Tóm tắt: Trong bối cảnh đó, Hội Luật gia Việt Nam cần chuyển mạnh từ cách tham gia theo yêu cầu đề nghị vào từng việc sang tham gia chủ động, chuyên sâu, có trọng tâm, trọng điểm và có khả năng đo lường kết quả. Bằng phương pháp phân tích văn bản, phân tích thể chế và tham chiếu có chọn lọc các nguyên tắc quốc tế về chính sách điều tiết, bài viết làm rõ cơ sở pháp lý, những thuận lợi, thách thức và các yêu cầu đặt ra đối với Hội trong giai đoạn mới. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần tập trung vào các nhiệm vụ đã được xác định trong thực tiễn hoạt động của Hội: tham gia xây dựng pháp luật từ sớm, từ xa; nâng cao chất lượng nghiên cứu và phản biện dựa trên bằng chứng; nghiên cứu những vấn đề mới, có tính chiến lược; xây dựng mạng lưới chuyên gia; tăng cường rà soát, tổng kết thi hành pháp luật; ứng dụng công nghệ, dữ liệu; và phát triển đội ngũ luật gia có năng lực hội nhập quốc tế. Các giải pháp này hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng kiến nghị chính sách và phục vụ thiết thực hơn người dân, doanh nghiệp.
Từ khóa: Hội Luật gia Việt Nam; Nghị quyết 66-NQ/TW; xây dựng pháp luật; thi hành pháp luật; phản biện chính sách; quản trị dữ liệu.
FROM “PARTICIPATION” TO “PROACTIVE POLICY SHAPING”: ENHANCING THE ROLE OF THE VIETNAM LAWYERS ASSOCIATION IN LAW-MAKING AND LAW IMPLEMENTATION UNDER RESOLUTION NO. 66-NQ/TW
Abstract: Resolution No. 66-NQ/TW of 30 April 2025 requires a fundamental renewal of law-making and law implementation in Viet Nam, treating law not only as a governance foundation but also as a development resource and competitive advantage. In this context, the Vietnam Lawyers Association needs to move from case-by-case participation towards proactive, specialised, focused and measurable engagement. Using doctrinal analysis, institutional analysis and selective reference to international principles of regulatory policy, this article examines the Association’s legal mandate, advantages, challenges and priorities in the new period. It finds that the Association should focus on early engagement in law-making; evidence-informed research and policy review; strategic and emerging legal issues; expert networks; systematic review of law implementation; responsible use of technology and data; and the development of lawyers capable of international engagement. These directions are intended to improve the quality and practical value of policy recommendations and better serve citizens and businesses.
Keywords: Vietnam Lawyers Association; Resolution No. 66-NQ/TW; law-making; law implementation; policy review; data governance.
1. Đặt vấn đề
Chất lượng của pháp luật không chỉ phụ thuộc vào kỹ thuật soạn thảo. Một quy định chỉ có thể tạo ra giá trị phát triển khi vấn đề cần điều chỉnh được nhận diện đúng, thông tin của nhóm chịu tác động được tiếp nhận, phương án chính sách được so sánh bằng bằng chứng, chi phí tuân thủ được dự báo và kết quả thi hành được theo dõi. Vì vậy, đổi mới công tác pháp luật phải bao trùm toàn bộ chu trình từ hình thành chính sách đến tổ chức thực hiện và đánh giá sau ban hành và thực hiện.
Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới thể hiện rõ sự chuyển đổi đó. Nghị quyết yêu cầu bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; đổi mới tư duy xây dựng pháp luật; tạo lập khuôn khổ pháp lý khuyến khích đổi mới sáng tạo; tăng cường tính khả thi, ổn định và khả năng dự báo; đồng thời bố trí nguồn lực tương xứng cho tổ chức thi hành.[1] Định hướng này gắn với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương, đột phá khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, cũng như hội nhập quốc tế trong tình hình mới theo Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị.[2]

Đ/c Nguyễn Khánh Ngọc, Chủ tịch Hội Luật gia Việt Nam (bên trái) và đ/c Trần Công Phàn, Phó Chủ tịch thường trực Hội Luật gia Việt Nam chủ trì Hội nghị toàn quốc triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW tại Đà Nẵng tháng 9/2025
Trong cấu trúc mới ấy, Hội Luật gia Việt Nam có một vị trí đáng chú ý. Hội là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, hoạt động trên phạm vi cả nước, tập hợp những người đã hoặc đang làm công tác pháp luật. Điều lệ Hội xác định các nhiệm vụ về tham gia xây dựng chính sách, pháp luật; nghiên cứu khoa học pháp lý; phổ biến, giáo dục pháp luật; tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý; giám sát và phản biện xã hội.[3] Phạm vi nhiệm vụ này cho phép Hội kết nối ba loại tri thức thường bị tách rời: tri thức học thuật của nhà nghiên cứu, tri thức vận hành của cán bộ thực tiễn và trải nghiệm tuân thủ của người dân, doanh nghiệp.
Tuy nhiên, có thẩm quyền tham gia không đồng nghĩa với có năng lực tạo ảnh hưởng. Nếu hoạt động chủ yếu được đo bằng số cuộc họp, số văn bản góp ý hoặc số lượt ý kiến, kết quả dễ dừng ở “sản lượng hoạt động”, chưa cho thấy kiến nghị nào được tiếp thu, vấn đề nào được tháo gỡ và tác động xã hội nào được tạo ra. Từ đầu năm 2026 đến nay, Trung ương Hội tham gia 17 ban và tổ soạn thảo, góp ý hơn 80 dự thảo; các cấp Hội tổ chức 2.058 hội nghị, hội thảo, tọa đàm và đóng góp hơn 20.400 lượt ý kiến.[4] Các số liệu này phản ánh quy mô huy động lớn, nhưng đồng thời đặt ra câu hỏi về cơ chế chuyển hóa quy mô thành chất lượng và tác động.
Bài viết trả lời hai câu hỏi. Thứ nhất, những thuận lợi và thách thức nào đang đặt ra đối với Hội Luật gia Việt Nam trong công tác nghiên cứu, xây dựng và thi hành pháp luật? Thứ hai, Hội cần tập trung vào những nhiệm vụ và giải pháp nào để chuyển từ “tham gia” sang “chủ động kiến tạo”, đồng thời bảo đảm các ý kiến phản biện có cơ sở khoa học, có tính khả thi và hướng tới hiệu quả thực chất? Đóng góp của bài viết là hệ thống hóa các định hướng đã được xác định từ thực tiễn hoạt động của Hội và làm rõ những điều kiện cần thiết để triển khai các định hướng đó.
2. Phương pháp nghiên cứu và khung phân tích
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản đối với các nghị quyết có liên quan, Điều lệ Hội Luật gia Việt Nam và pháp luật về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật. Phân tích thể chế được sử dụng để xem xét quan hệ giữa chức năng chính thức, nguồn lực tổ chức, quy trình tạo sản phẩm và cơ chế trách nhiệm giải trình. Phương pháp so sánh chức năng được áp dụng ở mức độ chọn lọc, đối chiếu yêu cầu trong nước với các nguyên tắc của OECD về chính sách điều tiết: cam kết chính trị ở cấp cao, tham vấn mở và cân bằng, đánh giá tác động, rà soát sau ban hành, phối hợp giữa các cấp và công khai kết quả.[5]
Các nghiên cứu về quản trị điều tiết cung cấp ba gợi mở cho việc xác định vai trò của Hội. Thứ nhất, hiệu quả tham gia không chỉ phụ thuộc vào số người được mời, mà còn phụ thuộc vào thành phần tham gia, phương thức trao đổi và mức độ gắn kết giữa kết quả tham vấn với quyết định công.[6] Thứ hai, tổ chức trung gian có thể kết nối cơ quan điều tiết với đối tượng chịu tác động, nhưng giá trị của vai trò trung gian phụ thuộc vào năng lực chuyên môn, tính đại diện và trách nhiệm giải trình.[7] Thứ ba, đánh giá chính sách cần phân biệt nguồn lực, quy trình, sản phẩm và kết quả cuối cùng; số lượng hoạt động không thể thay thế bằng chứng về tác động.[8] Khoảng trống mà bài viết xử lý là cụ thể hóa các gợi mở này cho Hội Luật gia Việt Nam trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW, trên cơ sở những định hướng thực tiễn được nêu trong cuộc phỏng vấn của Phó Chủ tịch thường trực Hội Luật gia Việt Nam.[9]
Khung phân tích tập trung vào ba nhóm nội dung: cơ sở pháp lý và thực tiễn của vai trò Hội; những thuận lợi, thời cơ và thách thức trong giai đoạn mới; các nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu, phản biện và tham gia xây dựng, thi hành pháp luật. Việc tham chiếu kinh nghiệm quốc tế chỉ nhằm làm rõ thêm yêu cầu về tham vấn thực chất, đánh giá tác động và đánh giá kết quả không nên và không được sử dụng để áp đặt một mô hình tổ chức bên ngoài vào điều kiện hoạt động của Hội.
Phạm vi nghiên cứu không nhằm đánh giá toàn bộ cơ cấu hay kết quả hoạt động của Hội. Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính; vì vậy, các nhận định về hiệu quả cần tiếp tục được đối chiếu với kết quả theo dõi, tổng kết hoạt động của Hội trong quá trình triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW.
3. Cơ sở pháp lý và giá trị gia tăng của Hội trong chu trình tham gia xây dựng chính sách
3.1. Từ quyền tham gia đến trách nhiệm tạo lập bằng chứng
Nghị quyết số 66-NQ/TW không coi xây dựng pháp luật là công việc riêng của cơ quan soạn thảo. Tinh thần huy động trí tuệ xã hội, tăng cường phản biện, đánh giá tác động và tổ chức thi hành tạo không gian cho các tổ chức nghề nghiệp tham gia có cấu trúc. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, sau khi được sửa đổi, bổ sung trong cùng năm, quy định trách nhiệm đánh giá tác động của chính sách và lấy ý kiến, tham vấn chính sách.[10] Quyền góp ý vì thế cần được hiểu cùng với trách nhiệm cung cấp thông tin có thể kiểm chứng và phương án có thể lựa chọn.
Điều lệ Hội trao cho Hội nhiều nhiệm vụ trải dài qua chu trình pháp luật.[11] Ở giai đoạn trước soạn thảo, mạng lưới hội viên cần chủ động phát hiện xung đột, khoảng trống hoặc chi phí tuân thủ từ thực tiễn. Ở giai đoạn hình thành chính sách, các viện nghiên cứu và chuyên gia của Hội cần chuyển những vấn đề thực tiễn thành câu hỏi nghiên cứu, phương án chính sách và nội dung đánh giá tác động. Trong giai đoạn soạn thảo, Hội tập trung phản biện cấu trúc và nội dung quy định. Sau ban hành, thông tin từ hoạt động phổ biến, tư vấn và trợ giúp pháp lý là cơ sở quan trọng để đánh giá khả năng tuân thủ và phát hiện những vấn đề mới phát sinh.
Đây là lợi thế khác biệt so với một nhóm tư vấn chỉ tồn tại trong thời gian soạn thảo. Hội có mạng lưới thường trực, tiếp xúc với nhiều chủ thể và có khả năng hình thành “vòng phản hồi”: dữ liệu thi hành quay trở lại phục vụ sửa đổi chính sách. Nhưng vòng phản hồi chỉ hoạt động nếu dữ liệu được ghi nhận theo chuẩn, ý kiến được tổng hợp thành vấn đề có thể xử lý và kết quả kiến nghị được theo dõi.
3.2. Những lợi thế cần được phát huy
Thứ nhất, Hội có nguồn lực trí tuệ lớn với hơn 100.000 hội viên, trong đó có nhiều luật gia, luật sư, nhà khoa học, giảng viên, cán bộ thực tiễn và chuyên gia pháp lý giàu kinh nghiệm. Đây là điều kiện quan trọng để Hội hình thành các nhóm nghiên cứu, tư vấn và phản biện theo từng lĩnh vực. Tuy nhiên, lợi thế về số lượng chỉ có thể chuyển thành chất lượng khi có cơ chế kết nối, xác định đúng chuyên môn, phân công nhiệm vụ và đánh giá sản phẩm.
Thứ hai, Hội có điều kiện kết nối và huy động tri thức liên ngành. Những vấn đề mới như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu, tài sản số, chuyển đổi xanh và giao dịch xuyên biên giới không thể được giải quyết thỏa đáng chỉ bằng việc phân tích các quy phạm pháp luật hiện hành. Việc nghiên cứu và đề xuất chính sách đối với những vấn đề này đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức pháp lý với hiểu biết về công nghệ, kinh tế, quản trị rủi ro và thực tiễn thị trường. Vì vậy, Hội cần hình thành các nhóm chuyên gia liên ngành để nhận diện đầy đủ vấn đề, đánh giá tác động và xây dựng những kiến nghị vừa có cơ sở khoa học, vừa phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Thứ ba, mạng lưới tổ chức Hội ở Trung ương và địa phương tạo điều kiện gắn nghiên cứu với thực tiễn. Thông qua hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, phổ biến pháp luật và tham gia giải quyết các vấn đề phát sinh tại cơ sở, các cấp Hội có khả năng nhận diện những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, chưa rõ hoặc khó thực hiện. Đây là nguồn thông tin quan trọng để Hội chủ động tổng kết thực tiễn, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và góp phần tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp.[12]
4. Những điểm nghẽn cần khắc phục
Từ thực tiễn hoạt động của Hội, những thách thức chủ yếu hiện nay liên quan đến việc huy động nguồn lực trí tuệ của hội viên, nâng cao chất lượng nghiên cứu, đổi mới phương thức tham gia và tăng khả năng thích ứng với khoa học - công nghệ.[13]
4.1. Phân tán nguồn lực và thiếu cơ chế đặt hàng
Một tổ chức có đông hội viên không tự động có năng lực nghiên cứu mạnh. Chuyên môn có thể phân tán, thông tin về năng lực từng người không được cập nhật, và việc huy động dựa nhiều vào quan hệ hành chính hoặc sự sẵn sàng nhất thời. Khi không có cơ chế xác định câu hỏi ưu tiên, đặt hàng sản phẩm, thời hạn, chuẩn bằng chứng và thù lao, ý kiến dễ mang tính cá nhân, trùng lặp hoặc thiếu chiều sâu.
Đặc biệt, thời hạn góp ý dự thảo thường ngắn, trong khi phân tích tác động cần dữ liệu và phối hợp liên ngành. Nếu chỉ triệu tập hội thảo sau khi nhận dự thảo, Hội thường đứng ở cuối quy trình và khó kiểm chứng giả định chính sách. Cần chuyển nguồn lực từ việc tổ chức nhiều sự kiện đơn lẻ sang duy trì nhóm chuyên gia có nhiệm vụ liên tục và sản phẩm xác định.
4.2. Chênh lệch giữa góp ý điều khoản và phản biện chính sách
Góp ý kỹ thuật có thể phát hiện từ ngữ chưa thống nhất, thẩm quyền chưa rõ hoặc xung đột giữa các điều. Phản biện chính sách đi xa hơn: phải xác định mục tiêu, nguyên nhân của vấn đề, các phương án thay thế, nhóm được lợi và chịu chi phí, rủi ro thực thi và chỉ báo đánh giá. Nếu bắt đầu từ dự thảo điều khoản, người phản biện dễ bị “neo” vào phương án của cơ quan soạn thảo và bỏ qua lựa chọn phi quy phạm hoặc phương án ít hạn chế hơn.
Đánh giá tác động phải là một phần thực chất của quá trình hình thành và lựa chọn chính sách, không phải thủ tục nhằm hợp thức hóa phương án đã có.[14] Đối với Hội, mỗi ý kiến phản biện cần làm rõ căn cứ khoa học, bằng chứng thực tiễn, tác động dự kiến và tính khả thi của giải pháp. Một văn bản góp ý chỉ nêu đề nghị “sửa” hoặc “bổ sung” mà không giải thích rõ lý do sẽ khó tạo sức thuyết phục.
4.3. Thiếu dữ liệu về kết quả và tác động
Các con số về hội nghị, lượt ý kiến và văn bản góp ý cần thiết cho quản lý hoạt động, nhưng chưa đủ để đánh giá hiệu quả. Một ý kiến có thể được tiếp thu toàn bộ, tiếp thu một phần, không tiếp thu có lý do hoặc không nhận được phản hồi. Sau khi văn bản được ban hành, kiến nghị có thể giúp giảm thủ tục, tăng khả năng tiếp cận công lý hoặc ngăn ngừa xung đột; cũng có thể không tạo thay đổi đáng kể.
Nếu không có mã hồ sơ và bảng theo dõi kiến nghị, Hội không thể tích lũy tri thức tổ chức: không biết dạng lập luận nào có sức thuyết phục, đơn vị nào cần hỗ trợ, lĩnh vực nào thường xuất hiện bất cập. Việc công bố có chọn lọc báo cáo theo dõi còn giúp tăng trách nhiệm giải trình và niềm tin của hội viên đối với giá trị đóng góp của họ.
4.4. Yêu cầu thích ứng với công nghệ và chuyển đổi số
Sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các mô hình kinh doanh số đang làm thay đổi cả đối tượng điều chỉnh của pháp luật và phương thức nghiên cứu pháp lý. Điều đó đòi hỏi người làm công tác pháp luật không chỉ nắm vững chuyên môn truyền thống mà còn phải hiểu công nghệ, dữ liệu, kinh tế số và những vấn đề pháp lý xuyên biên giới. Nếu không kịp thời cập nhật kiến thức và phương pháp, đội ngũ luật gia sẽ khó đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, dự báo và phản biện trong giai đoạn mới.
Ứng dụng công nghệ cần đi đôi với việc xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật, dữ liệu chuyên gia và kết quả nghiên cứu; tăng cường kết nối hội viên; hỗ trợ lấy ý kiến, tổng hợp, phân tích và dự báo chính sách. Công nghệ là công cụ nâng cao chất lượng và tốc độ nghiên cứu, nhưng kết quả cuối cùng vẫn phải được kiểm tra bằng chuyên môn, căn cứ pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của luật gia.
5. Những nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn mới
Trên cơ sở chương trình triển khai Nghị quyết số 66-NQ/TW và yêu cầu đổi mới hoạt động Hội, năm nhóm nhiệm vụ sau đây cần được tập trung thực hiện trong nhiệm kỳ mới.
5.1. Tham gia xây dựng pháp luật từ sớm, từ xa
Yêu cầu đầu tiên là Hội không chỉ góp ý khi dự thảo văn bản đã tương đối hoàn thiện mà cần chủ động tham gia từ khâu nghiên cứu, đề xuất chính sách, xây dựng hồ sơ chính sách, soạn thảo, thẩm định và hoàn thiện văn bản. Tham gia sớm giúp Hội có điều kiện góp ý đối với chính mục tiêu, phạm vi và phương án chính sách, thay vì chỉ xử lý những vấn đề kỹ thuật của từng điều khoản.
Để thực hiện được yêu cầu đó, các đơn vị nghiên cứu, tổ chức Hội và hội viên cần tăng cường theo dõi thực tiễn, phát hiện kịp thời các điểm nghẽn và chủ động đề xuất vấn đề cần nghiên cứu. Mỗi ý kiến tham gia phải hướng đến việc làm rõ vấn đề thực tiễn, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và khơi thông nguồn lực phát triển.

Quang cảnh Tọa đàm hội nghị góp ý kiến đối với dự thảo Báo cáo một số định hướng lớn sửa đổi bổ sung Luật Trọng tài thương mại do Hội Luật gia Việt Nam tổ chức tháng 6/2026
5.2. Nâng cao chất lượng nghiên cứu và phản biện
Ý kiến của Hội phải có luận cứ khoa học, dựa trên bằng chứng và dữ liệu thực tiễn, đồng thời thể hiện được khả năng dự báo, tính khả thi và giá trị ứng dụng. Nghiên cứu khoa học pháp lý không chỉ mô tả pháp luật đang có mà phải chỉ ra quy định nào đang là điểm nghẽn, vấn đề nào pháp luật còn bỏ ngỏ, phương án nào có thể giải quyết và điều kiện nào cần thiết để tổ chức thực hiện.
Muốn nâng cao chất lượng phản biện, Hội cần gắn chặt nghiên cứu với tổng kết thực tiễn, đánh giá tác động và kinh nghiệm thi hành. Các ý kiến không nên dừng ở nhận xét chung hoặc đề nghị sửa đổi mà cần nêu rõ căn cứ, nội dung bất cập, tác động đối với các nhóm liên quan và giải pháp kiến nghị. Đây là điều kiện để ý kiến của Hội không chỉ đúng về pháp lý mà còn trúng vấn đề thực tiễn.
Muốn pháp luật được ban hành ra có tính khả thi, đi vào cuộc sống thì trước hết phải chuyển các vấn đề thực tiễn cuộc sống vào pháp luật, nhất là những vấn đề cần được tháo gỡ, cần có chính sách pháp luật điều chỉnh.
5.3. Tập trung vào những vấn đề lớn, mới và có tính chiến lược
Trong giai đoạn mới, Hội cần dành nguồn lực nghiên cứu cho những vấn đề phát sinh từ chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển xanh, hội nhập quốc tế, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và các phương thức giải quyết tranh chấp mới. Đây là những lĩnh vực thay đổi nhanh, có tính liên ngành và xuyên biên giới, trong khi kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật còn đang tiếp tục được hình thành.
Việc lựa chọn vấn đề nghiên cứu cần xuất phát từ yêu cầu của đất nước và những vướng mắc mà người dân, doanh nghiệp đang gặp phải. Đồng thời, nghiên cứu phải đặt pháp luật Việt Nam trong tương quan với pháp luật quốc tế và pháp luật các nước, tiếp thu kinh nghiệm phù hợp nhưng không sao chép máy móc. Mục tiêu là dự báo và chuẩn bị cơ sở pháp lý cho những vấn đề của tương lai.
5.4. Xây dựng mạng lưới chuyên gia pháp lý
Hội cần kết nối luật gia, luật sư, nhà khoa học, giảng viên, cán bộ thực tiễn và chuyên gia trong và ngoài nước theo từng lĩnh vực. Cơ sở dữ liệu chuyên gia cần phản ánh được chuyên môn, kinh nghiệm và khả năng tham gia của hội viên, qua đó hỗ trợ việc lựa chọn đúng người cho từng nhiệm vụ nghiên cứu, xây dựng và phản biện pháp luật.
Mạng lưới chuyên gia phải được tổ chức theo hướng thực chất, gắn với cơ chế giao nhiệm vụ, phối hợp nghiên cứu và đánh giá chất lượng sản phẩm. Các viện, trung tâm của Hội cần được kiện toàn nguồn nhân lực; đồng thời có cơ chế thu hút nhân lực chất lượng cao và chế độ thù lao phù hợp đối với hoạt động nghiên cứu, tham gia xây dựng và thi hành pháp luật.

Quang cảnh Hội thảo khoa học “Đưa Nghị quyết 66-NQ/TW vào cuộc sống: Yêu cầu, cơ chế và giải pháp thực thi” do Viện IBLA và Tạp chí Pháp lý tổ chức tại TP.HCM tháng 9/2025
5.5. Tăng cường rà soát, hệ thống hóa và tổng kết thi hành pháp luật
Rà soát và tổng kết thi hành pháp luật là cơ sở để phát hiện những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập hoặc những khoảng trống cần được xử lý. Thực tiễn Hội tham gia tổng kết thi hành Luật Phá sản, Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Đất đai và một số luật khác cho thấy đây là lĩnh vực Hội cần tiếp tục phát huy thế mạnh.
Việc rà soát không chỉ nhằm kiến nghị sửa đổi văn bản mà còn phải làm rõ nguyên nhân của vướng mắc, điều kiện tổ chức thực hiện và tác động đối với người dân, doanh nghiệp. Kết quả tổng kết thực tiễn cần được chuyển hóa thành kiến nghị cụ thể, phục vụ trực tiếp quá trình hoạch định chính sách và hoàn thiện pháp luật. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu đánh giá thường xuyên hiệu lực và hiệu quả của quy định sau khi ban hành.
6. Các điều kiện bảo đảm
6.1. Phát triển nguồn nhân lực luật gia chất lượng cao
Chất lượng hoạt động của Hội trước hết phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ luật gia. Trong nhiệm kỳ XV, Hội xác định xây dựng tổ chức Hội, phát triển nguồn nhân lực và hội viên là một trong ba khâu đột phá. Đội ngũ luật gia cần vững vàng về bản lĩnh chính trị, trong sáng về đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, đồng thời có trách nhiệm với Tổ quốc và Nhân dân.
Bên cạnh kiến thức pháp luật, luật gia cần nâng cao năng lực nghiên cứu, hiểu được mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ và quản trị quốc gia. Hội cần đặc biệt quan tâm đến luật gia trẻ, cán bộ cơ sở và đội ngũ kế cận; đồng thời thu hút chuyên gia, nhà khoa học, người làm công tác pháp luật và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động Hội.
6.2. Ứng dụng công nghệ số và dữ liệu trong nghiên cứu pháp luật
Hội cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu trong nghiên cứu, xây dựng và phản biện chính sách. Trước mắt, cần tăng cường xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật, dữ liệu chuyên gia và kết quả nghiên cứu; hỗ trợ kết nối hội viên trên phạm vi cả nước; nâng cao khả năng lấy ý kiến, tổng hợp, phân tích và dự báo chính sách.
Việc ứng dụng công nghệ phải đi đôi với nâng cao năng lực số của đội ngũ luật gia. Công nghệ có thể hỗ trợ quá trình nghiên cứu nhưng không thay thế việc kiểm tra nguồn, phân tích pháp lý và trách nhiệm chuyên môn của người nghiên cứu. Vì vậy, đào tạo kỹ năng số cần gắn với yêu cầu sử dụng công nghệ đúng mục đích, chính xác và phù hợp với tính chất của hoạt động pháp luật.
6.3. Nâng cao năng lực hội nhập quốc tế
Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, luật gia cần có khả năng tiếp cận pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và tham gia các diễn đàn pháp lý khu vực, quốc tế. Hội cần tăng cường hợp tác với các tổ chức luật gia, cơ sở đào tạo và nghiên cứu pháp luật quốc tế; tạo điều kiện để hội viên trao đổi kinh nghiệm, nghiên cứu, đào tạo và nâng cao kỹ năng.
Nghiên cứu so sánh cần phục vụ trực tiếp yêu cầu hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Kinh nghiệm quốc tế chỉ có giá trị khi được đánh giá trong điều kiện thể chế, kinh tế và xã hội cụ thể của đất nước. Việc nâng chuẩn nghiên cứu lên tầm quốc tế không đồng nghĩa với sao chép mô hình, mà nhằm tăng khả năng phân tích, dự báo và lựa chọn giải pháp phù hợp.
7. Đổi mới đánh giá hiệu quả tham gia xây dựng pháp luật
Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt ra yêu cầu xây dựng và thi hành pháp luật phải hướng tới hiệu quả thực chất. Đối với Hội, điều đó đòi hỏi việc đánh giá không chỉ dựa trên số lượng hội nghị, hội thảo, văn bản góp ý hoặc lượt ý kiến. Những con số này phản ánh quy mô hoạt động nhưng chưa cho biết chất lượng kiến nghị và khả năng giải quyết vấn đề.
Từ năm 2026, Hội bắt đầu triển khai hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác tham gia xây dựng pháp luật trong toàn hệ thống. Việc xây dựng tiêu chí cần tập trung vào chất lượng khoa học của ý kiến, mức độ gắn với thực tiễn, tính khả thi của giải pháp, khả năng dự báo và kết quả tiếp thu. Đánh giá cũng cần xem xét việc kiến nghị có góp phần xử lý mâu thuẫn, chồng chéo, khoảng trống pháp luật hoặc tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp hay không.
Đồng thời, kết quả đánh giá phải được sử dụng để điều chỉnh phương thức tổ chức hoạt động, lựa chọn vấn đề nghiên cứu và nâng cao năng lực của các đơn vị, chuyên gia tham gia. Mục đích của đánh giá không phải là tăng thêm thủ tục báo cáo, mà là làm rõ hiệu quả thực tế và tạo động lực cải thiện chất lượng công việc.
Kinh nghiệm về đánh giá chính sách cho thấy cần phân biệt hoạt động đã thực hiện, sản phẩm được tạo ra và kết quả đạt được.[15] Đây là gợi mở phù hợp để Hội chuyển từ đánh giá chủ yếu theo số lượng sang đánh giá đồng thời chất lượng và hiệu quả, nhưng tiêu chí cụ thể phải được xây dựng trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và điều kiện thực tế của Hội.
8. Tổ chức thực hiện
Để các định hướng trên đi vào thực chất, cần có sự thống nhất trong nhận thức và hành động của toàn hệ thống Hội. Trung ương Hội, các viện, trung tâm và tổ chức Hội ở địa phương cần xác định nghiên cứu khoa học pháp lý và tham gia xây dựng, thi hành pháp luật là nhiệm vụ trọng tâm; đồng thời chủ động lựa chọn những vấn đề phù hợp với chức năng và năng lực của mình.
Việc triển khai cần gắn với chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW của Hội, trong đó xác định rõ nhiệm vụ, đơn vị thực hiện, sản phẩm và yêu cầu về chất lượng. Cần ưu tiên kiện toàn nhân lực nghiên cứu, xây dựng mạng lưới chuyên gia và tạo điều kiện về nguồn lực để các đơn vị hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Mỗi nghiên cứu, hội thảo hoặc hoạt động góp ý cần hướng tới một sản phẩm cụ thể, một kiến nghị chính sách cụ thể hoặc góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn cụ thể. Đây là yêu cầu quan trọng để chuyển từ “có tham gia” sang “tham gia thực chất, có chất lượng và đo được hiệu quả”, đúng với tinh thần đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong giai đoạn mới.
9. Kết luận
Nghị quyết số 66-NQ/TW mở ra cơ hội để Hội Luật gia Việt Nam nâng vai trò từ một chủ thể “có tham gia” thành một thiết chế chủ động tạo lập bằng chứng và kết nối tri thức cho công tác xây dựng, thi hành pháp luật. Lợi thế của Hội nằm ở mạng lưới hội viên rộng, sự kết hợp giữa nghiên cứu và thực tiễn, cùng khả năng thu nhận phản hồi từ quá trình áp dụng. Tuy nhiên, lợi thế đó chỉ trở thành năng lực thực tế khi có cơ chế tổ chức tương ứng.
Để thực hiện được yêu cầu đó, Hội cần tập trung tham gia xây dựng pháp luật từ sớm, từ xa; nâng cao chất lượng nghiên cứu và phản biện dựa trên bằng chứng; ưu tiên những vấn đề lớn, mới và có tính chiến lược; xây dựng mạng lưới chuyên gia; tăng cường rà soát, tổng kết thi hành pháp luật; ứng dụng công nghệ, dữ liệu; và phát triển đội ngũ luật gia có năng lực chuyên môn, năng lực số và khả năng hội nhập quốc tế.
Chuyển từ “tham gia” sang “chủ động kiến tạo” trước hết là sự thay đổi về tư duy và phương thức hoạt động. Mỗi nghiên cứu, mỗi ý kiến góp ý và mỗi hội thảo cần hướng tới một sản phẩm, một kiến nghị hoặc một vấn đề thực tiễn cụ thể. Mục tiêu cuối cùng vẫn là phục vụ Nhân dân, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tháo gỡ những điểm nghẽn của thực tiễn và đóng góp cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Khi thực hiện tốt những nhiệm vụ đó, Hội Luật gia Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò là lực lượng quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đồng hành cùng đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
-----------------------
Tài liệu tham khảo
1. Abbott, Kenneth W., David Levi-Faur, and Duncan Snidal. “Theorizing Regulatory Intermediaries: The RIT Model.” The ANNALS of the American Academy of Political and Social Science 670, no. 1 (2017): 14–35. https://doi.org/10.1177/0002716217695512.
2. Ban Chấp hành Trung ương. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. 2022.
3. Bộ Chính trị. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. 2024.
4. Bộ Chính trị. Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. 2025.
5. Bộ Chính trị. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. 2025.
6. Fung, Archon. “Varieties of Participation in Complex Governance.” Public Administration Review 66, suppl. 1 (2006): 66–75. https://doi.org/10.1111/j.1540-6210.2006.00667.x.
7. OECD. OECD Framework for Regulatory Policy Evaluation. OECD Publishing, 2014. https://doi.org/10.1787/9789264214453-en.
8.OECD. Recommendation of the Council on Regulatory Policy and Governance. OECD/LEGAL/0390. 2012.
9. Quốc hội. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật số 64/2025/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15. 2025.
10. Tạp chí Pháp lý. “Phó Chủ tịch thường trực, TS. Trần Công Phàn: Hội Luật gia Việt Nam trước những thuận lợi, thời cơ và thách thức trong kỷ nguyên mới.” 08/9/2026. https://phaply.net.vn/pho-chu-tich-thuong-truc-ts-tran-cong-phan-hoi-luat-gia-viet-nam-truoc-nhung-thuan-loi-thoi-co-va-thach-thuc-trong-ky-nguyen-moi-a262272.html.
11. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 770/QĐ-TTg ngày 05/6/2020 phê duyệt Điều lệ Hội Luật gia Việt Nam. 2020.
[1] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới (2025), mục II–III.
[2] Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới (2022); Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (2024); Bộ Chính trị, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới (2025).
[3] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 770/QĐ-TTg ngày 05/6/2020 phê duyệt Điều lệ Hội Luật gia Việt Nam (2020), Điều 7.
[4] Tạp chí Pháp lý, “Phó Chủ tịch thường trực, TS. Trần Công Phàn: Hội Luật gia Việt Nam trước những thuận lợi, thời cơ và thách thức trong kỷ nguyên mới,” 08/9/2026, truy cập ngày 11/9/2026, https://phaply.net.vn/pho-chu-tich-thuong-truc-ts-tran-cong-phan-hoi-luat-gia-viet-nam-truoc-nhung-thuan-loi-thoi-co-va-thach-thuc-trong-ky-nguyen-moi-a262272.html.
[5] OECD, Recommendation of the Council on Regulatory Policy and Governance, OECD/LEGAL/0390 (2012), recommendations 1–12.
[6] Archon Fung, “Varieties of Participation in Complex Governance,” Public Administration Review 66, suppl. 1 (2006): 66–75, https://doi.org/10.1111/j.1540-6210.2006.00667.x.
[7] Kenneth W. Abbott, David Levi-Faur, and Duncan Snidal, “Theorizing Regulatory Intermediaries: The RIT Model,” The ANNALS of the American Academy of Political and Social Science 670, no. 1 (2017): 14–35, https://doi.org/10.1177/0002716217695512.
[8] OECD, OECD Framework for Regulatory Policy Evaluation (OECD Publishing, 2014), 23–49, https://doi.org/10.1787/9789264214453-en.
[9] Tạp chí Pháp lý, “Phó Chủ tịch thường trực, TS. Trần Công Phàn.”
[10] Quốc hội, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật số 64/2025/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 87/2025/QH15 (2025), Điều 29–30.
[11] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 770/QĐ-TTg, Điều 7.
[12] Tạp chí Pháp lý, “Phó Chủ tịch thường trực, TS. Trần Công Phàn.”
[13] Tạp chí Pháp lý, “Phó Chủ tịch thường trực, TS. Trần Công Phàn.”
[14] OECD, Recommendation of the Council on Regulatory Policy and Governance, recommendation 4.
[15] OECD, OECD Framework for Regulatory Policy Evaluation (OECD Publishing, 2014), 23–49, https://doi.org/10.1787/9789264214453-en.