Những điểm nghẽn pháp lý và thực thi trong chuyển đổi số quốc gia ở Việt Nam

(Pháp lý). Bài viết đánh giá các điểm nghẽn pháp lý và thực thi của chuyển đổi số quốc gia ở Việt Nam trong giai đoạn 2020–tháng 9/2026.

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích Chương trình Chuyển đổi số quốc gia, Đề án 06, các chương trình hành động liên quan, Luật Dữ liệu 2024, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025, Luật Chuyển đổi số 2025 và các văn bản hướng dẫn, nghiên cứu đối chiếu khung pháp lý với báo cáo thực hiện chính thức. Kết quả cho thấy vấn đề hiện nay không còn chủ yếu là thiếu định hướng hay thiếu luật khung. Từ ngày 1/7/2026, Luật Chuyển đổi số và Nghị định 224/2026/NĐ-CP đã bổ sung nguyên tắc khai báo một lần, yêu cầu về dịch vụ công trực tuyến, cơ chế tài chính, đầu tư, mua sắm và thử nghiệm. Tuy nhiên, dữ liệu vẫn chưa đồng đều về chất lượng và khả năng liên thông; tái cấu trúc thủ tục dựa trên dữ liệu còn chưa đồng bộ; năng lực thực thi giữa các cơ quan còn khác biệt; cơ chế mới về đầu tư, mua sắm cần thời gian kiểm chứng; và yêu cầu an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu phải được tích hợp nhất quán trong toàn bộ vòng đời hệ thống. Bài viết đề xuất chuyển trọng tâm hoàn thiện pháp luật từ bổ sung quy định chung sang nâng cao tính thực thi, đo lường kết quả và trách nhiệm giải trình trong quản trị dữ liệu, dịch vụ công, đầu tư số và an toàn hệ thống.

Từ khóa: chuyển đổi số; thực thi pháp luật; dữ liệu; dịch vụ công trực tuyến; quản trị số; Việt Nam.

LEGAL AND IMPLEMENTATION BOTTLENECKS IN VIETNAM’S NATIONAL DIGITAL TRANSFORMATION

Abstract: This article assesses legal and implementation bottlenecks in Vietnam’s national digital transformation from 2020 to September 2026. It examines the National Digital Transformation Programme, Project 06, related implementation programmes, the 2024 Data Law, the 2025 Personal Data Protection Law, the 2025 Digital Transformation Law and implementing instruments, and compares their regulatory design with official implementation reports. The analysis finds that the central problem is no longer the absence of strategic direction or a general statutory framework. Since 1 July 2026, the Digital Transformation Law and Decree No. 224/2026/ND-CP have introduced the once-only principle, requirements for online public services, and new rules on financing, investment, procurement and experimentation. Remaining bottlenecks concern uneven data quality and interoperability, incomplete process re-engineering, differences in implementation capacity across public bodies, the still-untested effectiveness of newly introduced investment and procurement mechanisms, and inconsistent integration of cybersecurity and personal-data protection across system lifecycles. The article argues that legal reform should now focus on enforceability, measurable outcomes and accountability in data governance, digital public services, digital investment and system security.

Keywords: digital transformation; legal implementation; data; online public services; digital governance; Vietnam.

1-1789463785.png

Ảnh minh hoạ

 

        1. Đặt vấn đề

Chuyển đổi số ở Việt Nam giai đoạn 2020–2026 được triển khai trên nền một hệ thống văn bản ngày càng mở rộng. Quyết định số 749/QĐ-TTg năm 2020 xác lập Chương trình Chuyển đổi số quốc gia; Quyết định số 06/QĐ-TTg năm 2022 thúc đẩy khai thác dữ liệu dân cư và định danh điện tử; Nghị quyết số 57-NQ/TW cuối năm 2024 và các chương trình hành động của Chính phủ tiếp tục bổ sung mục tiêu và nhiệm vụ thực hiện. Đến năm 2026, Nghị quyết số 11/NQ-CP đã tiếp tục cập nhật chương trình hành động trước đó của Chính phủ.[1]

Khung pháp luật chuyên ngành cũng thay đổi nhanh. Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/7/2025; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026; Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 và Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 cùng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Nghị định số 224/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định chi tiết các nội dung về dịch vụ công trực tuyến, kiến trúc hệ thống số, tài chính, đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ và thử nghiệm trong chuyển đổi số.[2]

Sự phát triển nhanh của khuôn khổ pháp lý làm thay đổi cách đặt vấn đề. Nếu ở giai đoạn đầu có thể tập trung vào khoảng trống pháp luật, thì đến tháng 9/2026 câu hỏi phù hợp hơn là các quy định mới đã xử lý được những điểm nghẽn nào, điểm nghẽn nào chuyển thành vấn đề thực thi, và những yêu cầu nào cần tiếp tục được cụ thể hóa bằng cơ chế đo lường và trách nhiệm giải trình.

Dữ liệu thực hiện cho thấy khoảng cách giữa mục tiêu và kết quả vẫn tồn tại. Tại hội nghị sơ kết tháng 12/2025, giá trị tăng thêm của kinh tế số được báo cáo ở mức gần 14% GDP so với mục tiêu 20%; mức cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính mới đạt khoảng 18%; tiến độ số hóa và tái cấu trúc quy trình còn chậm.[3] Tháng 3/2026, báo cáo về Đề án 06 cho biết trong 105 cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, 49 cơ sở dữ liệu đã hoàn thiện và đồng bộ về Trung tâm dữ liệu quốc gia, trong khi 46 cơ sở dữ liệu của 12 bộ, ngành đã quá hạn.[4] Những con số này cần được hiểu như mốc trung gian, không phải trạng thái hiện tại cuối cùng.

Từ tháng 7/2026, một kế hoạch 100 ngày xử lý các điểm nghẽn chuyển đổi số được triển khai đến hết ngày 30/11/2026. Đến ngày 4/9/2026, nguồn thông tin chính thức cho biết nhiều nhiệm vụ đã chuyển từ rà soát và chuẩn bị sang hình thành sản phẩm, kết nối hệ thống và tổ chức thực hiện; tuy nhiên chiến dịch vẫn đang tiếp diễn nên chưa có cơ sở để đánh giá kết quả cuối cùng.[5] Do đó, bài viết sử dụng các số liệu trước tháng 9/2026 để nhận diện cơ chế của điểm nghẽn, đồng thời tránh coi các số liệu trung gian là kết quả cuối kỳ.

Bài viết trả lời ba câu hỏi: (i) điểm nghẽn nào hiện còn có ý nghĩa sau khi Luật Chuyển đổi số và Nghị định 224/2026/NĐ-CP đã có hiệu lực; (ii) điểm nghẽn nào chủ yếu nằm ở chất lượng và năng lực thực thi thay vì thiếu quy định; và (iii) pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng nào để chuyển từ quản lý đầu vào sang đánh giá kết quả chuyển đổi số. Phương pháp nghiên cứu gồm phân tích pháp lý các văn bản hiện hành và rà soát có cấu trúc các báo cáo chính thức đến ngày 12/9/2026. Các số liệu được dùng để kiểm chứng khoảng cách thực thi, không nhằm xây dựng ước lượng định lượng về toàn bộ nền kinh tế số.

       2. Thực trang khung pháp lý

Khung điều chỉnh hiện nay có thể phân thành bốn lớp. Lớp thứ nhất gồm các chương trình và văn bản định hướng như Quyết định 749/QĐ-TTg, Đề án 06 và các chương trình hành động liên quan đến Nghị quyết 57-NQ/TW. Vai trò của nhóm văn bản này là xác định mục tiêu, nhiệm vụ và cơ chế điều phối; chúng không thay thế các quy phạm trực tiếp điều chỉnh dữ liệu, dịch vụ công hay đầu tư công nghệ.

Lớp thứ hai là pháp luật về dữ liệu và giao dịch số. Luật Dữ liệu tạo khung chung cho quản trị và khai thác dữ liệu; Nghị định 194/2025/NĐ-CP quy định về cơ sở dữ liệu quốc gia, kết nối, chia sẻ và dữ liệu mở trong giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân xác lập quyền, nghĩa vụ và giới hạn trong xử lý dữ liệu cá nhân.[6] Các quy định này làm giảm đáng kể khoảng trống trước đây về địa vị pháp lý của dữ liệu, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào tiêu chuẩn dữ liệu, chất lượng cập nhật và khả năng kết nối thực tế.

Lớp thứ ba là Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Luật xác định chuyển đổi số là quá trình thay đổi phương thức hoạt động, quản trị và cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ, dữ liệu, hệ thống, nền tảng và quy trình số. Đáng chú ý, Điều 6 ghi nhận kết nối, chia sẻ và sử dụng lại dữ liệu, cùng nguyên tắc “khai báo một lần là mặc định”; luật cũng yêu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ, bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư.[7] Vì vậy, kiến nghị “luật hóa nguyên tắc khai báo một lần” trong các nghiên cứu trước đây không còn phù hợp sau ngày 1/7/2026; vấn đề hiện nay là cơ chế thực thi nguyên tắc này.

Lớp thứ tư là các quy định thi hành. Nghị định 224/2026/NĐ-CP yêu cầu bộ, cơ quan ngang bộ và ủy ban nhân dân cấp tỉnh triển khai thủ tục hành chính dưới hình thức dịch vụ công trực tuyến toàn trình; trường hợp chỉ cung cấp một phần phải công khai lý do. Nghị định đồng thời điều chỉnh quản lý đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ và thử nghiệm sử dụng ngân sách nhà nước.[8] Nghị quyết 66.7/2025/NQ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đến hết ngày 28/2/2027, quy định việc thay thế nhiều thành phần hồ sơ bằng dữ liệu và không yêu cầu xuất trình giấy tờ khi thông tin đã có đầy đủ trong các cơ sở dữ liệu theo quy định.[9]

Sự thay đổi này dẫn đến một kết luận quan trọng: nhiều giải pháp từng được đề xuất ở dạng “cần có quy định” đã được pháp luật ghi nhận trong năm 2025–2026. Vì vậy, nghiên cứu đến tháng 9/2026 cần tránh lặp lại kiến nghị cũ. Trọng tâm phải chuyển sang độ rõ của nghĩa vụ, tính tương thích giữa các hệ thống, năng lực hấp thụ quy định mới, cơ chế đo lường kết quả và trách nhiệm khi mục tiêu pháp lý không được thực hiện.

        3. Thực tiễn thực hiện

Kết quả thực hiện cho thấy chuyển đổi số không diễn ra đồng đều giữa các cấu phần. Cơ sở dữ liệu dân cư, định danh điện tử và VNeID đã tạo ra nền tảng dùng chung cho nhiều dịch vụ. Báo cáo cuối năm 2025 ghi nhận hơn 4.000 dịch vụ công trực tuyến khai thác dữ liệu dân cư, trong đó hơn 2.000 dịch vụ công toàn trình.[10] Khảo sát Chính phủ điện tử của Liên hợp quốc năm 2024 — phiên bản gần nhất được sử dụng trong các nguồn rà soát cho bài viết — xếp Việt Nam thứ 71/193 với chỉ số EGDI 0,7709.[11]

Tuy nhiên, các khó khăn tập trung ở những khâu đòi hỏi phối hợp liên cơ quan: chất lượng và liên thông dữ liệu; tái cấu trúc quy trình; phân bổ nguồn lực; năng lực nhân sự; và an toàn hệ thống. Tháng 3/2026, cơ quan điều phối Đề án 06 tiếp tục nhận diện các vấn đề về tiến độ nhiệm vụ, tích hợp dịch vụ công, kinh phí, an ninh mạng và khả năng làm chủ công nghệ.[12]

Từ tháng 7/2026, bối cảnh pháp lý thay đổi nhanh. Luật Chuyển đổi số và Nghị định 224/2026/NĐ-CP có hiệu lực, trong khi kế hoạch 100 ngày tập trung xử lý các nhiệm vụ chậm tiến độ và điểm nghẽn vận hành. Điều này có nghĩa các số liệu tháng 3 hoặc tháng 5/2026 không thể được dùng để khẳng định rằng các điểm nghẽn đó vẫn giữ nguyên vào tháng 9. Chúng chỉ có giá trị như đường cơ sở để đánh giá tác động của các quy định mới.

Các nguồn tháng 8–9/2026 cho thấy một số tiến triển cụ thể. Đến ngày 20/8/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành kết nối 7/7 cơ sở dữ liệu thuộc phạm vi quản lý với Trung tâm dữ liệu quốc gia; 6 cơ sở dữ liệu đã làm sạch và đồng bộ dữ liệu lịch sử đạt mức tối thiểu 80%.[13] Ở cấp toàn hệ thống, nguồn ngày 4/9/2026 mới cho biết nhiều nhiệm vụ đã chuyển sang giai đoạn triển khai thực tế, nhưng chưa công bố một bộ số liệu tổng hợp mới thay thế hoàn toàn mốc tháng 3/2026.[14] Vì vậy, đánh giá thận trọng nhất là tiến độ đang cải thiện nhưng mức độ hoàn thành toàn quốc chưa thể kết luận từ các nguồn công khai được rà soát.

Bức tranh này cho phép nhận diện sáu nhóm điểm nghẽn còn có ý nghĩa nghiên cứu: (i) phối hợp và cụ thể hóa quy tắc vận hành; (ii) chất lượng và khả năng liên thông dữ liệu; (iii) tái cấu trúc thủ tục dựa trên dữ liệu; (iv) năng lực hấp thụ các cơ chế mới về đầu tư và mua sắm; (v) năng lực nhân sự và quản trị thực thi; và (vi) an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và khả năng tiếp cận an toàn.

          4. Sáu điểm nghẽn pháp lý và thực thi còn lại

         4.1. Khoảng cách giữa luật khung và quy tắc vận hành

Sự ra đời của Luật Chuyển đổi số làm giảm khoảng trống pháp lý ở cấp luật, nhưng không loại bỏ nhu cầu cụ thể hóa trong từng lĩnh vực. Chuyển đổi số cắt ngang nhiều chế độ pháp lý về dữ liệu, thủ tục hành chính, đấu thầu, ngân sách, lưu trữ, an ninh mạng và trách nhiệm chuyên ngành. Điểm nghẽn hiện nay vì vậy không nên mô tả đơn giản là “thiếu thể chế”, mà chính xác hơn là rủi ro thiếu đồng bộ và thiếu quy tắc vận hành đủ chi tiết giữa các lĩnh vực.

Luật Chuyển đổi số đã quy định kiến trúc, tiêu chuẩn, đo lường và trách nhiệm quản lý nhà nước; Nghị định 224/2026/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa nhiều nội dung. Tuy nhiên, do mới có hiệu lực từ tháng 7/2026, mức độ tương thích với quy trình chuyên ngành vẫn cần được kiểm chứng qua thực tiễn. Các ngoại lệ đối với dịch vụ công trực tuyến toàn trình, tiêu chuẩn kết nối, xử lý lỗi dữ liệu hoặc trách nhiệm khi nhiều cơ quan cùng tham gia một dịch vụ vẫn có thể tạo ra khác biệt trong áp dụng.

Hướng hoàn thiện phù hợp không nhất thiết là ban hành thêm văn bản ở mọi lĩnh vực, mà là rà soát xung đột, quy định đầu mối chịu trách nhiệm về dịch vụ đầu-cuối, và sử dụng tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc hướng dẫn nghiệp vụ có khả năng cập nhật nhanh hơn chu kỳ sửa luật. Đối với công nghệ mới, cơ chế thử nghiệm phải đi kèm tiêu chí tham gia, giới hạn rủi ro, nghĩa vụ dữ liệu, cơ chế giám sát và phương án chấm dứt thử nghiệm.

2-1789463788.png

         4.2. Chất lượng dữ liệu và khả năng liên thông

Dữ liệu vẫn là điểm nghẽn nền tảng. Việc một cơ sở dữ liệu đã được “xây dựng” không đồng nghĩa dữ liệu đủ sạch, cập nhật, có mã định danh thống nhất và có thể tái sử dụng. Mốc tháng 3/2026 về 49/105 cơ sở dữ liệu hoàn thiện và đồng bộ cho thấy quy mô công việc còn lớn tại thời điểm đó; tiến triển ở một số bộ vào tháng 8/2026 cho thấy khả năng cải thiện nhanh khi có yêu cầu và thời hạn rõ ràng.[15]

Luật Dữ liệu, Luật Chuyển đổi số và Nghị định 194/2025/NĐ-CP đã xác lập cơ sở pháp lý cho kết nối và chia sẻ. Do đó, vấn đề hiện không phải là có cho phép chia sẻ dữ liệu hay không, mà là xác định nguồn dữ liệu chuẩn, tiêu chuẩn chất lượng, chu kỳ cập nhật, quyền truy cập, nhật ký khai thác và quy trình sửa sai. Nếu không có các yếu tố này, nguyên tắc “khai báo một lần” có thể tồn tại trên văn bản nhưng cơ quan xử lý thủ tục vẫn phải yêu cầu người dùng xác nhận hoặc nộp bổ sung.

Cần thiết lập trách nhiệm theo vòng đời dữ liệu: cơ quan nguồn chịu trách nhiệm về chất lượng và cập nhật; cơ quan kết nối chịu trách nhiệm về khả dụng của giao diện và thời gian phản hồi; cơ quan sử dụng chịu trách nhiệm về mục đích sử dụng, tính cần thiết, bảo mật và xử lý sai lệch. Trách nhiệm này nên được đo lường bằng chỉ số vận hành thay vì chỉ bằng số lượng cơ sở dữ liệu đã kết nối.

        4.3. Tái cấu trúc thủ tục dựa trên dữ liệu

Một thay đổi đáng kể của năm 2026 là nguyên tắc khai báo một lần và thay thế giấy tờ bằng dữ liệu đã có cơ sở pháp lý trực tiếp. Vì vậy, điểm nghẽn không còn nằm ở việc thiếu nguyên tắc pháp luật. Nghị quyết 66.7/2025/NQ-CP và Luật Chuyển đổi số đã chuyển trọng tâm sang nghĩa vụ sử dụng dữ liệu sẵn có.[16]

Thực thi nguyên tắc này vẫn phụ thuộc vào ba điều kiện: dữ liệu phải có chất lượng; cơ quan giải quyết phải có quyền và khả năng truy cập; quy trình nghiệp vụ phải được thiết kế lại. Nếu chỉ thay tờ khai giấy bằng biểu mẫu điện tử nhưng vẫn giữ nguyên số bước nội bộ, vẫn yêu cầu đính kèm bản chụp hoặc vẫn bắt người dùng xuất trình lại thông tin đã có, hiệu quả giảm chi phí tuân thủ sẽ hạn chế.

Nghị định 224/2026/NĐ-CP yêu cầu cung cấp thủ tục theo hình thức toàn trình và công khai lý do nếu chỉ cung cấp một phần.[17] Đây là cơ chế quan trọng để tạo trách nhiệm giải trình. Bước tiếp theo là công bố các chỉ số về tỷ lệ hồ sơ thực sự hoàn thành không cần hiện diện, số thành phần hồ sơ được thay thế bằng dữ liệu, thời gian xử lý thực tế và tỷ lệ yêu cầu bổ sung hồ sơ. Những chỉ số này phản ánh chất lượng chuyển đổi rõ hơn số lượng dịch vụ được đưa lên trực tuyến.

        4.4. Đầu tư, mua sắm và tài chính: từ khoảng trống pháp lý sang năng lực hấp thụ cơ chế mới

Bản chất của điểm nghẽn đầu tư đã thay đổi sau tháng 7/2026. Trước đó, các báo cáo tháng 3–5/2026 phản ánh khó khăn về kế hoạch vốn, lập dự toán, định mức, mua sắm và thuê dịch vụ.[18] Tuy nhiên, Luật Chuyển đổi số hiện quy định tối thiểu 1% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho chuyển đổi số; Nghị định 224/2026/NĐ-CP đồng thời bổ sung cơ chế về đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ và phát triển thử nghiệm.[19] Vì vậy, không còn phù hợp nếu tiếp tục kết luận rằng pháp luật chưa có cơ chế tài chính hoặc mua sắm cho chuyển đổi số.

Vấn đề nghiên cứu hiện nay là năng lực hấp thụ các cơ chế mới. Các cơ quan cần chuyển từ tư duy mua sắm một sản phẩm cố định sang quản lý vòng đời hệ thống, trong đó bao gồm vận hành, bảo trì, an toàn, nâng cấp, di chuyển dữ liệu và khả năng chấm dứt hoặc thay đổi nhà cung cấp. Nghị định mới chỉ có hiệu lực hơn hai tháng tại thời điểm bài viết, nên chưa đủ dữ liệu để kết luận liệu các cơ chế mới đã giải quyết triệt để thời gian chuẩn bị dự án và giải ngân hay chưa.

Vì vậy, tiêu chí đánh giá nên tập trung vào thời gian từ phê duyệt nhu cầu đến ký hợp đồng, tỷ lệ ngân sách được giải ngân theo kế hoạch, mức độ dùng chung nền tảng, chi phí vòng đời và khả năng chuyển đổi nhà cung cấp. Đây là giai đoạn cần đánh giá thực chứng, không phải tiếp tục khẳng định khoảng trống pháp luật dựa trên số liệu trước ngày 1/7/2026.

        4.5. Năng lực nhân sự và quản trị thực thi

Chuyển đổi số đòi hỏi năng lực liên ngành chứ không chỉ kỹ năng công nghệ thông tin. Cán bộ nghiệp vụ phải hiểu dữ liệu và quy trình; bộ phận pháp lý phải có khả năng đánh giá thiết kế số; cán bộ tài chính và đấu thầu phải hiểu mô hình thuê dịch vụ, nền tảng và chi phí vòng đời. Khi các chức năng này hoạt động tách rời, hệ thống số có thể được xây dựng nhưng quy trình và trách nhiệm vẫn không thay đổi.

Ở khu vực doanh nghiệp, chính sách năm 2026 đã chuyển sang giai đoạn hỗ trợ có cấu trúc hơn. Quyết định số 433/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026–2030, với các cơ chế đánh giá mức độ sẵn sàng, tư vấn, đào tạo và hỗ trợ ứng dụng công nghệ.[20] Việc ban hành một đề án mới cho thấy nhu cầu nâng cao năng lực vẫn hiện hữu, nhưng chưa thể dùng để suy luận rằng mọi doanh nghiệp nhỏ và vừa đều gặp cùng một loại rào cản.

Đối với khu vực công, kế hoạch 100 ngày năm 2026 tiếp tục sử dụng cơ chế công khai tiến độ và thời hạn để xử lý nhiệm vụ chậm.[21] Đây là cơ sở để chuyển đánh giá từ “đã ban hành kế hoạch” sang “đã hoàn thành sản phẩm và kết nối”. Cần duy trì các bảng theo dõi có dữ liệu kiểm chứng, đồng thời gắn kết quả chuyển đổi số với trách nhiệm của đơn vị phụ trách và chất lượng dịch vụ cung cấp, thay vì chỉ với số lượng nhiệm vụ hoàn thành trên báo cáo.

          4.6. An ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và khả năng tiếp cận an toàn

Mở rộng kết nối làm tăng giá trị sử dụng dữ liệu nhưng cũng làm tăng tác động tiềm tàng của sự cố. Khung pháp luật đến tháng 9/2026 đã có Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật An ninh mạng mới và Luật Chuyển đổi số; Điều 6 Luật Chuyển đổi số yêu cầu bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư.[22] Do đó, vấn đề không còn là thiếu nguyên tắc bảo vệ mà là mức độ tích hợp các yêu cầu này trong thiết kế và vận hành.

Đối với hệ thống công, cần áp dụng quản trị truy cập theo vai trò, ghi nhật ký truy vấn, mã hóa, kiểm thử an toàn, quản lý sự cố, sao lưu và phục hồi, đánh giá rủi ro khi kết nối hệ thống mới. Bảo vệ dữ liệu không nên được xử lý như thủ tục hoàn tất sau khi hệ thống đã xây dựng, mà phải là tiêu chí kiến trúc từ đầu.

Khả năng tiếp cận cũng là một phần của an toàn và chất lượng dịch vụ. Luật Chuyển đổi số yêu cầu chú ý đến các nhóm dễ bị tổn thương và nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ số.[23] Vì vậy, đánh giá một dịch vụ công số không chỉ dựa trên khả năng vận hành kỹ thuật mà còn phải xem xét người cao tuổi, người khuyết tật, người có kỹ năng số hạn chế hoặc người ở khu vực hạ tầng yếu có thể sử dụng dịch vụ hay không.

        5. Định hướng hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực thi

Thứ nhất, giai đoạn sau tháng 7/2026 nên ưu tiên đánh giá thực thi Luật Chuyển đổi số thay vì tiếp tục mở rộng số lượng văn bản chung. Cần xây dựng cơ chế rà soát định kỳ đối với các quy định gây trùng lặp hoặc xung đột giữa luật chuyển đổi số và pháp luật chuyên ngành, đồng thời công bố các vướng mắc đã được xử lý.

Thứ hai, nguyên tắc “khai báo một lần” cần được chuyển thành chỉ tiêu kiểm chứng được. Cơ quan giải quyết thủ tục nên phải ghi nhận trường hợp vẫn yêu cầu thông tin đã có, lý do không khai thác được dữ liệu, và thời gian khắc phục lỗi kết nối. Trọng tâm không còn là bổ sung nguyên tắc mà là đo mức độ tuân thủ nguyên tắc.

Thứ ba, quản trị dữ liệu cần dựa trên trách nhiệm nguồn và chất lượng dữ liệu. Mỗi dữ liệu dùng chung phải có chủ thể chịu trách nhiệm, tiêu chuẩn chất lượng, chu kỳ cập nhật, cơ chế sửa sai và nhật ký sử dụng. Việc hoàn thành kết nối chỉ là điều kiện cần; chất lượng khai thác và độ tin cậy của dữ liệu mới quyết định khả năng tái sử dụng.

Thứ tư, cần đánh giá thực chứng hiệu quả của Nghị định 224/2026/NĐ-CP đối với đầu tư và mua sắm. Sau một chu kỳ ngân sách đầy đủ, có thể so sánh thời gian phê duyệt, giải ngân, chi phí vòng đời và khả năng thử nghiệm trước và sau khi nghị định có hiệu lực. Trong giai đoạn hiện tại, các kết luận về hiệu quả của cơ chế mới cần được trình bày thận trọng.

Thứ năm, chất lượng dịch vụ công nên được đo bằng kết quả đầu ra: tỷ lệ hồ sơ toàn trình thực sự, số lần phải nộp bổ sung, thời gian xử lý, mức độ tái sử dụng dữ liệu, tỷ lệ lỗi, mức độ hài lòng và khả năng tiếp cận của các nhóm người dùng khác nhau. Luật Chuyển đổi số đã yêu cầu cải thiện liên tục chất lượng dịch vụ dựa trên khảo sát người sử dụng và dữ liệu thực tế; cơ chế đo lường cần được triển khai nhất quán.[24]

Thứ sáu, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu phải được gắn với tiêu chí nghiệm thu và vận hành, không chỉ với hồ sơ tuân thủ. Một hệ thống chỉ nên được coi là hoàn thành khi đáp ứng yêu cầu an toàn, có quy trình phản ứng sự cố, khả năng truy vết và phương án phục hồi phù hợp với mức độ rủi ro.

       6. Kết luận

Đến tháng 9/2026, khuôn khổ pháp lý của chuyển đổi số quốc gia đã thay đổi đáng kể so với giai đoạn 2020–2025. Sự có hiệu lực của Luật Chuyển đổi số, Nghị định 224/2026/NĐ-CP, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật An ninh mạng và các quy định về đơn giản hóa thủ tục dựa trên dữ liệu làm cho nhiều kiến nghị trước đây về “thiếu luật khung”, “cần quy định khai báo một lần” hoặc “thiếu cơ chế đầu tư số” không còn phù hợp nếu trình bày theo dạng khoảng trống pháp luật.

Các điểm nghẽn còn lại chủ yếu chuyển sang tầng thực thi: chất lượng và khả năng liên thông dữ liệu; mức độ tái cấu trúc quy trình; tính tương thích giữa luật khung và pháp luật chuyên ngành; năng lực hấp thụ cơ chế đầu tư, mua sắm mới; năng lực nhân sự và quản trị; cùng việc tích hợp an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu trong vòng đời hệ thống. Đây là các vấn đề khó xử lý chỉ bằng việc ban hành thêm quy định.

Vì vậy, trọng tâm nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn tiếp theo nên là tính thực thi và khả năng đo lường. Pháp luật cần cho phép xác định rõ dữ liệu nào phải được dùng lại, ai chịu trách nhiệm về chất lượng, vì sao một dịch vụ chưa thể toàn trình, cơ chế mới rút ngắn thời gian đầu tư đến mức nào, và người sử dụng thực tế nhận được lợi ích gì. Chỉ khi chuyển được từ đánh giá đầu vào sang kết quả đầu ra, chuyển đổi số mới có thể được đánh giá bằng hiệu quả vận hành thay vì số lượng văn bản, hệ thống hoặc nhiệm vụ được công bố.

--------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Báo Điện tử Chính phủ. “100 ngày xử lý điểm nghẽn về chuyển đổi số: Đo bằng kết quả thực tế.” 31/8/2026.

2. Báo Điện tử Chính phủ. “Bộ Khoa học và Công nghệ tăng tốc xử lý các điểm nghẽn chuyển đổi số.” 8/9/2026.

3. Báo Điện tử Chính phủ. “Chiến dịch ‘100 ngày cao điểm chuyển đổi số’: Đem lại giá trị thực tiễn cho người dân, doanh nghiệp.” 4/9/2026.

4. Báo Điện tử Chính phủ. “6 cơ chế mới tháo gỡ vướng mắc trong đầu tư, mua sắm cho chuyển đổi số.” 21/7/2026.

5. Báo Điện tử Chính phủ. “Phát triển đồng bộ hạ tầng số, chuyển đổi số toàn diện, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp.” 15/5/2026.

6. Bộ Chính trị. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024.

7. Chính phủ. Nghị định số 194/2025/NĐ-CP ngày 3/7/2025.

8. United Nations. UN E-Government Survey 2024. New York: United Nations, 2024.

 

[1] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 3/6/2020; Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 6/1/2022; Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024; Chính phủ, Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 1/4/2025; Chính phủ, Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/1/2026.

[2] Quốc hội, Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024; Quốc hội, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025; Quốc hội, Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 ngày 10/12/2025; Quốc hội, Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 ngày 11/12/2025; Chính phủ, Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026.

[3] Báo Điện tử Chính phủ, “Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị ‘3 trong 1’ về triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cải cách hành chính và Đề án 06,” 18/12/2025.

[4] Báo Điện tử Chính phủ, “Tháo gỡ 6 ‘điểm nghẽn’ để triển khai Đề án 06,” 28/3/2026.

[5] Báo Điện tử Chính phủ, “Triển khai 100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn về chuyển đổi số,” 29/7/2026; “Chiến dịch ‘100 ngày cao điểm chuyển đổi số’: Đem lại giá trị thực tiễn cho người dân, doanh nghiệp,” 4/9/2026.

[6] Chính phủ, Nghị định số 194/2025/NĐ-CP ngày 3/7/2025; Quốc hội, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025.

[7] Quốc hội, Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, Điều 3 và Điều 6; luật có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

[8] Chính phủ, Nghị định số 224/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số; Báo Điện tử Chính phủ, “Quy định mới về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến,” 29/6/2026.

[9] Chính phủ, Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP ngày 15/11/2025 quy định cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính dựa trên dữ liệu, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đến hết ngày 28/2/2027.

[10] Báo Điện tử Chính phủ, “Tổng thuật: Thủ tướng chủ trì hội nghị ‘3 trong 1’…,” 18/12/2025.

[11] United Nations, UN E-Government Survey 2024 (New York: United Nations, 2024), country data for Viet Nam.

[12] Báo Điện tử Chính phủ, “Tháo gỡ 6 ‘điểm nghẽn’ để triển khai Đề án 06,” 28/3/2026.

[13] Báo Điện tử Chính phủ, “Bộ Khoa học và Công nghệ tăng tốc xử lý các điểm nghẽn chuyển đổi số,” 8/9/2026.

[14] Báo Điện tử Chính phủ, “Chiến dịch ‘100 ngày cao điểm chuyển đổi số’: Đem lại giá trị thực tiễn cho người dân, doanh nghiệp,” 4/9/2026.

[15] Báo Điện tử Chính phủ, “Tháo gỡ 6 ‘điểm nghẽn’…,” 28/3/2026; “Bộ Khoa học và Công nghệ tăng tốc xử lý các điểm nghẽn chuyển đổi số,” 8/9/2026.

[16] Quốc hội, Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, Điều 6; Chính phủ, Nghị quyết số 66.7/2025/NQ-CP.

[17] Chính phủ, Nghị định số 224/2026/NĐ-CP; Báo Điện tử Chính phủ, “Quy định mới về việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến,” 29/6/2026.

[18] Báo Điện tử Chính phủ, “Tháo gỡ 6 ‘điểm nghẽn’…,” 28/3/2026; “Phát triển đồng bộ hạ tầng số, chuyển đổi số toàn diện, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp,” 15/5/2026.

[19] Quốc hội, Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, Điều 20; Chính phủ, Nghị định số 224/2026/NĐ-CP; Báo Điện tử Chính phủ, “6 cơ chế mới tháo gỡ vướng mắc trong đầu tư, mua sắm cho chuyển đổi số,” 21/7/2026.

[20] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 433/QĐ-TTg ngày 16/3/2026 phê duyệt Đề án chuyển đổi số các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2026–2030.

[21] Báo Điện tử Chính phủ, “Triển khai 100 ngày tháo gỡ điểm nghẽn về chuyển đổi số,” 29/7/2026; “100 ngày xử lý điểm nghẽn về chuyển đổi số: Đo bằng kết quả thực tế,” 31/8/2026.

[22] Quốc hội, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15; Quốc hội, Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15; Quốc hội, Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, Điều 6.

[23] Quốc hội, Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, các quy định về chính sách phát triển công dân số và khả năng tiếp cận dịch vụ công trực tuyến.

[24] Quốc hội, Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15, quy định về chất lượng dịch vụ công trực tuyến và đánh giá dựa trên khảo sát người sử dụng, dữ liệu thực tế.

ThS. NCS Trần Võ Quang (Công ty TNHH Tư vấn & Đào tạo ACC PRO Việt Nam, Email: quangtv10031984@gmail.com)

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin