Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng Nhân dân: Yêu cầu đổi mới phương thức trong giai đoạn mới

(Pháp lý). Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân là phương thức hiến định quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm trách nhiệm giải trình và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân.

Tóm tắt: Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2025 đã xác định bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng là nguyên tắc đầu tiên, đồng thời yêu cầu giám sát phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, khách quan, công khai, minh bạch và hiệu quả. Từ mối quan hệ này, bài viết làm rõ nội hàm của sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát; đánh giá những kết quả, bất cập và yêu cầu mới sau Đại hội XIV; đồng thời đề xuất mô hình đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng định hướng chiến lược, hoàn thiện thể chế, xây dựng đội ngũ, bảo đảm điều kiện và kiểm tra trách nhiệm thực hiện, nhưng không làm thay, không tiền định kết luận và không can thiệp trái pháp luật vào từng hoạt động giám sát cụ thể. Bài viết kiến nghị thiết lập cơ chế “giám sát đến cùng”, hệ thống chỉ số đánh giá tác động, nền tảng dữ liệu giám sát có kiểm soát và cơ chế tham gia thực chất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chuyên gia, báo chí và Nhân dân.

Từ khóa: sự lãnh đạo của Đảng; giám sát của Quốc hội; giám sát của Hội đồng nhân dân; kiểm soát quyền lực; trách nhiệm giải trình; giám sát số.

STRENGTHENING THE PARTY’S LEADERSHIP OVER OVERSIGHT BY THE NATIONAL ASSEMBLY AND PEOPLE’S COUNCILS: RENEWING LEADERSHIP METHODS IN THE NEW DEVELOPMENT STAGE

Abstract: Oversight by the National Assembly and People’s Councils is a constitutionally significant mechanism for controlling state power, ensuring accountability and protecting the lawful rights and interests of the people. The 2025 Law on Oversight Activities of the National Assembly and People’s Councils identifies the comprehensive and direct leadership of the Communist Party of Viet Nam as its first governing principle, while simultaneously requiring oversight to comply with the Constitution and law and to remain objective, public, transparent and effective. Against this background, the article clarifies the content of Party leadership over parliamentary and local representative oversight; assesses achievements, limitations and emerging requirements after the Fourteenth National Party Congress; and proposes a renewed leadership model based on strategic orientation, institutional development, personnel, enabling conditions and accountability review. Such leadership must neither substitute for constitutional oversight bodies nor predetermine findings or unlawfully intervene in particular oversight proceedings. The article further recommends a “follow-through oversight” mechanism, impact indicators, accountable digital oversight infrastructure and meaningful participation by the Viet Nam Fatherland Front, experts, the press and citizens.

Keywords: Party leadership; National Assembly oversight; People’s Council oversight; control of state power; accountability; digital oversight.

a1-1786615820.jpg

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XVI

        1. Đặt vấn đề

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao; Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và việc thực hiện nghị quyết tại địa phương. Vì vậy, chất lượng giám sát không chỉ phản ánh năng lực của cơ quan dân cử mà còn là thước đo mức độ quyền lực nhà nước được đặt dưới trách nhiệm giải trình và sự kiểm soát dân chủ.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, kiểm soát quyền lực và xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Nghị quyết số 27-NQ/TW xác định xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị; trong đó, quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Bối cảnh này đặt ra yêu cầu đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát theo hướng vừa bảo đảm định hướng chính trị thống nhất, vừa phát huy đầy đủ thẩm quyền, trách nhiệm và tính khách quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, đã tạo bước chuyển quan trọng khi quy định đồng thời các nguyên tắc: bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả; giám sát toàn diện nhưng có trọng tâm, trọng điểm; gắn giám sát với hoàn thiện chính sách, pháp luật và theo dõi việc thực hiện kiến nghị. Vấn đề khoa học trung tâm vì thế không phải là có hay không sự lãnh đạo của Đảng, mà là xác định phương thức lãnh đạo nào giúp giám sát mạnh hơn, thực chất hơn và hợp hiến hơn, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ bao biện, làm thay hoặc làm giảm trách nhiệm cá nhân của đại biểu và chủ thể giám sát.

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích quy phạm, phân tích chính sách và hệ thống hóa để trả lời ba câu hỏi: (i) nội hàm của sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát là gì; (ii) những vấn đề nào đang làm giảm hiệu quả giám sát; và (iii) cần đổi mới phương thức lãnh đạo, thể chế và điều kiện bảo đảm như thế nào trong giai đoạn mới. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và giám sát của Hội đồng nhân dân, các chủ thể thuộc Hội đồng nhân dân; không đồng nhất hoạt động này với kiểm tra, giám sát và kỷ luật trong Đảng.

        2. Cơ sở lý luận và pháp lý của sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát

       2.1. Giám sát của cơ quan dân cử là phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước

Giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân có bản chất pháp lý khác với thanh tra, kiểm toán, kiểm sát và kiểm tra, giám sát trong Đảng. Chủ thể giám sát là các cơ quan dân cử và đại biểu; đối tượng giám sát là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực thi quyền lực công; mục đích là đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp, hiệu quả, trách nhiệm và tác động của chính sách. Kết quả giám sát có thể dẫn đến nghị quyết, kết luận, kiến nghị, yêu cầu giải trình, xem xét trách nhiệm hoặc hoàn thiện pháp luật.

Giám sát hiện đại không dừng ở phát hiện sai phạm. Nó phải trả lời đồng thời bốn câu hỏi: chính sách có đúng mục tiêu không; nguồn lực có được sử dụng hiệu quả không; quyền và lợi ích của người dân có được bảo đảm không; và kiến nghị sau giám sát có tạo ra thay đổi có thể kiểm chứng không. Cách tiếp cận này chuyển trọng tâm từ “đếm số cuộc giám sát” sang đánh giá tác động, từ giám sát theo báo cáo sang giám sát dựa trên chứng cứ và từ kết luận một lần sang theo dõi đến khi vấn đề được xử lý.[1]

         2.2. Nội hàm của sự lãnh đạo của Đảng và yêu cầu không làm thay cơ quan dân cử

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước được thực hiện bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương; bằng công tác tổ chức, cán bộ; bằng tuyên truyền, thuyết phục, nêu gương; bằng kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương của Đảng; và thông qua tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đối với hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, nội hàm này cần được cụ thể hóa thành năm phương thức: định hướng những vấn đề chiến lược cần được kiểm soát; lãnh đạo việc hoàn thiện thể chế giám sát; xây dựng đội ngũ đại biểu và bộ máy tham mưu; bảo đảm nguồn lực và dữ liệu; kiểm tra trách nhiệm thực hiện chủ trương, nghị quyết, kết luận giám sát.

Tuy nhiên, tăng cường sự lãnh đạo không đồng nghĩa tăng cường can thiệp vào từng vụ việc. Nếu cấp ủy lựa chọn trước kết quả, quyết định nội dung kết luận hoặc thay cơ quan dân cử xử lý chứng cứ, giám sát sẽ mất tính khách quan, làm mờ trách nhiệm pháp lý của chủ thể giám sát và có thể tạo xung đột với nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Do đó, ranh giới cần được khẳng định: Đảng lãnh đạo về định hướng, tổ chức và điều kiện; Quốc hội, Hội đồng nhân dân quyết định chương trình, tiến hành thủ tục, đánh giá chứng cứ và chịu trách nhiệm về nghị quyết, kết luận, kiến nghị theo thẩm quyền.

         2.3. Khung pháp lý mới và yêu cầu thể chế hóa phương thức lãnh đạo

Luật năm 2025 đã bổ sung nhiều cơ chế có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả lãnh đạo và tổ chức giám sát. Một là, chương trình, kế hoạch, báo cáo, kết luận, kiến nghị và kết quả thực hiện phải được công khai, trừ trường hợp pháp luật quy định khác. Hai là, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chuyên gia có thể được mời tham gia. Ba là, chủ thể giám sát có quyền yêu cầu thông tin trong thời hạn xác định, đồng thời phải chịu trách nhiệm về kết luận và xem xét lại khi đối tượng giám sát có đề nghị. Bốn là, nghị quyết giám sát có giá trị pháp lý bắt buộc; kết luận, kiến nghị phải được thực hiện nghiêm chỉnh và thường xuyên theo dõi, đôn đốc. Năm là, Nhà nước bảo đảm cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số phục vụ giám sát.[2]

Nghị quyết số 113/2025/UBTVQH15 và Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 đã cụ thể hóa trình tự, trách nhiệm đối với giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Đáng chú ý, chương trình giám sát được xây dựng không chỉ từ đường lối, chủ trương của Đảng mà còn từ pháp luật, kiến nghị cử tri, đề xuất của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tình hình thực tế. Đây là cơ sở pháp lý để chuyển hóa sự lãnh đạo của Đảng thành định hướng mở, có khả năng tiếp nhận thông tin xã hội, thay vì áp đặt một chiều.[3]

         3. Thực trạng và những vấn đề đặt ra

         3.1. Những kết quả chủ yếu

Thứ nhất, nhận thức về giám sát như một phương thức kiểm soát quyền lực đã được nâng lên. Các chuyên đề giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng nhân dân ngày càng hướng tới những vấn đề có phạm vi rộng, liên quan trực tiếp đến thực thi chính sách và đời sống Nhân dân. Hoạt động chất vấn, giải trình, xem xét báo cáo và giám sát việc giải quyết kiến nghị cử tri có nhiều đổi mới theo hướng công khai và đối thoại.

Thứ hai, sự lãnh đạo của Đảng đã tạo định hướng chính trị cho việc giám sát các nhiệm vụ trọng tâm như xây dựng Nhà nước pháp quyền, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế tư nhân. Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt ra các yêu cầu cải cách và phát triển kinh tế cần được lượng hóa, giám sát tiến độ và đánh giá tác động trong quá trình thực hiện.[4]

Thứ ba, pháp luật mới đã tăng cường tính ràng buộc của khâu sau giám sát. Việc xác định giá trị bắt buộc của nghị quyết giám sát, nghĩa vụ giải trình và cơ chế theo dõi thường xuyên tạo tiền đề pháp lý cho yêu cầu “giám sát đến cùng”, hạn chế tình trạng kiến nghị được tiếp thu về hình thức nhưng chậm chuyển hóa thành hành động.

         3.2. Hạn chế và nguyên nhân

Một là, nội hàm “sự lãnh đạo trực tiếp” chưa được diễn giải thống nhất trong thực tiễn. Ở một số nơi, có thể xuất hiện tâm lý chờ chỉ đạo cụ thể hoặc tránh lựa chọn vấn đề liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của cơ quan, người đứng đầu. Điều này làm giảm tính chủ động của đại biểu, trong khi Hiến pháp và pháp luật giao chủ thể giám sát trách nhiệm tự mình đánh giá và chịu trách nhiệm về kết luận.

Hai là, vẫn còn khoảng cách giữa chương trình giám sát và rủi ro thực tế. Việc lựa chọn chuyên đề đôi khi dựa nhiều vào kế hoạch hành chính, ít khai thác dữ liệu phản ánh bất thường, phản ánh của cử tri, báo chí, kiểm toán, thanh tra và nghiên cứu độc lập. Một số cuộc giám sát dàn trải, câu hỏi chưa đủ sắc, kết luận còn chung và thiếu mốc thời gian, chủ thể chịu trách nhiệm, nguồn lực thực hiện.

Ba là, phối hợp giữa giám sát của cơ quan dân cử với kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán và giám sát xã hội chưa thật sự đồng bộ. Thiếu chia sẻ dữ liệu có thể dẫn đến trùng lặp; ngược lại, phối hợp không có ranh giới rõ có thể làm lẫn lộn chức năng và trách nhiệm pháp lý của từng thiết chế.

Bốn là, năng lực giám sát không đồng đều, nhất là ở cấp địa phương. Đại biểu hoạt động kiêm nhiệm, thiếu chuyên gia và bộ máy tham mưu mỏng khiến việc phân tích ngân sách, đầu tư công, công nghệ, môi trường, dữ liệu và các mô hình kinh doanh mới gặp khó khăn. Chất lượng giám sát vì thế phụ thuộc nhiều vào báo cáo của chính đối tượng chịu sự giám sát.

Năm là, việc công khai và theo dõi sau giám sát chưa được chuẩn hóa thành hệ thống dữ liệu có thể tìm kiếm, so sánh và cảnh báo. Công khai dưới dạng tệp rời không đồng nghĩa với minh bạch có thể sử dụng. Chưa có bộ chỉ số chung để trả lời kiến nghị nào đã hoàn thành, hoàn thành ở mức nào, tác động ra sao và trách nhiệm chậm thực hiện thuộc về ai.

Sáu là, chuyển đổi số đang được nhấn mạnh nhưng chưa gắn đầy đủ với quản trị dữ liệu. Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo để tổng hợp tài liệu, nhận diện bất thường hoặc đánh giá tiến độ có thể hỗ trợ giám sát, nhưng cũng có nguy cơ tạo kết luận thiếu căn cứ, thiên lệch hoặc làm lộ thông tin nếu thiếu dữ liệu chuẩn, kiểm soát con người và quy định trách nhiệm.

        3.3. Những yêu cầu mới trong giai đoạn sau Đại hội XIV

Giai đoạn mới đặt hoạt động giám sát trước ba chuyển dịch lớn. Thứ nhất, phân cấp, phân quyền mạnh hơn đòi hỏi giám sát quyền lực đồng thời ở trung ương và địa phương; không để phân quyền trở thành khoảng trống trách nhiệm. Thứ hai, thể chế phát triển phải được đánh giá theo kết quả, nghĩa là giám sát không chỉ xem cơ quan đã ban hành bao nhiêu văn bản mà phải đo được chi phí tuân thủ, mức độ tháo gỡ điểm nghẽn và tác động đến người dân, doanh nghiệp. Thứ ba, chuyển đổi số đòi hỏi giám sát gần thời gian thực, liên thông dữ liệu và cảnh báo sớm, thay vì chỉ dựa vào báo cáo định kỳ.

        4. Quan điểm và mô hình đổi mới phương thức lãnh đạo

        4.1. Các quan điểm định hướng

Thứ nhất, sự lãnh đạo của Đảng phải làm tăng, không làm giảm, trách nhiệm hiến định và tính chủ động của cơ quan dân cử. Hiệu quả lãnh đạo thể hiện ở việc Quốc hội và Hội đồng nhân dân giám sát đúng vấn đề, đúng pháp luật, có chứng cứ, dám làm rõ trách nhiệm và tạo ra thay đổi thực tế.

Thứ hai, lãnh đạo phải dựa trên nguyên tắc pháp quyền. Mọi định hướng được chuyển hóa bằng quy trình, thẩm quyền và trách nhiệm rõ; tổ chức đảng và đảng viên trong cơ quan dân cử hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Không sử dụng chỉ đạo không chính thức để thay đổi nội dung, chứng cứ hoặc kết luận giám sát.

Thứ ba, giám sát phải lấy Nhân dân làm trung tâm. Lựa chọn vấn đề, thu thập thông tin và đánh giá kết quả phải phản ánh quyền, lợi ích, kiến nghị và mức độ hài lòng của người dân, nhưng không đồng nhất sự hài lòng ngắn hạn với tính đúng đắn của pháp luật hoặc lợi ích công dài hạn.

Thứ tư, phải kết hợp kiểm soát quyền lực với kiến tạo phát triển. Giám sát không chỉ phát hiện trách nhiệm mà còn chỉ ra nguyên nhân thể chế, phương án sửa đổi và điều kiện thực hiện. Tuy nhiên, kiến tạo không có nghĩa là nới lỏng yêu cầu về hợp pháp, liêm chính và trách nhiệm giải trình.

Thứ năm, chuyển đổi số phải đi cùng kiểm soát dữ liệu và thuật toán. Công nghệ chỉ là công cụ hỗ trợ; quyết định, kết luận và kiến nghị giám sát phải do chủ thể có thẩm quyền xem xét, chịu trách nhiệm và có khả năng giải thích.

      4.2. Mô hình năm trụ cột

      - Trụ cột 1 – Định hướng chiến lược có trọng tâm: xác định các rủi ro quyền lực, điểm nghẽn thể chế, chính sách có tác động lớn và cam kết cần được giám sát; không xác định trước kết quả.

     - Trụ cột 2 – Thể chế hóa đầy đủ: bảo đảm kết luận, kiến nghị có cơ sở pháp lý, thời hạn, trách nhiệm, chỉ số kết quả và cơ chế xử lý khi không thực hiện.

     - Trụ cột 3 – Cán bộ và liêm chính: lựa chọn, đào tạo, bảo vệ bản lĩnh của đại biểu; kiểm soát xung đột lợi ích và đánh giá trách nhiệm người đứng đầu.

      - Trụ cột 4 – Dữ liệu, chuyên gia và sự tham gia xã hội: xây dựng hạ tầng dữ liệu chung; mời Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, chuyên gia, báo chí và người dân tham gia theo cơ chế minh bạch.

     - Trụ cột 5 – Theo dõi đến cùng và học hỏi chính sách: công khai tiến độ thực hiện; tái giám sát khi cần thiết; tổng kết để sửa đổi pháp luật, cải thiện phương pháp và quy trách nhiệm.

      5. Giải pháp và kiến nghị

     - Đối với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cấp ủy: Một là, tiếp tục cụ thể hóa quan điểm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan dân cử, trong đó xác định rõ những việc cấp ủy lãnh đạo, những việc cơ quan dân cử quyết định theo thẩm quyền và trách nhiệm giải trình của từng chủ thể. Quy chế làm việc của đảng đoàn, đảng ủy cơ quan dân cử cần ngăn ngừa cả hai xu hướng: buông lỏng lãnh đạo và bao biện, làm thay. Hai là, đưa chất lượng giám sát và mức độ thực hiện kiến nghị sau giám sát vào tiêu chí đánh giá tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo và người đứng đầu cơ quan chịu sự giám sát. Việc đánh giá phải dựa trên kết quả có thể kiểm chứng, không chỉ dựa trên báo cáo “đã tiếp thu”. Ba là, lãnh đạo xây dựng cơ chế bảo vệ đại biểu và cán bộ tham mưu khi thực hiện đúng thẩm quyền, phản ánh khách quan vấn đề phức tạp; đồng thời kiểm soát xung đột lợi ích, vận động không minh bạch và hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động giám sát.

     - Đối với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng nhân dân: Một là, thực thi đầy đủ Luật năm 2025 và các nghị quyết hướng dẫn; chuẩn hóa quy trình lựa chọn chuyên đề trên cơ sở rủi ro, kiến nghị cử tri, dữ liệu thanh tra, kiểm toán, báo chí và đánh giá chính sách. Mỗi đề xuất giám sát cần nêu rõ câu hỏi, phạm vi, giả thuyết rủi ro, dữ liệu cần thu thập và kết quả dự kiến. Hai là, chuẩn hóa kết luận, kiến nghị theo cấu trúc: vấn đề – chứng cứ – căn cứ pháp lý – nguyên nhân – chủ thể chịu trách nhiệm – hành động – thời hạn – chỉ số hoàn thành. Hạn chế kiến nghị chung như “tăng cường”, “đẩy mạnh” mà không xác định sản phẩm và trách nhiệm. Ba là, tổ chức cơ chế tái giám sát bắt buộc đối với kiến nghị quá hạn, vấn đề có nguy cơ cao hoặc đối tượng không giải trình thỏa đáng. Công khai bảng theo dõi trạng thái kiến nghị: chưa thực hiện, đang thực hiện, hoàn thành một phần, hoàn thành, không còn phù hợp; mọi thay đổi trạng thái phải có chứng cứ. Bốn là, tăng cường năng lực độc lập của cơ quan tham mưu, thư ký và chuyên gia. Hình thành nhóm phân tích chính sách, ngân sách, dữ liệu và pháp lý dùng chung; xây dựng danh mục chuyên gia có tiêu chí lựa chọn, công khai xung đột lợi ích và trách nhiệm bảo mật.

      - Hoàn thiện cơ chế phối hợp nhưng không hòa lẫn chức năng: Cần xây dựng giao thức chia sẻ thông tin giữa Quốc hội, Hội đồng nhân dân với cơ quan kiểm tra của Đảng, thanh tra, kiểm toán, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cơ quan tư pháp. Giao thức phải quy định mục đích, phạm vi dữ liệu, đầu mối, thời hạn, bảo mật và cách xử lý khi phát hiện dấu hiệu vi phạm. Mỗi cơ quan tiếp tục ban hành kết luận theo thẩm quyền của mình; không sử dụng kết luận của một thiết chế để tự động thay thế đánh giá của thiết chế khác.

      - Phát huy sự tham gia của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, báo chí và chuyên gia: Thiết lập cổng đề xuất chuyên đề giám sát, công khai tiêu chí lựa chọn và phản hồi lý do tiếp thu hoặc không tiếp thu. Đối với chuyên đề có tác động xã hội lớn, cần tổ chức tham vấn công khai, tiếp nhận dữ liệu từ hiệp hội, viện nghiên cứu, cộng đồng chịu tác động và báo chí. Người cung cấp thông tin thiện chí phải được bảo vệ theo pháp luật; thông tin chưa kiểm chứng không được biến thành kết luận.

      - Xây dựng giám sát số có trách nhiệm: Xây dựng cơ sở dữ liệu giám sát thống nhất gồm chương trình, câu hỏi, tài liệu, kết luận, kiến nghị, tiến độ và bằng chứng thực hiện; sử dụng mã định danh để liên kết một kiến nghị qua nhiều kỳ. Hệ thống phải có phân quyền, nhật ký truy cập, tiêu chuẩn dữ liệu và cơ chế sửa sai. Dữ liệu công khai cần ở định dạng có thể tìm kiếm và tải xuống, trừ nội dung thuộc bí mật nhà nước hoặc hạn chế tiếp cận theo pháp luật. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ tổng hợp văn bản, phát hiện mâu thuẫn, so sánh cam kết với kết quả và cảnh báo bất thường. Tuy nhiên, không sử dụng AI để tự động kết luận trách nhiệm hoặc xếp hạng cá nhân mà không có kiểm tra của con người. Mỗi công cụ phải được kiểm thử độ chính xác, thiên lệch, an ninh; tài liệu do AI tạo phải được xác minh nguồn và ghi nhận người chịu trách nhiệm cuối cùng.8

     - Phát triển đội ngũ và điều kiện bảo đảm: Thực hiện chương trình bồi dưỡng theo vị trí về phân tích chính sách, ngân sách, đầu tư công, dữ liệu, công nghệ, môi trường, quyền con người và kỹ năng chất vấn. Đối với Hội đồng nhân dân cấp xã trong mô hình chính quyền địa phương mới, cần có cơ chế hỗ trợ chuyên môn từ cấp tỉnh, tài liệu mẫu, hệ thống dữ liệu và nhóm chuyên gia dùng chung. Việc tăng nguồn lực phải đi cùng đánh giá hiệu quả và tránh hình thành thủ tục hành chính mới gây quá tải cho cơ quan chịu sự giám sát.

       6. Kết luận

       Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân là yêu cầu khách quan trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhưng nội dung cốt lõi của “tăng cường” không phải là mở rộng sự can thiệp vào từng hoạt động cụ thể, mà là nâng cao chất lượng định hướng, thể chế, cán bộ, điều kiện và trách nhiệm thực hiện để cơ quan dân cử phát huy đầy đủ thẩm quyền hiến định.

      Luật Hoạt động giám sát năm 2025 tạo nền tảng mới với các nguyên tắc về lãnh đạo của Đảng, tuân thủ pháp luật, khách quan, công khai, hiệu quả, trách nhiệm giải trình, theo dõi đến cùng và chuyển đổi số. Nhiệm vụ hiện nay là biến các nguyên tắc đó thành phương thức vận hành có ranh giới rõ: Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay; cơ quan dân cử chủ động nhưng không tách rời định hướng chính trị và trách nhiệm trước Nhân dân; công nghệ hỗ trợ nhưng không thay thế phán đoán và trách nhiệm của con người. Khi kết quả giám sát được đo bằng thay đổi thực tế, quyền lực nhà nước sẽ được kiểm soát tốt hơn và niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước được củng cố bền vững.

----------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

2. Bộ Chính trị. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

3. Bộ Chính trị. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

4. Bộ Chính trị. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, 2026.

6. Quốc hội. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

7. Quốc hội. Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân số 121/2025/QH15 ngày 10/12/2025.

8. Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghị quyết số 113/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội.

9. Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân.

10. Inter-Parliamentary Union. Tools for Parliamentary Oversight: A Comparative Study of 88 National Parliaments. Geneva: IPU, 2007.


[1] Inter-Parliamentary Union, Tools for Parliamentary Oversight: A Comparative Study of 88 National Parliaments (Geneva: IPU, 2007), 7–12.

[2] Quốc hội, Luật số 121/2025/QH15, các điều 8, 9, 10, 11, 40, 41, 42 và 43.

[3] Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Nghị quyết số 113/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội, Điều 3 và Điều 11; Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 ngày 24/12/2025 về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân.

[4] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.

GS.TS. Phan Trung Lý (nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội)

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin