

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Khắc Định điều hành phiên thảo luận tại Hội trường
Làm rõ nguyên tắc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, nhất là đối với sản phẩm có sự tham gia của AI
Phát biểu tại hội trường, đại biểu Nguyễn Lân Hiếu, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đề nghị giữ nguyên tắc AI không phải là tác giả; đối với kết quả chẩn đoán có sự hỗ trợ của AI, quyền tác giả phải thuộc về bác sĩ, nhóm nghiên cứu chịu trách nhiệm lâm sàng. Đồng thời, cần quy định rõ sản phẩm do AI tạo ra không được bảo hộ nếu không có sự can thiệp sáng tạo của con người.

Đại biểu Nguyễn Lân Hiếu, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội phát biểu
Đề cập đến vấn đề tài sản trí tuệ trong bệnh viện, đại biểu cho rằng, bác sĩ có quyền sở hữu đối với những sáng kiến cải tiến dụng cụ, giáo trình hoặc phương pháp điều trị mới do mình nghiên cứu, phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định quyền sở hữu giữa bác sĩ và bệnh viện hiện còn chưa được phân định rõ ràng.
“Tôi đề nghị nên có một quy định rõ ràng để khi có bằng sáng chế thì bệnh viện là chủ sở hữu, dùng ngân sách nhà nước để hỗ trợ, quy định rõ quyền lợi sau đó với tác giả. Cần luật hóa và cho phép bệnh viện dùng bằng sáng chế đó làm tài sản của bệnh viện, cơ sở y tế”, đại biểu nêu rõ.
Cùng quan tâm đến quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm có sử dụng AI, đại biểu Nguyễn Trung Kiên, Đoàn ĐBQH thành phố Đồng Nai khẳng định, nếu không bảo vệ được quyền sở hữu trí tuệ thì chắc chắn không thể thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đại biểu Nguyễn Trung Kiên, Đoàn ĐBQH thành phố Đồng Nai phát biểu
Bày tỏ thống nhất với ý kiến của đại biểu Nguyễn Lân Hiếu, đại biểu Nguyễn Trung Kiên cho rằng, trước sự phát triển nhanh chóng của AI và trong tương lai là siêu trí tuệ, cần làm rõ hơn các nguyên tắc cơ bản ngay trong Luật, qua đó bảo đảm tính minh bạch, thống nhất và ổn định của hệ thống pháp luật.
Từ thực tế này, đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung, hoàn thiện khoản 5 Điều 6 dự thảo Luật theo hướng xác định rõ nguyên tắc nền tảng: AI không phải là chủ thể của quyền sở hữu trí tuệ.
“Sản phẩm do người sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo ra được bảo hộ theo phạm vi, mức độ đóng góp sáng tạo của cá nhân đó. Đồng thời yêu cầu chủ thể nền tảng trí tuệ nhân tạo có trách nhiệm tuân thủ pháp luật sở hữu trí tuệ. Đối với các tác phẩm, nội dung mà AI sử dụng dữ liệu nguồn từ tài liệu đã thu thập thì phải dẫn nguồn”, đại biểu nhấn mạnh.
Cũng đóng góp ý kiến về vấn đề này, đại biểu Vũ Minh Đạo, Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu cho rằng, cần xác định lộ trình hoàn thiện pháp luật phục vụ phát triển công nghiệp văn hóa và chuyển đổi số.

Đại biểu Vũ Minh Đạo, Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu phát biểu
Theo đại biểu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có ý nghĩa trực tiếp đối với thu nhập của người sáng tạo cũng như khả năng phát triển các sản phẩm văn hóa. Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ xác định lộ trình cụ thể, đồng bộ với việc nghiên cứu xây dựng Luật Bản quyền tác giả, nhằm xử lý các vấn đề liên quan đến sử dụng tác phẩm trong phát triển AI, trách nhiệm của các nền tảng số, bảo vệ tri thức truyền thống và biểu đạt văn hóa của cộng đồng.
“Quá trình đó cần hài hòa quyền của người sáng tạo với quyền tiếp cận, thụ hưởng văn hóa của Nhân dân”, đại biểu nêu rõ.
Hoàn thiện quy định về bảo hộ giống cây trồng, bảo đảm tương thích với Công ước UPOV
Đối với các quy định về đình chỉ và phục hồi hiệu lực bằng bảo hộ giống cây trồng tại khoản 8 Điều 1 sửa đổi khoản 3, khoản 5 Điều 170, đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú, Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An bày tỏ đồng tình với mục tiêu giảm thủ tục hành chính. Tuy nhiên, theo đại biểu, quy định này tác động trực tiếp đến quyền đối với giống cây trồng, vốn có thể là kết quả của nhiều năm nghiên cứu và đầu tư. Vì vậy, cần làm rõ hậu quả pháp lý của việc đình chỉ tự động và phục hồi hiệu lực bằng bảo hộ.

Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú, Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An phát biểu
Đại biểu cho biết, Báo cáo giải trình nêu rõ nghĩa vụ nộp lệ phí đã được pháp luật quy định; công báo và hệ thống trực tuyến giúp chủ bằng tiếp cận thông tin, đồng thời quy định thời hạn khắc phục là 6 tháng. Ghi nhận nội dung giải trình này, đại biểu cho rằng cần thể hiện rõ hơn cơ chế bảo đảm cơ hội khắc phục cho chủ bằng cũng như tình trạng pháp lý của quyền trong thời gian bị đình chỉ.
“Nếu bằng bị đình chỉ rồi được phục hồi, quyền có được duy trì liên tục không? Trong thời gian đình chỉ, người thứ ba thực hiện hành vi thuộc phạm vi quyền của chủ bằng thì xử lý như thế nào? Nếu chủ bằng đã nộp lệ phí đúng hạn nhưng hệ thống cập nhật chậm, quyền của họ được bảo vệ ra sao? Đây là hệ quả đối với quyền tài sản cần được xác định về nguyên tắc ngay trong Luật”, đại biểu lưu ý.
Cùng cho ý kiến về quy định đình chỉ hiệu lực bằng bảo hộ khi chưa nộp lệ phí, đại biểu Nguyễn Văn Ngọc, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng bày tỏ thống nhất với những ý kiến của đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú.

Đại biểu Nguyễn Văn Ngọc, Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng phát biểu
Theo đại biểu, dự thảo Luật cho phép bằng bảo hộ tự động bị đình chỉ nhưng đồng thời bỏ quy định thông báo cho chủ bằng và thời hạn khắc phục đang được quy định trong luật hiện hành. Cách tiếp cận này chưa bảo đảm điều kiện chủ bằng đã được yêu cầu nộp phí theo Công ước UPOV.
“Chủ bằng bảo hộ giống ở nước ta có cả những người nông dân. Một nông dân ở tỉnh Thái Bình cũ có 14 giống lúa được bảo hộ; có cả viện nghiên cứu, trường đại học nắm giống tạo ra từ ngân sách. Một giống mất nhiều năm chọn tạo không nên mất quyền chỉ vì một lần nộp chậm mà người chủ không hề hay biết”, đại biểu nhấn mạnh.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận
Từ đó, đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 170 quy định theo hướng: Cơ quan quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng gửi thông báo cho chủ bằng bảo hộ qua phương thức điện tử; chủ bằng bảo hộ có quyền yêu cầu phục hồi hiệu lực trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày bằng bảo hộ bị đình chỉ; việc phục hồi không ảnh hưởng đến quyền của người đã khai thác giống một cách ngay tình trong thời gian bằng bị đình chỉ.
Tiếp tục phân tích các quy định nhằm bảo đảm sự tương thích với Công ước UPOV, đại biểu Hoàng Văn Nghĩa, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi đề nghị xem xét bãi bỏ quy định bằng bảo hộ tự động bị đình chỉ hiệu lực tại khoản 3 Điều 170 để bảo đảm tính tương thích với Điều 22.1 của Công ước. Đồng thời, cần bổ sung quy định về việc cơ quan quản lý tăng cường quản trị số theo thời gian thực, gửi thông báo yêu cầu và gia hạn một thời hạn nhất định trước khi quyết định đình chỉ, qua đó bảo vệ quyền lợi của chủ bằng.

Đại biểu Hoàng Văn Nghĩa, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ngãi phát biểu
Đề cập đến tính dự liệu pháp lý tại Điều 19.b của Công ước UPOV và nguy cơ ảnh hưởng đến các nhà chọn tạo giống Việt Nam, đại biểu cho biết, dự thảo sửa đổi tại Điều 187 theo hướng mở rộng phạm vi quyền của chủ bằng bảo hộ đối với giống cây trồng có nguồn gốc chủ yếu. Tuy nhiên, tại khoản 5 Điều 3 lại áp dụng hồi truy quy định này đối với tất cả các bằng bảo hộ đã được cấp trước đó.
“Báo cáo thẩm tra tại mục 6.5 đã chỉ ra, quy định này sẽ biến các giống lúa, giống cây ăn quả mà các viện nghiên cứu, doanh nghiệp và nông dân Việt Nam đang chọn tạo, khai thác hợp pháp trở thành đối tượng vi phạm. Và điều này vừa chưa đúng với tinh thần của Điều 19.4 của Công ước UPOV, nhưng đồng thời vừa hạn chế quyền tiếp cận khoa học công nghệ theo Điều 15 của Công ước Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa mà Việt Nam là thành viên, cũng như là các quyền của Hiến pháp”, đại biểu nêu rõ.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận
Nhằm nâng cao sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam và thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét chỉnh lý hai nội dung:
- Thứ nhất, bổ sung quy định minh bạch về miễn trừ vì mục đích nghiên cứu và chọn tạo giống vào Điều 187, bảo đảm các nhà khoa học, viện nghiên cứu Việt Nam có quyền tự do sử dụng các giống đã bảo hộ làm nguồn vật liệu khởi đầu để chọn tạo những giống mới có đặc tính thương mại vượt trội như vỏ dày, chịu vận chuyển xa, rải vụ... mà không bị coi là vi phạm bản quyền.
- Thứ hai, sửa đổi khoản chuyển tiếp tại khoản 5 Điều 3, loại bỏ tính hồi truy đối với phạm vi quyền tại Điều 187. Theo đó, cần quy định rõ các tổ chức, cá nhân đã đầu tư, khai thác hợp pháp giống cây trồng trước ngày Luật có hiệu lực thì phải tiếp tục được quyền khai thác mà không bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Các đại biểu tham dự phiên thảo luận
Thay mặt cơ quan chủ trì soạn thảo, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân trân trọng cảm ơn các đại biểu Quốc hội đã đóng góp nhiều ý kiến tâm huyết, trách nhiệm và sâu sắc đối với dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân tiếp thu, giải trình ý kiến của các đại biểu Quốc hội
Tiếp thu, giải trình ý kiến của các đại biểu về phạm vi sửa đổi của Luật, Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho biết, Luật Sở hữu trí tuệ mới được thông qua vào tháng 10 năm 2025 và hiện đang trong giai đoạn triển khai rất mạnh mẽ. Được cấp có thẩm quyền cho phép, dự án Luật lần này chỉ tập trung vào hai phạm vi sửa đổi.
Cụ thể, phạm vi thứ nhất là cắt giảm các điều kiện kinh doanh, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho việc đăng ký và xác lập quyền sở hữu trí tuệ.
Phạm vi thứ hai là chuyển chức năng quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường sang Bộ Khoa học và Công nghệ, nhằm bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong quản lý nhà nước.

Quang cảnh phiên thảo luận tại Hội trường
Đối với những ý kiến của đại biểu về việc mở rộng phạm vi sửa đổi, liên quan đến các vấn đề như AI, quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục nghiên cứu, rà soát, đánh giá và tổng kết tác động trước khi trình Chính phủ xem xét sửa đổi, bổ sung trong các lần tiếp theo.
Về các ý kiến liên quan đến yêu cầu đồng bộ pháp luật và bảo đảm tương thích với Công ước UPOV, Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho biết, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ nghiên cứu, tiếp thu các ý kiến xác đáng của đại biểu Quốc hội.