an ninh con người và trật tự xã hội.

Vai trò này được phát huy trong sức mạnh tổng hợp của toàn dân và cả hệ thống chính trị. Định hướng mới đặt ra không dừng ở việc xử lý tài khoản vi phạm hay gỡ bỏ nội dung xấu độc sau khi hậu quả phát sinh, mà phải chủ động nghiên cứu, dự báo và nhận diện sớm các hoạt động thao túng nhận thức, xuyên tạc lịch sử, kích động chia rẽ, xâm phạm dữ liệu và quyền tác giả.

Cùng với việc tham mưu hoàn thiện pháp luật, lực lượng Công an cần phối hợp chặt chẽ với ngành văn hóa, giáo dục, báo chí, doanh nghiệp công nghệ và các tầng lớp nhân dân nhằm tăng cường sức đề kháng của xã hội trước những tác động tiêu cực trên không gian mạng.

Lan tỏa giá trị Việt Nam, bồi đắp sức mạnh mềm quốc gia

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030, công nghiệp văn hóa đóng góp khoảng 7% GDP và hình thành 5-10 thương hiệu quốc gia; đến năm 2045 đóng góp khoảng 9% GDP, đưa Việt Nam vào nhóm ba quốc gia dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới về sức mạnh mềm. Văn hóa phải trở thành nguồn lực sản xuất và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, tư duy phát triển sản phẩm văn hóa cần chuyển từ việc chỉ quảng bá những giá trị sẵn có sang sáng tạo những sản phẩm phù hợp với nhu cầu công chúng nhưng vẫn đậm đà bản sắc Việt Nam.

Sức mạnh mềm của một quốc gia không thể xin mà có, không thể mua mà được, càng không thể hình thành từ khẩu hiệu hay những chiến dịch truyền thông ngắn hạn. Tư duy “ăn xổi”, chạy theo hiệu ứng nhất thời có thể tạo ra sự chú ý, nhưng khó bồi đắp niềm tin, sức hấp dẫn và vị thế văn hóa lâu dài.

Hội nhập văn hóa không có nghĩa là tiếp nhận thụ động. Chủ quyền văn hóa số chỉ bền vững khi Việt Nam có năng lực tự sản xuất nội dung, tự kể câu chuyện của mình, có thương hiệu đủ sức cạnh tranh và có công chúng sẵn sàng lựa chọn sản phẩm Việt Nam. Nếu chỉ bảo vệ bản sắc bằng hàng rào hành chính mà không tạo sản phẩm hấp dẫn, bản sắc sẽ khó cạnh tranh; nếu chạy theo thị trường mà đánh mất lịch sử và phẩm giá, thành công nhất thời có thể làm suy yếu nền tảng lâu dài.

Phát triển công nghiệp văn hóa vì thế phải bảo đảm ba yêu cầu: sáng tạo dựa trên bản sắc, thị trường gắn với trách nhiệm, hội nhập đi cùng tự chủ. Chỉ khi biết thích nghi, biết vươn ra và biết biến những biến động của môi trường số thành cơ hội, văn hóa Việt Nam mới có thể đi nhanh, đi vững và đi xa.

Xây dựng nền văn hóa số nhân dân, hiện đại, dân chủ và tiến bộ là quá trình cải biến sâu sắc về tư duy, thể chế, công nghệ và con người. Đây không phải nhiệm vụ riêng của ngành văn hóa, cũng không thể hoàn thành chỉ bằng đầu tư thiết bị hay xây dựng cơ sở dữ liệu. Giá trị cốt lõi nằm ở việc sử dụng công nghệ để phát huy năng lực sáng tạo của Nhân dân, làm sống động bản sắc, bảo vệ phẩm giá con người và nâng cao năng lực tự chủ văn hóa của quốc gia.

Xuyên suốt quá trình này, Nhân dân là chủ thể; hệ sinh thái sáng tạo là phương thức; an ninh, kỷ cương và chủ quyền văn hóa số là điều kiện bảo đảm; sức mạnh mềm và phát triển con người là đích đến.

Đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW vào cuộc sống phải được thể hiện bằng những chuyển biến cụ thể về quyền lợi của người dân, chất lượng sản phẩm văn hóa, chuẩn mực ứng xử trên mạng và vị thế văn hóa Việt Nam; qua đó, nuôi dưỡng các giá trị dân tộc trong đời sống Nhân dân và lan tỏa trên môi trường số.

Trong kỷ nguyên số, văn hóa vẫn phải “soi đường cho quốc dân đi”. Vai trò dẫn dắt ấy cần hiện diện trong từng thiết chế, chính sách, sản phẩm sáng tạo và hành vi ứng xử của mỗi người dân để góp phần xây dựng một xã hội số nhân văn, an toàn, lành mạnh và giàu bản sắc Việt Nam.

[1] Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai Nghị quyết số 79 và 80 của Bộ Chính trị - Đường dẫn: https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-hoi-nghi-toan-quoc-quan-triet-trien-khai-nghi-quyet-so-79-va-80-cua-bo-chinh-tri-102260225105859629.htm

TS. Vũ Văn Tiến, Đại biểu Quốc hội khóa XVI, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin