
Quang cảnh Phiên thảo luận
Theo đại biểu Phạm Trọng Nhân, Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh, hơn nửa thế kỷ qua, nói đến ngăn chặn việc phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, tức là câu chuyện của biên giới, cảng biển, cửa khẩu - nơi có thể chặn một container, giữ một chuyến tàu. Nhưng thứ nguy hiểm nhất của thời đại ngày nay không đi qua bất kỳ cửa khẩu nào, mà có thể tồn tại dưới dạng mã nguồn, trọng số mô hình, thuật toán truyền qua một đường truyền internet và có khả năng tự thiết kế ra những vật liệu, hợp chất mà một phòng thí nghiệm từng phải mất nhiều năm mới làm được. Đó cũng là nỗi lo của chính những người tạo ra chúng. Vì vậy, đại biểu thống nhất cao với sự cần thiết ban hành Luật này; cho rằng đó là bước thể chế hóa đúng đắn yêu cầu bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và thực hiện nghĩa vụ quốc tế theo Nghị quyết 1540 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các chuẩn mực của FATF.

Đại biểu Phạm Trọng Nhân, Đoàn ĐBQH Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu

Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo và cơ quan thẩm tra
Biên giới của nguy cơ hôm nay không chỉ là một dòng mã lệnh
Đại biểu Phạm Trọng Nhân đánh giá cao việc dự thảo chuyển từ quản lý “phân tán” sang quản lý “rủi ro” và việc khoản 7 Điều 3 đã coi việc chuyển giao công nghệ mã nguồn nhằm phục vụ vũ khí hủy diệt hàng loạt là một hình thức phổ biến. Tuy nhiên, trong quy định về kiểm soát cụ thể, dự thảo lại dừng ở hàng hóa lưỡng dụng, trong khi biên giới của nguy cơ hôm nay không chỉ là một dòng mã lệnh. Đại biểu đặt câu hỏi, ai kiểm soát được năng lực đó? Ai chịu trách nhiệm khi nguy cơ không còn đi qua một cửa khẩu nào? Việc chủ động tới đâu nếu chỉ nhận diện rủi ro sau khi năng lực nguy hiểm đã hình thành rồi nhân bản vô tính và lan truyền? Từ 3 câu hỏi trên, đại biểu Phạm Trọng Nhân có 3 góp ý đối với những khoảng trống pháp lý này.

Các đại biểu Quốc hội tại Phiên thảo luận
Thứ nhất, về Điều 3 và Điều 12. Đại biểu Phạm Trọng Nhân cho rằng, Điều 3 đã định nghĩa hàng hóa lưỡng dụng nhưng chưa có công nghệ lưỡng dụng.
“Tôi đề nghị bổ sung khái niệm này, xác định mô hình AI vượt ngưỡng năng lực nguy hiểm là một dạng công nghệ lưỡng dụng đặc biệt cần đưa vào diện kiểm soát xuất khẩu, như cách thế giới từng kiểm soát vật liệu phân hạch, đồng thời mở rộng danh mục kiểm soát tại Điều 12 để bao quát cả nhóm công nghệ này. Vấn đề không phải là kiểm soát AI nói chung, chỉ những mô hình có khả năng làm gia tăng đáng kể nguy cơ phổ biến mới cần cơ chế quản lý tương xứng”, đại biểu kiến nghị.
Thứ hai, Điều 10 và Điều 11. Theo đại biểu, Báo cáo thẩm tra đã đề nghị cơ quan soạn thảo giải trình rõ hơn về nhận diện rủi ro từ trí tuệ nhân tạo. Từ phân tích cụ thể, đại biểu đề nghị bổ sung tại Điều 11 nhóm các tiêu chí năng lực tính toán và mức độ tự chủ của hệ thống, khả năng tự động thiết kế vật liệu, hóa chất, các tác nhân sinh học và khả năng vượt qua cơ chế an toàn của hệ thống. Khoản 2 Điều 10 đã cho phép việc đánh giá rủi ro quốc gia được thực hiện đột xuất khi phát hiện nguy cơ mới, nhưng đề nghị xác định rõ một mô hình AI vượt ngưỡng năng lực là căn cứ đương nhiên để kích hoạt cơ chế đó.

Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Đỗ Văn Chiến (bên phải) và Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh điều hành Phiên thảo luận
Thứ ba, về Điều 28, 29 và 30. Đại biểu đề nghị nâng cao cảnh báo sớm từ một “cơ chế cung cấp thông tin” thành một “năng lực phân tích rủi ro quốc gia”. Đề nghị Điều 30 quy định việc ứng dụng AI và phân tích dữ liệu lớn để phát hiện sớm dấu hiệu bất thường trong chuyển giao công nghệ, nhất là mô hình AI có nguy cơ cao; đồng thời thiết lập cơ chế kết nối liên ngành, bảo vệ bí mật nhà nước và dữ liệu cá nhân theo đúng nguyên tắc tại Điều 28. “Luật phải biến sự cảnh giác đơn lẻ, ngẫu nhiên đó thành một năng lực cảnh báo sớm, có tổ chức, có phân tích và có trách nhiệm giải trình”, đại biểu Phạm Trọng Nhân kiến nghị.
Đại biểu nhấn mạnh, trong thế kỷ XX, không phổ biến chủ yếu là kiểm soát vật liệu, thiết bị, hàng hóa. Nhưng chỉ trong một thời gian rất ngắn gần đây, khi AI đã làm thay đổi căn bản cách tiếp cận quản trị rủi ro, không phổ biến không chỉ là kiểm soát những gì hữu hình mà còn phải kiểm soát sự lan truyền của những năng lực công nghệ có thể làm gia tăng nguy cơ tạo ra chính những vật liệu, thiết bị, hàng hóa đó.

Các đại biểu Quốc hội tại Phiên thảo luận
Về vấn đề này, đại biểu Nguyễn Văn Lịch, Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn đánh giá cao, dự án Luật đã thể hiện rõ tư duy lấy phòng ngừa là trọng tâm, phù hợp với yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Những năm gần đây, môi trường an ninh quốc tế và khu vực có nhiều biến động, khó dự báo, sự phát triển rất nhanh của khoa học, công nghệ, đặc biệt là công nghệ lưỡng dụng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, dữ liệu số và thương mại xuyên biên giới đang tạo ra nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng làm xuất hiện các phương thức phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt ngày càng tinh vi.
“Nếu trước đây việc kiểm soát chủ yếu tập trung vào vật liệu, thiết bị hoặc vũ khí thì hiện nay nguy cơ đó có thể phát sinh từ các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, dịch vụ tài chính, vận tải logistics hoặc chuỗi cung ứng quốc tế. Điều đó đòi hỏi tư duy quản lý phải chuyển mạnh từ xử lý khi vi phạm đã xảy ra sang chủ động nhận diện nguy cơ, đánh giá rủi ro, cảnh báo sớm và ngăn chặn ngay từ đầu”, đại biểu phân tích.

Đại biểu Nguyễn Văn Lịch, Đoàn ĐBQH tỉnh Lạng Sơn phát biểu
Đại biểu Nguyễn Văn Lịch cũng cho rằng, đây cũng chính là cụ thể hóa quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh và chủ động hội nhập quốc tế.

Đại biểu Tô Thành Quyết, Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình phát biểu
Trong khi đó, đại biểu Tô Thành Quyết, Đoàn ĐBQH tỉnh Ninh Bình nhận định, đây là luật quan trọng vừa đáp ứng được yêu cầu quản lý xã hội, phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, vừa đáp ứng được nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi đất nước chưa nguy trong điều kiện thế giới, khu vực diễn biến nhanh và khó định đoán, các vấn đề an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng gia tăng và phức tạp. Trong lĩnh vực phòng, chống vũ khí hủy diệt hàng loạt, có những tình huống không thể xử lý theo quy định quản lý thông thường, nếu chậm trễ không chỉ làm giảm hiệu quả của quản lý mà còn mất thời cơ ngăn chặn, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho quốc gia.
“Vì vậy, dự thảo Luật thiết lập cơ chế phản ứng khẩn cấp là cần thiết, bảo đảm cơ quan quản lý nhà nước có đủ cơ sở pháp lý để kịp thời can thiệp, ngăn chặn, xử lý từ thời điểm nguy cơ được phát hiện”, đại biểu Tô Thành Quyết nêu rõ./.

Phó Chủ tịch Quốc hội, Thượng tướng Nguyễn Doãn Anh điều hành Phiên thảo luận