Từ nền tảng môi trường - chính sách tốt, cần tính đến chọn lọc vốn đầu tư FDI...

(Pháp lý) - Có nhiều ý kiến cho rằng, nếu kiểm soát hiệu quả dịch bệnh covid , thì Việt Nam có thể đón lõng nhiều nhà đầu tư FDI, nhất là từ Nhật Bản. Tuy nhiên với những người quan tâm đặc biệt đến cuộc cải cách về thể chế chính sách kinh tế và hội nhập của Việt Nam thì kiểm soát hiệu quả Covid chỉ là điểm khởi đầu… Doanh nghiệp Nhật Bản nói riêng và các DN FDI khác chọn Việt Nam vì những thế mạnh khởi sinh từ chính sách thông thoáng và quá trình hội nhập nhanh nhạy của Việt Nam.

Tận dụng được nhiều ưu đãi của Luật Đầu tư sửa đổi

Hầu hết các tập đoàn sản xuất lớn của Nhật Bản đã có mặt ở Việt Nam và dòng vốn FDI đang chảy thêm vào lĩnh vực sản xuất chế tạo ở các dự án đầu tư mở rộng. Theo dự tính, năm 2020, vốn đầu tư từ Nhật Bản sẽ được cải thiện, chảy mạnh vào lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, công nghệ số.

Ông Tetsuo Konaka, Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam cho hay: 3 năm trước, Thái Lan là thị trường rất hấp dẫn các nhà đầu tư Nhật Bản và nhiều doanh nghiệp Nhật Bản muốn đến đầu tư tại Thái Lan hơn là đến Việt Nam. Nhưng đến nay, xu hướng này đã thay đổi khi nhiều nhà đầu tư Nhật Bản chuyển hướng đầu tư kinh doanh tại Việt Nam và xu hướng này sẽ tiếp tục trong vài năm tới và không chỉ tập trung vào ngành sản xuất chế tạo, mà cả lĩnh vực dịch vụ.

Với những ngành nghề đầu tư dùng công nghệ như trên, đầu tư ở Việt Nam giai đoạn này, doanh nghiệp Nhật Bản sẽ nhận được những ưu đãi quy định tại Luật Đầu tư sửa đổi. Theo đó về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư, Luật đã sửa đổi, bổ sung các ngành, nghề ưu đãi đầu tư nhằm bảo đảm thu hút đầu tư FDI có chọn lọc, chất lượng theo Nghị quyết số 50 của Bộ Chính trị, đồng thời bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư, các Luật thuế và các Luật liên quan như Bổ sung một số ngành, nghề ưu đãi đầu tư (như hoạt động đổi mới sáng tạo; sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ tham gia chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành); Bổ sung quy định về nguyên tắc, điều kiện áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư để bảo đảm hiệu quả, chất lượng của việc thực hiện chính sách này (như: áp dụng ưu đãi có thời hạn, theo kết quả thực hiện dự án; nhà đầu tư phải bảo đảm đáp ứng điều kiện ưu đãi trong thời gian được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật).

Đặc biệt, Luật Đầu tư (sửa đổi) bổ sung quy định cho phép Thủ tướng Chính phủ áp dụng ưu đãi đặc biệt để tạo cơ chế, chính sách đủ sức hấp dẫn, kịp thời thu hút dòng vốn FDI đang dịch chuyển nhanh chóng trong bối cảnh hiện nay. Cho phép áp dụng ưu đãi tối đa thêm 50% so với mức cao nhất theo quy định của Luật hiện hành.

Ngoài ra, doanh nghiệp FDI đầu tư cũng sẽ được tháo gỡ những rào cản về chính sách, cải cách thủ tục hành chính. Luật Đầu tư (sửa đổi) đã bổ sung những quy định nhằm mở rộng quyền tự chủ của nhà đầu tư. Theo đó, Luật đã bãi bỏ các thủ tục hành chính không cần thiết như: Thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư đối với một số dự án đầu tư của cá nhân, hộ gia đình, bãi bỏ quy định Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư đối với dự án có quy mô vốn từ 5.000 tỷ đồng… Đồng thời, tăng cường phân cấp cho UBND cấp tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư. Bên cạnh đó, Luật cũng cải cách, đơn giản hóa các thủ tục triển khai dự án đầu tư, mở rộng quyền tự chủ của nhà đầu tư trong quá trình thực hiện dự án, như quyền chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng dự án…

Lâu nay, khi đầu tư, nhiều nhà đầu tư Nhật Bản băn khăn về hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về đầu tư. Nhà đầu tư mong muốn các thủ tục đầu tư được thực hiện nhanh chóng, công khai. Luật Đầu tư (sửa đổi) bổ sung các công cụ cần thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư, đồng thời bổ sung các quy định về giám định vốn đầu tư trong trường hợp cần thiết để xác định căn cứ tính thuế, góp phần hạn chế tình trạng chuyển giá, trốn thuế.

Luật Đầu tư (sửa đổi) tạo cơ chế thông thoáng cho việc ưu đãi đầu tư

Chính sách về hội nhập kinh tế quốc tế, mang lại nhiều cơ hội cho doanh nghiệp đầu tư

Theo trang Nikkei Asia Review – một tờ báo uy tín về kinh tế của Nhật: khi bắt đầu có hiệu lực vào đầu tháng 8, EVFTA sẽ đưa Việt Nam trở thành quốc gia Đông Nam Á thứ 2 có Hiệp định thương mại như vậy với Liên minh châu Âu (EU), sau Singapore. Sau khi thỏa thuận này có hiệu lực, 71% hàng hóa xuất khẩu mà Việt Nam sang EU và ngược lại, 65% hàng hóa của EU xuất khẩu sang Việt Nam sẽ được miễn thuế. Các mức thuế còn lại lên tới 99% sẽ được Việt Nam loại bỏ sau 10 năm và EU loại bỏ sau 7 năm.

Việt Nam có dân số lớn thứ ba trong số 10 nước thành viên ASEAN. Năm 2019, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng 3.500 USD. Việt Nam đã được hưởng lợi từ chương trình ưu đãi thuế quan của EU. Không chỉ Việt Nam, EVFTA là tin tốt cho các công ty đa quốc gia bên ngoài EU. Trong số các doanh nghiệp Nhật Bản, các công ty may mặc như Fast Retailing (doanh nghiệp sở hữu chuỗi cửa hàng thời trang Uniqlo và có cơ sở sản xuất tại Việt Nam) và các hãng sản xuất phụ tùng ô tô, máy móc sẽ tìm cách đẩy mạnh xuất khẩu từ Việt Nam sang châu Âu.

Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, kỳ vọng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất trong nước (ảnh minh họa)

Nikkei Asia Review nhận xét: Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) có thể giúp Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư mới cho các doanh nghiệp sản xuất nhất là doanh nghiệp đến từ Nhật Bản.

Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản và Chính phủ Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mong muốn kí kết một Hiệp định về việc tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập.

Mục đích kí kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần nhằm loại bỏ việc đánh thuế trùng bằng cách: Miễn, giảm số thuế phải nộp tại Việt Nam cho các đối tượng cư trú của nước kí kết Hiệp định; Khấu trừ số thuế mà đối tượng cư trú Việt nam đã nộp tại nước kí kết hiệp định vào số thuế phải nộp tại Việt Nam. Ngoài ra, Hiệp định còn tạo khuôn khổ pháp lí cho việc hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cơ quan thuế Việt Nam với cơ quan thuế Nhật Bản trong công tác quản lí thuế quốc tế nhằm ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập và vào tài sản.

Như vậy, Luật Đầu tư (sửa đổi), Hiệp định EVFTA mà Việt Nam đã tham gia; Chính sách hỗ trợ của Chính phủ Nhật Bản; Các hiệp định về thuế đã trở thành “bà đỡ” quan trọng, mở đường, dẫn lối các nhà đầu tư yên tâm đầu tư vào Việt Nam.

Việt Nam nên làm gì để tạo sự khác biệt?

Chuyên gia kinh tế, TS Cấn Văn Lực trong trao đổi với Phóng viên Pháp lý cho rằng, trong cuộc đua thu hút dòng vốn dịch chuyển này, để có thể thành công, rõ ràng là Việt Nam cần tạo ra sự khác biệt. Ông Lực đề xuất các cơ quan có thẩm quyền cần sớm xây dựng và công bố chính sách thu hút dịch chuyển dòng vốn đầu tư; trong đó, cần công bố rõ lĩnh vực ưu tiên và kể cả địa phương ưu tiên (gắn với quy hoạch tổng thể, tránh cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương). Đồng thời, trong bối cảnh hiện nay, cần có biện pháp phù hợp gắn với yêu cầu an ninh, quốc phòng và bất động sản nhà ở, ngăn ngừa hình thức thâu tóm không lành mạnh, đầu tư chui hay núp bóng. Biện pháp này cần gắn chặt với các hoạt động M & A trên thị trường chứng khoán; trong đó, vấn đề quan trọng là tìm lời giải bài toán tối ưu – không thái quá, vẫn thu hút được đầu tư, song vẫn đảm bảo ngăn ngừa được các hành vi không lành mạnh, đòi hỏi năng lực và trách nhiệm của đội ngũ công vụ

Về mặt quản lý, cần đánh giá, rà soát toàn bộ các khu công nghiệp (KCN) để có điều chỉnh linh hoạt về KCN cần ưu tiên mở rộng hoặc xây mới, KCN cần thu hẹp, thu hồi; thiết lập và sẵn sàng công bố danh sách các KCN sẵn sàng về quỹ đất sạch, kết cấu hạ tầng…v.v. Rà soát, cập nhật, điều chỉnh phù hợp phân cấp phê duyệt đầu tư nước ngoài, tinh gọn qui trình, thủ tục gắn với đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính một cách thực chất; công bố quy trình cấp phép một cách công khai, minh bạch; Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế số, mô hình kinh doanh mới gắn với công nghệ số (đây cũng là lĩnh vực mà nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm).

Ngoài ra, cũng cần sớm thiết kế chính sách, gói hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, có kỹ năng quản lý (với nguồn tài trợ theo một tỷ lệ nhất định từ cả Trung Ương và địa phương). Đây cũng là một phần quan trọng của bài toán cần giải quyết nhằm thực hiện thành công Chương trình chuyển đổi số quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 3/6/2020. Cần duy trì ổn định môi trường vĩ mô và luôn đảm bảo tính nhất quán, tính ổn định và tính phù hợp của các cơ chế, chính sách, nhất là các chính sách về đất đai, thuế, lao động, điều hành kinh tế vĩ mô… để các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm, có thể xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn tại Việt Nam. Thúc đẩy phát triển nhanh hơn công nghiệp hỗ trợ, tăng cường năng lực cạnh tranh và sức chống chịu của khối doanh nghiệp trong nước, vừa để tăng khả năng tham gia chuỗi giá trị, vừa để phục vụ, kết nối doanh nghiệp FDI.

Cuối cùng, cần đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng đồng bộ (KCN, điện, nước, hạ tầng giao thông, thông tin, logistics, dịch vụ đi kèm KCN…), tiếp tục coi đây là đột phá chiến lược.

Kiến nghị: Phải chọn lọc nhà đầu tư…

Bên cạnh những chính sách thuận lợi, được kì vọng sẽ thu hút nhiều dự án FDI từ Nhật Bản, thì có một số ý kiến khác lại cho rằng có một số quy định tại Luật Đầu tư đang trói buộc nhà đầu tư, hạn chế quyền tự quyết của địa phương, khi chỉ giao cho địa phương cấp phép dự án FDI quy mô dưới 10.000 tỷ đồng. Các dự án có quy mô đầu tư trên mức này phải được Thủ tướng đồng ý chủ trương đầu tư.

TS Nguyễn Đức Thành – Chuyên gia kinh tế cho rằng: Thực ra việc cấp phép đầu tư FDI vẫn cần tuân thủ quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội quốc gia, cũng như sự điều phối của Trung ương. Nếu giao địa phương được quyền cấp phép dự án FDI trên 10.000 tỷ đồng, dễ dẫn tới cuộc đua cạnh tranh xuống đáy để tiếp nhận dự án. Bỏ quy định này sẽ thông thoáng hơn, địa phương cấp phép dự án dễ dàng hơn, nhưng hiệu quả tổng thể mang lại cho đất nước sẽ giảm. Vì thế, cần có sự kết hợp giữa địa phương với Trung ương.

Trong giai đoạn hiện nay, nên chọn lọc kĩ lĩnh vực thu hút đầu tư FDI

Ts Thành cho rằng cần tính tới bài toán xa hơn, tạo ra môi trường thể chế, luật pháp, văn hóa thân thiện để nhà đầu tư FDI tin tưởng tìm đến Việt Nam. Theo đó, chọn lọc nhà đầu tư cũng là vấn đề được đặt ra ở giai đoạn hiện tại. Tính đến cuối tháng 4-2020, cả nước thu hút được trên 31.800 dự án đầu tư FDI, với tổng vốn đăng ký đầu tư khoảng 373 tỷ USD. Có một thực tế, nhiều doanh nghiệp FDI vào Việt Nam luôn đi theo những hệ sinh thái. Có thể Samsung, LG, Foxconn, Panasonic, Intel… vào Việt Nam với quy mô vốn hàng trăm triệu đến hàng tỷ USD, nhưng đi liền với các tên tuổi này là hàng chục, hàng trăm doanh nghiệp nhỏ đến Việt Nam. Đây là các doanh nghiệp vệ tinh nằm trong chuỗi cung ứng sản xuất của các ông lớn và đều có vốn đầu tư nhỏ. Bối cảnh doanh nghiệp trong nước chưa thể tham gia sâu chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu của các doanh nghiệp FDI, phải chấp nhận điều này

Lúc này nếu quy định quá cứng nhắc về số lượng, quy mô vốn đầu tư với các dự án FDI cấp phép, chẳng khác “lấy đá ghè chân mình”. Vì thế cần xây dựng chiến lược FDI có tầm nhìn dài hạn, với những lĩnh vực ưu tiên chiến lược, không thể nói nhà đầu tư FDI vốn nhỏ là kém quan trọng.

Đã đến lúc cần thiết kế lại “cuộc chơi” để đất nước thu được nhiều lợi ích nhất trong thu hút đầu tư FDI. Cần tránh cuộc đua xuống đáy, trao cho nhà đầu tư FDI nhiều cơ hội để mặc cả. Nhà đầu tư FDI bỏ tiền đầu tư vào Việt Nam họ có quyền mặc cả những ưu đãi phù hợp, chính đáng. Nhưng các bộ ngành, địa phương cũng có quyền kiểm soát “cuộc chơi” để mang lại lợi ích tối đa cho đất nước.

Điều này là hoàn toàn phù hợp khi ta đã ký kết các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (IPA), hay Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Ta ưu tiên thu hút các ngành có công nghệ tiên tiến, ít thâm dụng lao động, có tính lan tỏa, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tham gia các chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu, để đưa ra các lĩnh vực khuyến khích nhà đầu tư FDI. Đồng thời, đưa ra các các ngành, lĩnh vực Việt Nam hạn chế đầu tư và không thu hút dự án đầu tư FDI vào các khu vực ảnh hưởng tới an ninh quốc phòng…

Phan Phan

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin