Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương mại Luật gia VN hiến kế để Doanh nghiệp Việt có thể tận dụng triệt để những cơ hội mà EVFTA mang lại….

(Pháp lý) - Sáng 20/5, tại ngày làm việc đầu tiên của Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV, Phó Chủ tịch nước Đặng Thị Ngọc Thịnh đã trình bày Tờ trình của Chủ tịch Nước về việc đề nghị Quốc hội phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu. Đây là hiệp định kinh tế quan trọng với Việt Nam, đặc biệt trong thời điểm hậu Covid-19 và đang được cộng đồng doanh nghiệp rất kỳ vọng và đón đợi. Trước sự kiện đặc biệt này, Phóng viên Pháp lý đã có phỏng vấn nhanh với Luật gia Nguyễn Văn Hậu - Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương mại Luật gia VN.

Luật gia Nguyễn Văn Hậu - Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương mại Luật gia VN trao đổi với Phóng viên Pháp lý

Phóng viên: Với cương vị Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương mại Luật gia VN, ông có những cảm nhận gì khi đón nhận tin vui cùng cộng đồng doanh nghiệp trước sự kiện Quốc hội Việt Nam chuẩn bị bấm nút phê chuẩn Hiệp định EVFTA ?

Luật gia Nguyễn Văn Hậu: Tôi cũng như cộng đồng DN Việt rất hồi hộp và vô cùng phấn khởi. Bởi EVFTA sẽ mang lại những cơ hội vô cùng lớn cho chúng ta.

Hiện nay, thị trường EU có một vị thế hết sức quan trọng trong nền kinh tế thương mại đối với Việt Nam, với 27 quốc gia, dân số 450 triệu người, GDP hằng năm đạt khoảng 16.000 tỷ USD chiếm gần 20% tổng GDP toàn cầu, cho thấy sự rộng lớn và sức hấp dẫn với Việt Nam. Đặc biệt là các mặt hàng như: dệt may, giầy dép, nông lâm sản, điện tử… mà các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam kỳ vọng rất lớn vào Hiệp định EVFTA này sẽ giúp cho Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Châu Âu những mặt hàng này rất lớn.

Theo cam kết, ngay khi hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. Sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.

Như vậy, có thể nói gần 100% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được xóa bỏ thuế nhập khẩu sau một lộ trình ngắn. Cho đến nay, đây là mức cam kết cao nhất mà một đối tác dành cho ta trong các hiệp định FTA đã được ký kết. Lợi ích này đặc biệt có ý nghĩa là một cơ hội rất lớn đối với xuất Khẩu của Việt Nam khi EU liên tục là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của ta hiện nay.

Ở chiều ngược lại, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế, tương đương 64,5% kim ngạch nhập khẩu từ EU và sau 10 năm là khoảng 99% số dòng thuế, tương đương 99,8% kim ngạch nhập khẩu từ EU. Trong đó, xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với một số nhóm mặt hàng chính của Việt Nam như sau: ô tô sau 9 đến 10 năm; linh kiện, phụ tùng ô tô tối đa 7 năm; thịt bò 3 năm, thịt lợn đông lạnh 7 năm; máy móc thiết bị tối đa 7 năm…

Với việc xóa bỏ dòng thuế nhập khẩu nhiều ngành hàng của Việt nam sẽ có lợi thế cạnh tranh lớn so với các nước trong khối ASEA vì giảm được chi phí nhập khẩu nguyên liệu sản xuất chất lượng với giá tốt nguồn gốc từ EU…

Bên cạnh đó, cho đến thời điểm hiện tại, ngoài Singapo thì Việt Nam là nước thứ 2 trong khối ASEAN đã hoàn tất đàm phán FAT với EU. Khi Hiệp đinh có hiệu lực thì tạo ra lợi thế cạnh tranh rất lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam so vơi các doanh nghiệp của các nước trong khối ASEAN về những hàng hóa tương tự từ ASEAN nhập khẩu vào thị trường EU.

Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội thì EVFTA cũng đặt các doanh nghiệp Việt Nam trước hàng loạt thách thức như việc thực thi các cam kết trong EVFTA về các vấn đề thể chế, môi trường kinh doanh và chính sách, pháp luật …Ông có thế nói rõ hơn về những thách thức mà doanh nghiệp Việt Nam có thể gặp phải…?

Một trong những thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp của chúng ta đầu tiên là các rào cản thương mại. Chúng ta đều biết, thị trường EU là một thị trường hết sức khó tính, đòi hỏi hàng hóa nhập khẩu vào thị trường này phải đáp ứng tiêu chuẩn bắt buộc của các quốc gia EU ví dụ như tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, về nhãn hiệu, môi trường… rất khắt khe mà hàng của Việt Nam khó đáp ứng được.

Hiệp định EVFTA và IPA đã được ký kết dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.

Thêm nữa, về yêu cầu quy tắc xuất xứ hàng hóa, hiện nay EU có quy định về xuất xứ hàng hóa rất chặt chẽ. Trong đó, nhiều ngành hàng EU quy định rất rõ về nguồn gốc xuất xứ của hàng hóa từ công đoạn nguyên liệu đến sản xuất. Tuy nhiên, doanh nghiệp Việt Nam hiện nay nhập khẩu rất nhiều nguyên liệu chế biến từ các nước ví dụ như từ Trung Quốc trong ngành sản xuất may mặc, giầy da hay Nigeria trong ngành sản xuất gỗ, hay một số nước thuộc ASEAN… các nước không thuộc khối này (khối EU có FTA với Việt Nam) đây là một thách thức rất lớn.

Đặc biệt đối với hàng hóa xuất khẩu của chúng ta khi xuất khẩu vào thị trường EU đứng trước nguy cơ áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại. Khi mà Hiệp định có hiệu lực, các rào cản thuế quan dần bị xóa bỏ thì các biện pháp phòng vệ thương mại như chống bán phá giá, chống trợ cấp… chắc chắn sẽ được các nước tận dụng triệt để nhằm bảo vệ ngành sản xuất nội địa.

Trong khi thực tế chứng minh trong các cuộc tranh chấp về phòng vệ thương mại của doanh Việt Nam trên trường quốc tế còn rất hạn chế. Không chỉ thế, ngay cả việc vận dụng các biện pháp phòng vệ thương mại nhằm bảo vệ chính doanh nghiệp nội địa tại thị trường trong nước cũng chưa thực sự hiệu quả. Đặc biệt, Doanh nghiệp chúng ta còn đang rất lúng túng về mặt pháp lý đối với các biện pháp phòng vệ thương mại khi theo kiện…
Sức ép cạnh tranh từ các hàng hóa nội địa của EU. Thực sự nếu so với các nước thì chất lượng sản phẩm của Việt Nam còn rất yếu. Bởi Nhiều hàng hóa của Việt Nam vẫn chưa được thị trường EU biết đến, Việt Nam chưa phải là quốc gia có hàng hóa có nguồn gốc cao…

Vậy để có thể tận dụng triệt để những cơ hội mà FTA này mang lại chúng ta cần chuẩn bị những gì, thưa Ông?

Kinh nghiệm thực thi những cam kết WTO và những FTA trước đây cho chúng ta thấy rằng, lợi ích suy đoán từ một hiệp định nó không đương nhiên trở thành hiện thực. Bởi vì, những cam kết nó không phải tự nhiêm mà phát huy những tác dụng. Chính vì vậy, để tận dụng được tối đa những cơ hội thì đòi hỏi chúng ta phải hết sức lỗ lực thực thi những cam kết này một cách nghiêm túc và xử lý các thách thức. vì tính chất của EVFTA là một FTA thế hệ mới nó đặt ra một thách thức đối với Việt Nam không chỉ trong vấn đề đàm phán mà còn làm như thế nào, thực thi như thế nào…? đó là điều kiện tiên quyết của Việt Nam để có thể đạt được những kỳ vọng mà chúng ta mong muốn.

Về phía nhà nước phải tạo điều kiện, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, bảo vệ lợi ích hợp pháp cho nhà đầu tư, đặc biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài, phải đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư. Theo tôi, hiện nay các bộ ngành đang còn hạn chế rất lớn đó là việc giảm bớt các rào cản đầu tư và những lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế mà không có năng lực cần kêu gọi đầu tư tập trung vào. Bên cạnh đó cần có chính sách xây dựng một cơ chế để lựa chọn nhà đầu tư tốt, nhà đầu tư có đúng.

Tiếp nữa là cần đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền để cộng đồng doanh nghiệp nhận thức đầy đủ những quy định, cam kết trong các Hiệp định. Nâng cao ý thức, trách nhiệm về các vấn đề môi trường, lao động và sở hữu trí tuệ. Doanh nghiệp định hướng sử dụng công nghệ sạch, đầu tư công nghệ xử lý môi trường và ý thức trong việc sử dụng đúng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong sản xuất nông nghiệp.
Và một điều quan trọng nữa là Khung pháp lý để đáp ứng các điều kiện về lao đông, môi trường, sở hữu trí tuệ…Cơ quan chức năng tiếp tục rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý để đáp ứng những điều kiện về môi trường, lao động và sở hữu trí tuệ phù hợp với chuẩn mực quốc tế, nhất là liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu.

Còn về phía các doanh nghiệp, để tận dụng tốt những cơ hội mà FTA mang lại , theo ông họ cần lưu tâm những vấn đề gì… ?

Về phía các doanh nghiệp Việt Nam để tận dụng tốt những cơ hội mà FTA mang lại cần chủ động nghiên cứu, cập nhập thông tin về cơ hội thị trường của FTA này, đặc biệt là những thông tin về ưu đãi thuế để xây dựng kế hoạch kinh doanh trung và dài hạn.

Doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ và cập nhật chính sách mặt hàng, tìm hiểu về rào cản về kỹ thuật, xuất xứ hàng hóa, thủ tục hải quan, chỉ dẫn địa lý, pháp luật thương mại, kinh tế của từng thành viên EU… để tránh những rủi ro trong quá trình giao thương hàng hóa.

Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn … của EU phải tích cực đổi mới, cải thiện công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, nhân lực, trình độ quản lý, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Đặc biệt, đối vơi các doanh nghiệp tư nhân những doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải có sự liên kết hợp tác chặt chẽ với nhau, cùng nhau chống lại sức ép cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài ngay tại thị trường trong nước cũng như thị trường xuất khẩu…

Làm được những điều này, tôi nghĩ nhất định chúng ta sẽ tận đụng được tối đa những cơ hội mà FTA này mang lại.

Trân trọng cảm ơn ông!

Đinh Chiến (ghi)

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin