Tóm tắt: Phương pháp phân tích quy phạm và đối chiếu pháp luật được sử dụng trên cơ sở văn bản và tài liệu công khai đến ngày 30/6/2026. Kết quả cho thấy việc đánh giá cần bắt đầu từ phạm vi gói thầu thuộc cam kết, sau đó xác định nghĩa vụ theo từng thời kỳ chuyển tiếp. Những vấn đề cần hoàn thiện tập trung ở khả năng tiếp cận của nhà thầu, kiểm soát điều kiện hạn chế cạnh tranh, giá trị chứng cứ của dữ liệu và hiệu quả giải quyết kiến nghị. Bài viết đề xuất kết nối yêu cầu pháp lý với chức năng của Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia, đồng thời phân định trách nhiệm giữa cơ quan mua sắm, đơn vị vận hành và chủ thể rà soát. Cách tiếp cận này nhằm nâng cao khả năng kiểm chứng việc tuân thủ, bảo vệ cơ hội tham dự thầu và tránh mở rộng nghĩa vụ EVFTA sang mọi hoạt động mua sắm công.
Từ khóa: Đấu thầu qua mạng; mua sắm công; EVFTA; cạnh tranh; chứng cứ điện tử; giải quyết kiến nghị.
Improving Vietnam’s Legal Framework for Electronic Public Procurement under the EVFTA
Abstract: Electronic procurement supports transparency and procedural standardisation in public purchasing, but digitalisation alone does not establish compliance with international commitments. This article examines Vietnam’s electronic procurement framework against Chapter 9 of the EU–Vietnam Free Trade Agreement (EVFTA), using doctrinal analysis and legal comparison based on legislation and public materials available by 30 June 2026. It finds that assessment must first identify covered procurement and then determine the obligations applicable under each transitional arrangement. The main issues concern suppliers’ access, restrictive tender conditions, the evidential value of electronic records and effective domestic review. The article proposes connecting legal requirements with the functions of the national electronic procurement system and allocating responsibilities among procuring entities, system operators and review bodies. It also distinguishes obligations under the Agreement from broader reforms intended to improve procurement governance. The proposed approach supports verifiable compliance and meaningful opportunities to participate, while avoiding the indiscriminate extension of EVFTA obligations to all public purchasing. Further evaluation of operational outcomes requires procurement-level data and information on EU suppliers’ participation.
Keywords: Electronic procurement; public procurement; EVFTA; competition; electronic evidence; domestic review.

Đấu thầu qua mạng mở ra hàng ngàn cơ hội mua sắm công cho doanh nghiệp trên khắp cả nước (ảnh minh hoạ)
1. Đặt vấn đề
Đấu thầu qua mạng đã được luật hóa và mở rộng tại Việt Nam nhằm tập trung thông tin, giảm chi phí giao dịch và tăng khả năng kiểm tra quá trình lựa chọn nhà thầu. Điều 50 Luật Đấu thầu năm 2023 quy định lộ trình thực hiện đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế và chào hàng cạnh tranh trong nước trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. Từ ngày 01/01/2025, các gói thầu thuộc nhóm này thực hiện qua mạng, trừ trường hợp pháp luật quy định không đấu thầu trên Hệ thống. Quy định đó cần được đọc theo đúng phạm vi, thay vì hiểu rằng mọi hình thức mua sắm hoặc mọi gói thầu quốc tế đều bắt buộc thực hiện trực tuyến.[1]
Trong quan hệ với EVFTA, câu hỏi đặt ra không chỉ là đã có nền tảng điện tử hay chưa, mà còn là nền tảng đó có bảo đảm cơ hội tiếp cận, tính toàn vẹn của hồ sơ và khả năng bảo vệ quyền lợi nhà thầu đối với gói thầu thuộc cam kết hay không. Điều 9.4 phân biệt nghĩa vụ nỗ lực sử dụng phương tiện điện tử với các yêu cầu phải tuân thủ khi phương tiện này được sử dụng. Vì vậy, mức độ điện tử hóa và mức độ thực hiện cam kết có liên quan nhưng không đồng nhất. Một quy trình trực tuyến vẫn cần được kiểm tra về nội dung điều kiện dự thầu, cách xử lý hồ sơ và căn cứ quyết định.[2]
Các nghiên cứu và tài liệu chính sách đã tiếp cận vấn đề từ những hướng khác nhau. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới về thực hiện EVFTA năm 2020 đặt việc mở cửa mua sắm công trong tiến trình cải cách thể chế. Báo cáo thực hành tốt của OECD năm 2025 chú trọng kết nối toàn bộ chu trình mua sắm, sử dụng dữ liệu và thiết kế dịch vụ theo nhu cầu người dùng. Hai hướng tiếp cận này cung cấp cơ sở để xem xét đồng thời nghĩa vụ pháp lý và điều kiện vận hành, nhưng chưa thay thế việc đối chiếu từng nghĩa vụ EVFTA với quy định và quy trình áp dụng tại Việt Nam.[3]
Bài viết giải quyết hai câu hỏi: tiêu chí nào cần được sử dụng để đánh giá đấu thầu qua mạng theo EVFTA; và pháp luật, cơ chế thực hiện cần được hoàn thiện ra sao. Luận điểm chính là kết nối nghĩa vụ với yêu cầu có thể kiểm tra tại từng bước, phân biệt chuẩn mực chung với nghĩa vụ riêng và thiếu hụt quy định với hạn chế thực thi.
2. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích quy phạm và đối chiếu pháp luật. Chương 9 và Phụ lục 9-B EVFTA được đối chiếu với Luật Đấu thầu năm 2023 đã được sửa đổi, bổ sung, Nghị định số 214/2025/NĐ-CP, Thông tư số 79/2025/TT-BTC và pháp luật về giao dịch điện tử. Đối với việc thực hiện cam kết mua sắm theo hiệp định, Nghị định số 95/2020/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Nghị định số 09/2022/NĐ-CP, được xem xét như nhóm quy định chuyên biệt. Phạm vi mở cửa thị trường được xác định theo điều ước, không chỉ theo quy trình trong nước.[4]
Mốc khảo cứu là ngày 30/6/2026. Văn bản hợp nhất phục vụ tra cứu, không đặt ra quy phạm mới. Hồ sơ dự thảo chỉ được dùng để nhận diện vấn đề, không được coi là pháp luật có hiệu lực. Chỉ tiêu chung về tỷ lệ áp dụng, tiết kiệm hoặc số nhà thầu chưa tách gói thầu thuộc cam kết nên không đủ để kết luận việc thực hiện EVFTA.
Khung phân tích bắt đầu từ phạm vi cam kết, sau đó xem xét tiếp cận, điều kiện lựa chọn, độ tin cậy dữ liệu và rà soát quyết định. Mỗi nội dung được đánh giá về quy định và điều kiện thực hiện. Đánh giá kết quả vận hành cần dữ liệu gói thầu, đặc biệt về nhà thầu EU, hồ sơ bị từ chối và kiến nghị đã giải quyết.
3. Phạm vi cam kết và yêu cầu pháp lý đối với đấu thầu qua mạng
3.1. Nhận diện gói thầu thuộc phạm vi EVFTA
Phạm vi mua sắm công trong pháp luật Việt Nam không đồng nhất với mua sắm thuộc Chương 9 EVFTA. Theo Điều 9.2, việc mua sắm thuộc cam kết phải đáp ứng điều kiện về mục đích, đối tượng, cơ quan mua sắm, giá trị và các ghi chú tương ứng. Phụ lục 9-B liệt kê cơ quan cấp trung ương tại Mục A, cơ quan cấp địa phương tại Mục B và cơ quan khác tại Mục C; hàng hóa, dịch vụ và dịch vụ xây dựng được xác định tại các Mục D, E và F. Các loại trừ, phương tiện đăng tải và biện pháp chuyển tiếp còn phải được đối chiếu theo các Mục G, H và I.[5]
Trình tự nhận diện hợp lý là xác định cơ quan thực hiện mua sắm; phân loại hàng hóa hoặc dịch vụ; tính giá trị theo phương pháp của Hiệp định; kiểm tra ngưỡng tương ứng và thời kỳ áp dụng; cuối cùng xem xét ghi chú, loại trừ và ngoại lệ liên quan. Vượt ngưỡng giá trị chưa đủ xác lập phạm vi cam kết nếu cơ quan hoặc đối tượng mua sắm nằm ngoài danh mục. Ngược lại, việc thay đổi đơn vị đứng ra tổ chức lựa chọn không tự làm mất nghĩa vụ khi đơn vị đó thực hiện mua sắm thay cho cơ quan thuộc phạm vi điều chỉnh.[6]
Giá trị gói thầu cần được xác định trên tổng giá trị ước tính tối đa trong toàn bộ thời gian thực hiện, tính đến các khoản thù lao và giá trị tùy chọn mua thêm theo Hiệp định. Cơ quan mua sắm không được chia gói thầu hoặc chọn phương pháp định giá nhằm đưa hoạt động mua sắm ra khỏi phạm vi cam kết. Quy định này cho thấy việc nhận diện không thể chỉ dựa vào một con số đã nhập trên Hệ thống. Cần lưu căn cứ xác định giá trị, phạm vi công việc và quan hệ giữa các hợp đồng để có thể kiểm tra khi phát sinh kiến nghị.[7]
Sự thay đổi tên gọi, sáp nhập hoặc chia tách cơ quan mua sắm cũng phải được xử lý trên cơ sở phạm vi cam kết. Điều 9.20 quy định thủ tục sửa đổi, điều chỉnh bản chào, trong đó phân biệt thay đổi hình thức không làm thay đổi phạm vi với thay đổi có ảnh hưởng đến quyền tiếp cận đã cam kết. Vì vậy, việc cập nhật danh mục trong nước cần có căn cứ về chủ thể kế thừa và thủ tục điều ước tương ứng. Không thể mặc nhiên mở rộng cam kết cho toàn bộ đơn vị của cơ quan mới, cũng không thể coi thay đổi tổ chức là căn cứ loại trừ toàn bộ hoạt động trước đây thuộc cam kết.[8]
3.2. Phân biệt nghĩa vụ chung và biện pháp chuyển tiếp
Đối với gói thầu đã được xác định thuộc cam kết, các nghĩa vụ tiếp tục phải được đối chiếu theo đúng thời kỳ. Mục I Phụ lục 9-B dành thời gian chuyển tiếp khác nhau cho từng nội dung, thay vì một thời hạn chung cho toàn bộ Chương 9. Chẳng hạn, nghĩa vụ đăng tải thông báo tóm tắt bằng tiếng Anh có thời gian trì hoãn năm năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; một số yêu cầu về đầu mối điện tử, nội dung thông báo và thời gian chuẩn bị hồ sơ có thời kỳ chuyển tiếp tối đa mười năm. Tại mốc khảo cứu, hai nhóm nghĩa vụ này ở trạng thái pháp lý khác nhau.[9]
EVFTA có hiệu lực ngày 01/8/2020, nên thời gian trì hoãn năm năm đối với thông báo tóm tắt bằng tiếng Anh đã kết thúc trước ngày 30/6/2026. Khoản 3 Điều 9.6 yêu cầu thông báo được tiếp cận miễn phí bằng phương tiện điện tử cùng thời điểm đăng tải thông báo mời thầu, tối thiểu gồm thời điểm đóng thầu hoặc thời hạn tham gia tương ứng và địa chỉ cung cấp tài liệu. Đây là yêu cầu về thông báo tóm tắt, không phải nghĩa vụ dịch toàn bộ hồ sơ mời thầu sang tiếng Anh. Việc đối chiếu cần xác định đúng nội dung bắt buộc, còn mở rộng dịch thuật là lựa chọn cải thiện khả năng tiếp cận.[10]
3.3. Từ công khai thông tin đến bảo vệ cơ hội tham dự
EVFTA kết hợp đối xử quốc gia, không phân biệt đối xử với những yêu cầu cụ thể về điều kiện dự thầu và tiêu chuẩn kỹ thuật. Điều 9.7 yêu cầu đánh giá năng lực tài chính, thương mại và kỹ thuật trên cơ sở hoạt động của nhà thầu trong và ngoài lãnh thổ; không được đặt điều kiện nhà thầu đã được cơ quan mua sắm trao hợp đồng hoặc có kinh nghiệm trên lãnh thổ của Bên đó. Tuy nhiên, kinh nghiệm liên quan vẫn có thể được yêu cầu khi cần thiết. Ranh giới nằm ở quan hệ giữa yêu cầu và nhu cầu thực hiện gói thầu, không phải việc loại bỏ mọi tiêu chí kinh nghiệm.[11]
Điều 9.9 định hướng xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật theo công năng, yêu cầu chức năng và tiêu chuẩn phù hợp. Viện dẫn nhãn hiệu, nguồn gốc hoặc nhà sản xuất cụ thể chịu những điều kiện của Hiệp định, trong đó có yêu cầu cho phép tương đương khi cách mô tả khác không khả thi. Đối với hồ sơ điện tử, việc dùng đúng biểu mẫu hoặc thêm cụm từ “hoặc tương đương” chưa bảo đảm tính trung lập nếu không xác định căn cứ đánh giá tương đương. Nội dung yêu cầu và phương pháp đánh giá phải cho phép nhà thầu biết cần chứng minh điều gì trước khi chuẩn bị hồ sơ.[12]
Khi tổ chức lựa chọn bằng phương tiện điện tử, khoản 7 Điều 9.4 yêu cầu hệ thống, phần mềm xác thực và mã hóa phải thông dụng, tương thích với các hệ thống thông dụng khác; đồng thời phải duy trì tính toàn vẹn, ghi nhận thời gian nhận hồ sơ và ngăn tiếp cận không hợp lệ. Nghĩa vụ này không đòi hỏi chấp nhận mọi phương tiện xác thực không kiểm tra, nhưng yêu cầu điều kiện kỹ thuật được thiết kế và giải thích theo mục tiêu hợp pháp. Nhà thầu cần có cách đáp ứng rõ ràng, có thể thực hiện được, thay vì chỉ được thông báo quyền tham gia ở cấp nguyên tắc.[13]

4. Những vấn đề cần hoàn thiện trong pháp luật và tổ chức thực hiện
4.1. Kết nối phạm vi cam kết với quy trình trên Hệ thống
Pháp luật Việt Nam đã có nhóm quy định thực hiện mua sắm theo các hiệp định, nhưng quan hệ với khung đấu thầu sửa đổi cần được rà soát. Báo cáo tổng kết do Bộ Tài chính công bố trong hồ sơ lấy ý kiến năm 2026 ghi nhận sự thiếu đồng bộ giữa Nghị định số 95/2020/NĐ-CP và pháp luật đấu thầu mới về quy trình, thẩm quyền và kỹ thuật áp dụng; đồng thời nêu khó khăn khi danh mục cơ quan mua sắm không còn hoàn toàn tương ứng với tổ chức bộ máy. Tài liệu này là căn cứ nhận diện nhu cầu hoàn thiện, chưa phải bằng chứng rằng mọi gói thầu đều áp dụng sai hoặc có một tỷ lệ vi phạm xác định.[14]
Vấn đề cần giải quyết là khả năng liên kết kết quả nhận diện với các nghĩa vụ trong quy trình. Nếu thông tin về cơ quan mua sắm, đối tượng, ngưỡng và thời kỳ chỉ nằm trong tài liệu riêng, chủ thể đăng tải phải tự xác định lại ở nhiều bước. Điều đó có thể dẫn đến bỏ sót thông báo tóm tắt, áp dụng không đúng thời hạn hoặc khó truy xuất căn cứ về ưu đãi. Bổ sung trường dữ liệu nhận diện là một giải pháp quản trị, nhưng chức năng này phải đi cùng trách nhiệm kiểm tra và lưu hồ sơ pháp lý. Việc đánh dấu tự động không thể thay thế quyết định về phạm vi điều ước.
4.2. Kiểm soát nội dung hồ sơ và khả năng tiếp cận của nhà thầu
Pháp luật đấu thầu trong nước đã cấm điều kiện hạn chế sự tham gia hoặc tạo lợi thế gây cạnh tranh không bình đẳng. Khoản 3 Điều 44 Luật Đấu thầu quy định yêu cầu đối với hồ sơ mời thầu; việc kiểm soát vì thế phải đi vào nội dung năng lực, kinh nghiệm và kỹ thuật, thay vì chỉ kiểm tra cấu trúc biểu mẫu. Một yêu cầu về nhân sự, thiết bị hoặc hợp đồng tương tự có thể hợp lý đối với gói thầu này nhưng quá mức đối với gói thầu khác. Thẩm định cần có giải trình về sự cần thiết và tương xứng với quy mô, tính chất công việc.[15]
Cần tránh kết luận rằng pháp luật bỏ ngỏ toàn bộ quan hệ giữa biểu mẫu điện tử và tệp đính kèm. Thông tư số 79/2025/TT-BTC đã quy định một số nội dung của hồ sơ mời thầu phải được số hóa thành biểu mẫu trực tuyến; những yêu cầu thuộc nhóm này nhưng không được số hóa theo quy định không được coi là một phần hồ sơ mà nhà thầu phải đáp ứng. Do đó, vấn đề đặt ra là áp dụng đúng quy tắc đã có và kiểm tra các yêu cầu còn nằm trong tài liệu kỹ thuật, không phải xây dựng một nguyên tắc ưu tiên dữ liệu chung cho mọi loại thông tin.[16]
Khả năng tiếp cận của nhà thầu EU cần được đánh giá riêng theo các bước tra cứu, đăng ký, xác thực, nộp và theo dõi hồ sơ. Pháp luật về giao dịch điện tử đã có cơ chế công nhận và chấp nhận chữ ký điện tử nước ngoài, nên không thể mặc nhiên kết luận mọi chữ ký nước ngoài bị pháp luật loại trừ. Cần phân biệt điều kiện pháp lý của chữ ký với khả năng tích hợp và hỗ trợ trên nền tảng đấu thầu. Nếu một phương tiện đáp ứng điều kiện pháp luật nhưng chưa được quy trình kỹ thuật tiếp nhận, vấn đề chủ yếu nằm ở tổ chức thực hiện và cần được xác minh bằng dữ liệu hỗ trợ người dùng.[17]
Đánh giá cạnh tranh còn đòi hỏi sự thận trọng đối với chỉ tiêu đầu ra. Gói thầu có một nhà thầu tham dự là dấu hiệu cần xem xét, nhưng có thể liên quan đến quy mô, tính chuyên biệt hoặc điều kiện thị trường. Tỷ lệ tiết kiệm phụ thuộc vào cách xác định giá gói thầu, nhóm hàng hóa và hình thức lựa chọn; số kiến nghị thấp cũng chưa chứng minh hồ sơ mời thầu trung lập. Khi thiếu dữ liệu đồng nhất ở cấp gói thầu, không thể quy biến động của những chỉ tiêu này thành tác động nhân quả của số hóa hoặc bằng chứng vi phạm EVFTA. Chỉ tiêu nên được dùng để chọn trường hợp kiểm tra, sau đó đối chiếu hồ sơ và căn cứ pháp lý.
4.3. Giá trị chứng cứ của dữ liệu và trách nhiệm khi xảy ra sự cố
Luật Đấu thầu đã quy định yêu cầu về nguồn thời gian chuẩn, bảo mật, toàn vẹn, ghi nhận và truy xuất lịch sử giao dịch; đồng thời giao trách nhiệm tương ứng cho tổ chức vận hành Hệ thống. Luật Giao dịch điện tử phân biệt giá trị pháp lý, giá trị như văn bản, giá trị như bản gốc và giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu. Những quy định này tạo nền tảng để sử dụng nhật ký giao dịch trong xác định thời điểm nhận hồ sơ, danh tính người thực hiện và trạng thái xử lý. Tuy nhiên, dữ liệu ghi nhận trên Hệ thống cần được đánh giá về độ tin cậy khi chính hoạt động của Hệ thống là đối tượng tranh chấp.[18]
Thông tư số 79/2025/TT-BTC đã có quy định xử lý trường hợp Hệ thống gặp sự cố không thể vận hành, trong đó xác lập cơ chế tự động gia hạn các mốc thời gian liên quan. Vì vậy, không nên mô tả khung pháp luật như hoàn toàn chưa có cơ chế xử lý sự cố. Yêu cầu hoàn thiện nằm ở khả năng cung cấp chứng cứ để xác định trường hợp có thuộc cơ chế đó hay không, đặc biệt khi lỗi chỉ ảnh hưởng đến một nghiệp vụ hoặc một nhóm người dùng. Cần xem xét đồng thời dữ liệu máy chủ, trạng thái chức năng và chứng cứ từ phía nhà thầu, thay vì suy đoán nguyên nhân chỉ từ việc nộp hồ sơ không thành công.[19]
Quyền tiếp cận dữ liệu liên quan cũng cần được tổ chức theo mức độ cần thiết. Nhà thầu không phải được truy cập toàn bộ nhật ký kỹ thuật hoặc dữ liệu của đối thủ, nhưng cần có thông tin đủ để biết hồ sơ bị từ chối vì lý do gì và kiểm tra căn cứ đó. Bản trích xuất nên ghi rõ nguồn, thời điểm tạo, phạm vi và cách bảo đảm tính toàn vẹn. Chủ thể giải quyết kiến nghị cần có quyền yêu cầu dữ liệu đầy đủ hơn để đối chiếu. Cơ chế này giúp cân bằng khả năng bảo vệ quyền với nghĩa vụ bảo mật và an toàn của Hệ thống.
Trách nhiệm bồi thường cần được xác định theo điều kiện pháp luật, không tự phát sinh từ sự cố. Gia hạn cũng chưa giải quyết mọi hậu quả nếu hồ sơ đã bị loại hoặc việc lựa chọn đã tiếp tục. Quy trình cần bảo toàn chứng cứ và dự liệu biện pháp theo từng giai đoạn, tránh cho phép sửa hồ sơ sau đóng thầu dưới danh nghĩa khắc phục kỹ thuật.
4.4. Khả năng rà soát quyết định và giải trình sau lựa chọn
Cơ chế kiến nghị phải được đối chiếu theo pháp luật đã sửa đổi. Điều 89 Luật Đấu thầu quy định quyền kiến nghị và giao Chính phủ hướng dẫn điều kiện, quy trình, thành phần và hoạt động của Hội đồng giải quyết kiến nghị. Các Điều 90–93 đã bị bãi bỏ theo Luật số 90/2025/QH15; quyền khởi kiện và yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tiếp tục được ghi nhận tại Điều 94. Do đó, việc đánh giá không thể dựa vào các thời hạn hoặc mô hình Hội đồng tư vấn trong phiên bản luật trước sửa đổi để mô tả cơ chế tại mốc khảo cứu.[20]
Điều 9.19 EVFTA yêu cầu cơ quan rà soát hành chính hoặc tư pháp khách quan, độc lập với cơ quan mua sắm; cho phép cơ quan mua sắm xử lý ban đầu nhưng phải có khả năng yêu cầu cấp độc lập xem xét lại. Hiệp định còn quy định thời gian chuẩn bị kiến nghị không dưới mười ngày kể từ khi nhà thầu biết hoặc đáng lẽ biết căn cứ, cùng yêu cầu về biện pháp tạm thời và khắc phục. Những nội dung này cần được đánh giá theo chức năng và quyền hạn thực tế của cơ quan rà soát. Tên gọi của một Hội đồng hoặc sự tồn tại của quyền khởi kiện chưa đủ để kết luận cơ chế đáp ứng đầy đủ cam kết.[21]
Thông tin sau lựa chọn có vai trò trực tiếp đối với quyền kiến nghị. Điều 9.17 yêu cầu thông báo quyết định, cung cấp lý do không được lựa chọn khi có yêu cầu, công bố thông tin trao hợp đồng và lưu trữ tài liệu, dữ liệu liên quan. Khi đối chiếu thời hạn công khai, phải phân biệt ngày phê duyệt kết quả theo thủ tục trong nước với mốc trao hợp đồng của Hiệp định. Việc công khai tên nhà thầu và giá chưa thay thế giải thích tiêu chí đã áp dụng, nội dung hồ sơ không đáp ứng hoặc ưu thế tương đối của hồ sơ được chọn theo phạm vi yêu cầu.[22]
Minh bạch cần được thực hiện cùng nghĩa vụ bảo mật tại Điều 9.18. Cần phân biệt thông tin công khai, thông tin cung cấp cho nhà thầu liên quan và thông tin cung cấp cho cơ quan rà soát. Việc từ chối phải xác định căn cứ và phạm vi, tránh sử dụng bảo mật như lý do chung để không giải thích quyết định.[23]
5. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và tổ chức thực hiện
5.1. Chuẩn hóa căn cứ áp dụng và công khai thông tin
Cơ quan quản lý cần hướng dẫn nhận diện gói thầu theo trình tự thống nhất, kết nối danh mục cơ quan, đối tượng và ngưỡng với hồ sơ kế hoạch lựa chọn. Hệ thống nên có trường dữ liệu thể hiện phạm vi hiệp định, căn cứ xác định, phiên bản danh mục và người xác nhận. Trường hợp có tranh luận về phân loại cần được chuyển cấp chuyên môn trước khi phát hành hồ sơ. Công cụ hỗ trợ có thể đưa ra cảnh báo, nhưng chủ đầu tư vẫn phải chịu trách nhiệm về kết luận pháp lý. Việc công khai phạm vi cam kết giúp nhà thầu biết chế độ áp dụng và xác định căn cứ kiến nghị tương ứng.
Thông báo tóm tắt bằng tiếng Anh đối với gói thầu EVFTA cần được tổ chức thực hiện theo nghĩa vụ đã hết thời gian trì hoãn. Có thể tạo thông báo từ dữ liệu cốt lõi và bổ sung bước xác nhận chất lượng, bảo đảm thống nhất thời hạn, địa chỉ cung cấp tài liệu và liên kết với thông báo gốc. Không cần mặc nhiên dịch toàn bộ hồ sơ nếu pháp luật không yêu cầu, nhưng cơ quan mua sắm nên xác định rõ ngôn ngữ của từng tài liệu và cách yêu cầu làm rõ. Giải pháp này tập trung nguồn lực vào thông tin cần thiết để nhà thầu nhận diện cơ hội và quyết định tham gia.
Việc rà soát các quy định mua sắm theo hiệp định nên tập trung vào nội dung đặc thù, đồng thời dẫn chiếu rõ những phần áp dụng thủ tục chung. Cần lập danh mục đối chiếu về phạm vi, thời hạn, ưu đãi, thông báo và rà soát để tránh sao chép quy định trong nước nhưng bỏ sót nghĩa vụ riêng. Các thay đổi về bộ máy phải được cập nhật có căn cứ và theo thủ tục điều ước phù hợp. Tài liệu hướng dẫn nên phân biệt nghĩa vụ hiện hành, biện pháp chuyển tiếp và khuyến nghị thực hành tốt, giúp người áp dụng biết nội dung nào có thể lựa chọn và nội dung nào phải tuân thủ.
5.2. Tăng khả năng kiểm tra hồ sơ và dữ liệu
Đối với hồ sơ mời thầu, cần ưu tiên hướng dẫn mô tả yêu cầu theo công năng và tiêu chí tương đương có thể kiểm chứng. Những điều kiện về hợp đồng tương tự, nhân sự hoặc thiết bị nên đi cùng căn cứ xác định mức yêu cầu. Công cụ phân tích văn bản có thể phát hiện nhãn hiệu, yêu cầu kinh nghiệm tại địa bàn hoặc tổ hợp thông số cần rà soát. Cảnh báo chỉ hỗ trợ chọn nội dung kiểm tra, không tự xác lập vi phạm. Tổ chuyên gia và chủ đầu tư phải xem xét tính cần thiết, phạm vi pháp luật và phản hồi trước khi quyết định giữ, sửa hoặc loại bỏ yêu cầu.
Quản trị dữ liệu nên tiếp tục chuẩn hóa những thông tin có thể so sánh giữa các gói thầu, duy trì mã liên kết từ kế hoạch đến kết quả và hợp đồng. Việc kết nối giai đoạn thực hiện hợp đồng, nghiệm thu và thanh toán hỗ trợ đánh giá hiệu quả sử dụng ngân sách, nhưng cần được xác định là định hướng cải cách quản trị rộng hơn, không mặc nhiên coi toàn bộ là nghĩa vụ điện tử hóa bắt buộc của Chương 9. Cách tiếp cận toàn chu trình được OECD khuyến nghị có thể tham khảo để tổ chức dữ liệu, trong khi phạm vi nghĩa vụ điều ước vẫn phải đối chiếu theo từng điều khoản.[24]
Đối với chứng cứ kỹ thuật, cần quy định quy trình yêu cầu, bảo toàn và trích xuất dữ liệu khi tranh chấp. Quy trình phải xác định ai có quyền yêu cầu, cơ quan nào cung cấp, thời hạn phản hồi và nội dung tối thiểu của bản trích xuất. Khi dấu hiệu liên quan đến tính toàn vẹn hoặc sự cố chưa rõ nguyên nhân, có thể sử dụng đánh giá chuyên môn độc lập theo cơ chế pháp luật cho phép. Hướng dẫn cần tách lỗi thao tác, lỗi kết nối của người dùng và sự cố chức năng chung dựa trên chứng cứ, đồng thời duy trì quyền trình bày của các bên trước quyết định có ảnh hưởng đến cơ hội dự thầu.
5.3. Bảo đảm rà soát có hiệu quả và phân định trách nhiệm
Việc hoàn thiện Hội đồng giải quyết kiến nghị cần được đánh giá theo tiêu chí độc lập với cơ quan mua sắm, năng lực tiếp cận hồ sơ và khả năng đưa ra quyết định có lý do. Cần kiểm soát xung đột lợi ích của thành viên, xác định quyền cung cấp và phản hồi chứng cứ, cùng cơ chế bảo mật. Khi một cấp xử lý ban đầu thuộc chủ thể mua sắm, nhà thầu phải có con đường yêu cầu xem xét lại đáp ứng Điều 9.19. Lựa chọn kiện toàn cơ quan hiện có hay thiết lập mô hình khác phải dựa trên đánh giá thẩm quyền và hiệu quả, tránh coi thành lập thiết chế mới là giải pháp bắt buộc duy nhất.[25]
Biện pháp tạm thời cần có cơ chế tiếp nhận và xem xét kịp thời, bởi tiếp tục trao hoặc thực hiện hợp đồng có thể làm giảm ý nghĩa của kết quả rà soát sau đó. Việc tạm dừng không nên tự động phát sinh từ mọi kiến nghị; cần đánh giá nguy cơ ảnh hưởng đến cơ hội tham dự, hậu quả đối với các bên và lợi ích công. Quyết định không áp dụng phải được giải thích theo căn cứ phù hợp. Biện pháp khắc phục cần gắn với loại vi phạm và giai đoạn xử lý; yêu cầu đền bù phải được xem xét trong phạm vi pháp luật và cam kết, không suy ra quyền hưởng lợi nhuận kỳ vọng từ mọi sai sót thủ tục.[26]
Phân công thực hiện cần gắn trách nhiệm pháp lý với khả năng kiểm soát công việc. Cơ quan quản lý phụ trách hướng dẫn, danh mục và chuẩn dữ liệu; chủ đầu tư xác nhận phạm vi cam kết, nội dung hồ sơ và căn cứ lựa chọn; đơn vị vận hành bảo đảm chức năng, lưu vết và cung cấp chứng cứ kỹ thuật; cơ quan rà soát đánh giá khách quan khi có kiến nghị. Đào tạo cần kết hợp nghiệp vụ đấu thầu, cam kết quốc tế và chứng cứ điện tử. Các nghĩa vụ đã đến hạn phải được thực hiện ngay trong phạm vi pháp luật; việc nâng cấp dữ liệu hoặc hạ tầng có thể phân kỳ theo nguồn lực, nhưng không dùng lộ trình quản trị để trì hoãn nghĩa vụ điều ước đã áp dụng.
6. Kết luận
Đánh giá đấu thầu qua mạng theo EVFTA cần xác định phạm vi cam kết và nghĩa vụ tại từng thời kỳ. Điện tử hóa hỗ trợ công khai, lưu vết và kiểm tra, nhưng chưa tự bảo đảm điều kiện dự thầu trung lập hoặc rà soát hiệu quả. Pháp luật Việt Nam đã có quy định về hồ sơ điện tử, sự cố và kiến nghị; yêu cầu hoàn thiện nằm ở tính thống nhất, tiếp cận chứng cứ và thực thi. Kết luận về tuân thủ phải dựa trên dữ liệu phù hợp.
Các kiến nghị tập trung vào nhận diện phạm vi, thông báo, kiểm soát hồ sơ, chứng cứ và rà soát. Tích hợp yêu cầu vào Hệ thống phải duy trì trách nhiệm của chủ thể có thẩm quyền và quyền giải trình của nhà thầu. Liên thông dữ liệu toàn chu trình là định hướng quản trị; nghĩa vụ EVFTA vẫn được thực hiện theo đúng phạm vi, thời hạn và căn cứ pháp lý.
----------------------------
Tài liệu tham khảo
1. Bộ Tài chính. Thông tư số 79/2025/TT-BTC ngày 4 tháng 8 năm 2025 hướng dẫn việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và mẫu hồ sơ đấu thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=214844&pageid=27160.
2. Bộ Tài chính. “Báo cáo tổng kết việc thi hành Nghị định số 95/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 09/2022/NĐ-CP).” Tài liệu trong hồ sơ lấy ý kiến dự thảo nghị định năm 2026; bản công khai chưa điền số và ngày ký. Truy cập ngày 11/10/2026. https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/duthaovbpl/2026/Thang6/6.-bao-cao-tong-ket-viec-thi-hanh.pdf.
3. Chính phủ. Nghị định số 09/2022/NĐ-CP ngày 12 tháng 1 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2020/NĐ-CP để hướng dẫn thực hiện về đấu thầu mua sắm theo CPTPP, EVFTA và UKVFTA. https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/nghi-dinh-so-09-2022-nd-cp-36627/39512.htm.
4. Liên minh châu Âu và Việt Nam. EVFTA. Phụ lục 9-B về phạm vi điều chỉnh của Chương Mua sắm của Chính phủ đối với Việt Nam. 2019. https://trungtamwto.vn/download/19709/phu-luc-9b.pdf.
5. Liên minh châu Âu và Việt Nam. Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu. Ký ngày 30 tháng 6 năm 2019, có hiệu lực ngày 1 tháng 8 năm 2020. Chương 9. https://trungtamwto.vn/download/19730/chuong-9-evfta.pdf.
6. OECD. “Digital Transformation of Public Procurement: Good Practice Report.” OECD Public Governance Policy Papers, số 77. OECD Publishing, 2025. https://doi.org/10.1787/79651651-en.
7. World Bank. Vietnam: Deepening International Integration and Implementing the EVFTA. World Bank, 2020. https://documents1.worldbank.org/curated/en/866871589557725251/pdf/Vietnam-Deepening-International-Integration-and-Implementing-the-EVFTA.pdf.
[1] Luật Đấu thầu số 22/2023/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 57/2024/QH15 và Luật số 90/2025/QH15; nội dung tra cứu tại Văn bản hợp nhất số 126/VBHN-VPQH ngày 27/8/2025, Điều 50, khoản 1 và khoản 5.
[2] Hiệp định Thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), ký ngày 30/6/2019, có hiệu lực ngày 01/8/2020, Chương 9, Điều 9.4, khoản 6–7.
[3] World Bank, Vietnam: Deepening International Integration and Implementing the EVFTA (World Bank, 2020), 40–46, https://documents1.worldbank.org/curated/en/866871589557725251/pdf/Vietnam-Deepening-International-Integration-and-Implementing-the-EVFTA.pdf; OECD, “Digital Transformation of Public Procurement: Good Practice Report,” OECD Public Governance Policy Papers, số 77 (OECD Publishing, 2025), https://doi.org/10.1787/79651651-en.
[4] Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu, Chương VII; Thông tư số 79/2025/TT-BTC ngày 04/8/2025 hướng dẫn việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và mẫu hồ sơ đấu thầu trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; Nghị định số 95/2020/NĐ-CP ngày 24/8/2020 hướng dẫn thực hiện về đấu thầu mua sắm theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương; Nghị định số 09/2022/NĐ-CP ngày 12/01/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2020/NĐ-CP để hướng dẫn thực hiện về đấu thầu mua sắm theo CPTPP, EVFTA và UKVFTA.
[5] EVFTA, Điều 9.2; EVFTA, Phụ lục 9-B về phạm vi điều chỉnh của Chương Mua sắm của Chính phủ đối với Việt Nam, Mục A–I.
[6] EVFTA, Điều 9.2, khoản 2, khoản 4–6.
[7] EVFTA, Điều 9.2, khoản 7–8.
[8] EVFTA, Điều 9.20; EVFTA, Phụ lục 9-B, Mục G, khoản 2, điểm b.
[9] EVFTA, Phụ lục 9-B, Mục I, khoản 1–3.
[10] EVFTA, Điều 9.6, khoản 3; EVFTA, Phụ lục 9-B, Mục I, khoản 1, điểm c.
[11] EVFTA, Điều 9.4, khoản 1–2 và Điều 9.7, khoản 1–3.
[12] EVFTA, Điều 9.9, khoản 1–4.
[13] EVFTA, Điều 9.4, khoản 7.
[14] Bộ Tài chính, “Báo cáo tổng kết việc thi hành Nghị định số 95/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 09/2022/NĐ-CP),” tài liệu trong hồ sơ lấy ý kiến dự thảo nghị định năm 2026, truy cập ngày 11/10/2026, https://datafiles.chinhphu.vn/cpp/files/duthaovbpl/2026/Thang6/6.-bao-cao-tong-ket-viec-thi-hanh.pdf, 3–5.
[15] Luật Đấu thầu 2023, được sửa đổi, bổ sung, Điều 16 và Điều 44, khoản 3.
[16] Thông tư số 79/2025/TT-BTC, Điều 26, khoản 3–5.
[17] Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15, được sửa đổi, bổ sung; nội dung tra cứu tại Văn bản hợp nhất số 36/VBHN-VPQH ngày 13/3/2026, Điều 26–27.
[18] Luật Đấu thầu 2023, được sửa đổi, bổ sung, Điều 50, khoản 3 và Điều 51–52; Luật Giao dịch điện tử 2023, được sửa đổi, bổ sung, Điều 8–11.
[19] Thông tư số 79/2025/TT-BTC, Điều 6.
[20] Luật Đấu thầu 2023, được sửa đổi, bổ sung, Điều 89–94; Nghị định số 214/2025/NĐ-CP, Chương XII.
[21] EVFTA, Điều 9.19, khoản 1–6.
[22] EVFTA, Điều 9.17, khoản 1–4.
[23] EVFTA, Điều 9.18, khoản 2–3.
[24] OECD, “Digital Transformation of Public Procurement”; EVFTA, Điều 9.4, khoản 6 và Điều 9.17.
[25] EVFTA, Điều 9.19, khoản 1, khoản 4–5.
[26] EVFTA, Điều 9.19, khoản 6.