
TS.Trần Công Phàn – Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Chủ tịch thường trực Hội Luật gia Việt Nam
Phóng viên: Thưa đồng chí Trần Công Phàn, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, các Nghị quyết số 27-NQ/TW, 57-NQ/TW, 59-NQ/TW và 66-NQ/TW của Bộ Chính trị đã có những định hướng lớn về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong tình hình mới, đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật, phát triển khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế. Ông có thể cho biết những thuận lợi, thời cơ và thách thức đặt ra thế nào đối với Hội Luật gia Việt Nam trong công tác tham gia xây dựng và hoàn thiện thể chế trong giai đoạn phát triển mới?
Đồng chí Trần Công Phàn: Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, các Nghị quyết số 27-NQ/TW, 57-NQ/TW, 59-NQ/TW và 66-NQ/TW của Bộ Chính trị đã mở ra một không gian phát triển rất rộng lớn cho công tác pháp luật nói chung và Hội Luật gia Việt Nam nói riêng. Đây vừa là thuận lợi, thời cơ, vừa đặt ra những yêu cầu rất cao đối với Hội, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học pháp lý và tham gia xây dựng, hoàn thiện thể chế.
Về thuận lợi và thời cơ, trước hết phải thấy rằng công tác xây dựng và thi hành pháp luật đang được Đảng xác định là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển đất nước. Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt ra yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết số 59-NQ/TW đặt ra yêu cầu hội nhập quốc tế trong tình hình mới; còn Nghị quyết số 66-NQ/TW xác định yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Những định hướng này tạo cơ sở chính trị rất quan trọng để Hội Luật gia Việt Nam phát huy đầy đủ hơn năng lực, trí tuệ và thế mạnh nghề nghiệp của đội ngũ luật gia đóng góp cho đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đặc biệt, Nghị quyết số 66-NQ/TW đặt công tác xây dựng và thi hành pháp luật trong mối quan hệ trực tiếp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực và tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển. Đây chính là không gian để Hội Luật gia Việt Nam chuyển mạnh từ cách thức tham gia mang tính phản biện, góp ý đối với từng dự thảo văn bản sang chủ động nghiên cứu, phát hiện vấn đề, tổng kết thực tiễn, đề xuất chính sách và tham gia xây dựng pháp luật ngay từ sớm, từ xa.
Thực tiễn thời gian qua cho thấy Hội đã có nền tảng khá thuận lợi để thực hiện sự chuyển đổi này. Chỉ tính riêng trong giai đoạn 2025-2026, Trung ương Hội đã tham gia 17 ban soạn thảo, tổ soạn thảo, tổ biên tập, tổ giúp việc các dự án luật, pháp lệnh, nghị định, đề án quan trọng; tổ chức nghiên cứu, hội thảo, tọa đàm và tham gia góp ý đối với hơn 80 dự thảo văn bản, đề án, chương trình lớn ở Trung ương và đang tham gia vàò quá trình rà soát một khối lượng văn bản lớn (theo chương trình rà soát các văn bản pháp luật của Quốc hội, Chính phủ.
Trong giai đoạn 2025–2026, Hội Luật gia Việt Nam đã tích cực triển khai các nhiệm vụ rà soát, xây dựng và hoàn thiện pháp luật theo chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan có thẩm quyền. Trung ương Hội là thành viên Ban Chỉ đạo Tổng rà soát văn bản quy phạm pháp luật; tham gia 17 Ban soạn thảo, Tổ soạn thảo, Tổ biên tập, Tổ giúp việc các dự án luật, pháp lệnh, nghị định, đề án quan trọng và văn bản quy phạm pháp luật khác; tổ chức nghiên cứu, hội thảo, tọa đàm và tham gia góp ý hơn 80 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, đề án, chương trình lớn ở Trung ương. Các cấp Hội đã tổ chức 2.058 hội nghị, hội thảo, tọa đàm và tham gia hơn 20.400 lượt ý kiến vào các dự thảo văn bản của bộ, ngành, địa phương.
Thực hiện Kế hoạch số 149/KH-MTTW-BTT ngày 20/4/2026 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Hướng dẫn số 06/HD-BCĐ ngày 22/4/2026 của Ban Chỉ đạo về tổng rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, Hội Luật gia Việt Nam đã ban hành Kế hoạch số 185/KH-HLGVN ngày 08/5/2026 về thực hiện rà soát văn bản quy phạm pháp luật của Hội; tổ chức rà soát toàn diện Luật Trọng tài thương mại và Luật Trưng cầu ý dân – những văn bản do Hội Luật gia Việt Nam chủ trì soạn thảo và trình Quốc hội thông qua. Ngày 29/5/2026, Hội đã hoàn thành Báo cáo tình hình thực hiện tổng rà soát gửi cơ quan có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, Hội chủ động tổng kết thi hành Luật Phá sản, Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Đất đai, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án… Qua đó, Hội phát hiện những bất cập, chồng chéo, khoảng trống pháp luật từ thực tiễn để kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật. Đáng chú ý, Hội đã hoàn thành nghiên cứu, xây dựng Báo cáo định hướng lớn sửa đổi, bổ sung Luật Trọng tài thương mại và đề xuất chủ trì xây dựng hồ sơ chính sách dự án Luật Trọng tài thương mại (sửa đổi), đưa vào Chương trình lập pháp năm 2028 của Quốc hội.

Ảnh minh họa
Các cấp Hội đã tổ chức hơn 2.000 hội nghị, hội thảo, tọa đàm và tham gia hàng chục nghìn lượt ý kiến vào các dự thảo văn bản của các bộ, ngành, địa phương. Những kết quả đó cho thấy Hội có một nguồn lực trí tuệ rất lớn để tiếp tục nâng tầm công tác nghiên cứu và tham gia xây dựng pháp luật.
Một thuận lợi rất quan trọng khác là Hội có hơn 100.000 hội viên, trong đó có nhiều luật gia, luật sư, nhà khoa học, giảng viên, cán bộ thực tiễn và chuyên gia pháp lý giàu kinh nghiệm. Nếu kết nối và phát huy tốt nguồn lực này, Hội có thể hình thành các mạng lưới chuyên gia theo từng lĩnh vực, tạo ra những nhóm nghiên cứu, tư vấn, phản biện chính sách có chất lượng cao, cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình hoạch định chính sách, xây dựng và thi hành pháp luật.
Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và chuyển đổi số cũng mở ra cơ hội rất lớn. Đây không chỉ là công cụ nâng cao năng lực nghiên cứu mà còn tạo điều kiện để Hội xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật, dữ liệu chuyên gia, kết quả nghiên cứu; kết nối hội viên trên phạm vi cả nước; tổ chức lấy ý kiến, phản biện chính sách nhanh chóng, rộng rãi; đồng thời nâng cao chất lượng tổng hợp, phân tích và dự báo chính sách pháp luật.
Tuy nhiên, cơ hội càng lớn thì yêu cầu đặt ra càng cao và thách thức cũng không nhỏ. Thách thức trước hết là phải thay đổi mạnh mẽ tư duy và phương thức hoạt động. Đối với công tác tham gia xây dựng chính sách pháp luật, Hội cần xác định rõ không thể chỉ dừng ở việc nêu ý kiến góp ý, mà phải có luận cứ khoa học pháp lý, bằng chứng thực tiễn, khả năng dự báo chính sách, tính khả thi và khả năng tư vấn chính sách nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của người dân, doanh nghiệp cần.
Điều đó đòi hỏi công tác nghiên cứu khoa học pháp lý của Hội phải gắn chặt hơn nữa với thực tiễn. Nghiên cứu phải trả lời được những câu hỏi mà cuộc sống đang đặt ra: quy định nào đang là điểm nghẽn; chính sách nào cần sửa đổi; vấn đề mới nào cần được pháp luật điều chỉnh; giải pháp nào vừa bảo đảm quyền con người, quyền công dân, vừa tạo động lực phát triển; kinh nghiệm quốc tế nào có thể tham khảo và vận dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam.
Một thách thức khác là năng lực thích ứng với khoa học - công nghệ và chuyển đổi số. Sự phát triển nhanh của AI, dữ liệu lớn, công nghệ số đang làm thay đổi cả đối tượng điều chỉnh của pháp luật và phương thức nghiên cứu pháp lý. Vì vậy, người làm công tác pháp luật không chỉ cần giỏi chuyên môn pháp lý mà còn phải hiểu về công nghệ, dữ liệu, kinh tế số, các mô hình kinh doanh mới và những vấn đề pháp lý xuyên biên giới. Đây là yêu cầu rất mới đối với đội ngũ luật gia.
Thách thức lớn nhất hiện nay chính là làm thế nào biến nguồn lực trí tuệ rất lớn của hơn 100.000 hội viên thành sức mạnh thực tế, thành những sản phẩm nghiên cứu, kiến nghị chính sách và giải pháp pháp lý có giá trị, góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn cho phát triển đất nước. Đây cũng chính là một trong những nhiệm vụ đặt ra cho Ban Chấp hành Trung ương Hội Luật gia Việt Nam trong nhiệm kỳ XV.
Theo đó, Hội phải giải quyết bài toán huy động và phát huy hiệu quả nguồn lực trí tuệ của hội viên. Có một lực lượng hội viên đông đảo là lợi thế rất lớn, nhưng nếu thiếu cơ chế kết nối, phân công, đặt hàng nghiên cứu và đánh giá sản phẩm thì nguồn lực đó chưa thể chuyển hóa đầy đủ thành sức mạnh của tổ chức Hội. Vì vậy, cần xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên gia, xác định rõ thế mạnh của từng luật gia và hình thành cơ chế để chuyên gia tham gia trực tiếp vào những vấn đề pháp lý mà Đảng, Nhà nước và xã hội đang quan tâm.
Từ những thuận lợi và thách thức đó, tôi cho rằng trong nhiệm kỳ mới, Hội Luật gia Việt Nam cần đặc biệt coi nghiên cứu khoa học pháp lý và tham gia xây dựng, hoàn thiện thể chế là một khâu đột phá, đồng thời chuyển mạnh từ tư duy “tham gia” sang tư duy “chủ động kiến tạo”. Mỗi nghiên cứu, mỗi ý kiến góp ý, mỗi hội thảo cần hướng tới một sản phẩm cụ thể, một kiến nghị chính sách cụ thể hoặc góp phần giải quyết một vấn đề thực tiễn cụ thể.
Tôi cũng cho rằng cần xây dựng Hội trở thành trung tâm kết nối, tập hợp và phát huy trí tuệ pháp lý của đội ngũ luật gia Việt Nam. Khi kết nối được các nhà khoa học, luật gia, luật sư, giảng viên, cán bộ thực tiễn, doanh nghiệp và các chuyên gia quốc tế, Hội sẽ có điều kiện hình thành những sản phẩm nghiên cứu có chiều sâu, những kiến nghị chính sách có chất lượng và tiếng nói phản biện có trọng lượng hơn.
Cuối cùng, mục tiêu cao nhất của nghiên cứu và xây dựng pháp luật vẫn phải là phục vụ Nhân dân, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, tháo gỡ những điểm nghẽn của thực tiễn và đóng góp cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Nếu làm được điều đó, Hội Luật gia Việt Nam không chỉ phát huy tốt thế mạnh nghề nghiệp của mình mà còn thực sự khẳng định vai trò là lực lượng quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đồng hành cùng đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
Ngay sau khi Trung ương ban hành Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Thường vụ Đảng uỷ đã thành lập Ban Chỉ đạo, ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết. Đặc biệt, Thường vụ Đảng uỷ đã trực tiếp chỉ đạo Viện IBLA và Tạp chí Pháp lý tổ chức Hội thảo “Đưa Nghị quyết số 66-NQ/TW vào cuộc sống”. Hội thảo đã đưa ra nhiều luận cứ khoa học, các giải pháp để sớm đưa Nghị quyết số 66-NQ/TW vào cuộc sống.

Quang cảnh Hội thảo khoa học “Đưa Nghị quyết 66-NQ/TW vào cuộc sống: Yêu cầu, cơ chế và giải pháp thực thi” (Hội thảo do Viện IBLA và Tạp chí Pháp lý tổ chức tháng 9/2025)
Trong tình hình mới, thời cơ đối với các Viện nghiên cứu của Hội Luật gia Việt Nam là rất lớn, bởi đất nước đang bước vào giai đoạn đổi mới mạnh mẽ về thể chế, chuyển đổi số, hội nhập sâu rộng và xây dựng Nhà nước pháp quyền. Nhưng chính điều đó cũng đặt ra thách thức rất cao về chất lượng nghiên cứu, tốc độ phản ứng chính sách, nguồn nhân lực, phương pháp nghiên cứu và khả năng chuyển hóa kết quả khoa học thành chính sách cụ thể.
Đặc biệt, công tác nghiên cứu khoa học pháp lý phải nâng tầm nghiên cứu lên chuẩn mực quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập, một nghiên cứu có giá trị không chỉ cần đúng về pháp lý Việt Nam mà còn phải đặt trong tương quan với pháp luật quốc tế và pháp luật các nước.
Điểm mấu chốt: chuyển từ “nghiên cứu” sang “kiến tạo chính sách”. Không chỉ nghiên cứu những gì pháp luật đang có, mà phải nghiên cứu những gì pháp luật đang thiếu; không chỉ phát hiện bất cập, mà phải đề xuất được giải pháp chính sách có khả năng thực thi; không chỉ phản ứng trước vấn đề phát sinh, mà phải dự báo và chuẩn bị khung pháp lý cho những vấn đề của tương lai. Điều đó đòi hỏi luật gia, các nhà khoa học không thể chỉ giỏi kiến thức pháp luật truyền thống mà phải hiểu công nghệ, hiểu kinh tế, hiểu thực tiễn quản trị và có tư duy hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, yêu cầu đối với công tác xây dựng pháp luật cũng đang chuyển mạnh từ “có tham gia” sang “tham gia thực chất, có chất lượng và đo được hiệu quả”. Vì vậy, Hội phải đổi mới mạnh mẽ tư duy, phương thức tổ chức hoạt động; phát huy trí tuệ của hội viên; tăng cường nghiên cứu chuyên sâu, tổng kết thực tiễn, dự báo chính sách và ứng dụng dữ liệu, công nghệ trong nghiên cứu pháp luật.
Trong đó, nguồn nhân lực nghiên cứu chất lượng cao còn là điểm nghẽn. Hội Luật gia Việt Nam đặc biệt quan tâm, yêu cầu các Viện, Trung tâm nhanh chóng kiện toàn nguồn nhân lực theo hướng thu hút nhân lực có chất lượng chuyên nghiệp hơn, xây dựng cơ chế, chế độ trả thù lao tương xứng cho hoạt động nghiên cứu, tham gia xây dựng và thi hành pháp luật.
Phóng viên: Thưa ông, tham gia xây dựng pháp luật và phản biện chính sách pháp luật được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của Hội qua nhiều thập kỷ nay. Trong nhiệm kỳ tới, Hội Luật gia Việt Nam sẽ làm gì để nâng cao hơn nữa chất lượng của nhiệm vụ này nhằm triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết 66-NQ/TW?
Đồng chí Trần Công Phàn: Tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác xây dựng và thi hành pháp luật, trong đó pháp luật phải thực sự trở thành động lực, lợi thế cạnh tranh và nguồn lực cho phát triển. Với Hội Luật gia Việt Nam, điều đó đòi hỏi phải chuyển mạnh từ cách tham gia theo từng việc sang tham gia chủ động, chuyên sâu, có trọng tâm, trọng điểm và có khả năng đo lường kết quả.
Đảng ủy Trung ương Hội đã ban hành Kế hoạch số 42-KH/ĐU triển khai Nghị quyết 66-NQ/TW, thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết và triển khai nhiều chuyên đề. Từ năm 2026, Hội cũng bắt đầu triển khai hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác tham gia xây dựng pháp luật trong toàn hệ thống.
Trong nhiệm kỳ tới, Hội sẽ tập trung vào một số hướng lớn.
Thứ nhất, tham gia từ sớm, từ xa, không chỉ góp ý khi dự thảo văn bản đã hoàn thiện mà chủ động tham gia ngay từ khâu nghiên cứu, đề xuất chính sách, xây dựng hồ sơ chính sách, soạn thảo, thẩm định và hoàn thiện văn bản.
Thứ hai, nâng cao chất lượng nghiên cứu và phản biện. Các ý kiến của Hội phải dựa trên cơ sở khoa học, bằng chứng, dữ liệu thực tiễn và đánh giá tác động; đồng thời phải có tính dự báo, tính khả thi và giá trị ứng dụng.
Thứ ba, tập trung nghiên cứu những vấn đề lớn, mới và có tính chiến lược, nhất là những vấn đề phát sinh trong quá trình chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, phát triển xanh, hội nhập quốc tế, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và các phương thức giải quyết tranh chấp mới.
Thứ tư, xây dựng mạng lưới chuyên gia pháp lý. Hội sẽ kết nối luật gia, luật sư, nhà khoa học, giảng viên, cán bộ thực tiễn và chuyên gia trong và ngoài nước theo từng lĩnh vực để huy động trí tuệ tập thể khi giải quyết những vấn đề pháp lý quan trọng.

Ảnh minh họa
Thứ năm, tăng cường rà soát, hệ thống hóa và tổng kết thi hành pháp luật. Hội phải chủ động phát hiện những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, khoảng trống pháp lý để kiến nghị xử lý, góp phần tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp và khơi thông nguồn lực phát triển.
Đặc biệt, Hội sẽ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu trong nghiên cứu, xây dựng và phản biện chính sách. Mục tiêu cuối cùng là các ý kiến của Hội không chỉ “đúng về pháp lý” mà còn phải trúng vấn đề thực tiễn, có khả năng giải quyết vấn đề và tạo ra giá trị cho phát triển.
Phóng viên: Một trong những yếu tố quyết định chất lượng hoạt động của Hội trong giai đoạn mới là nguồn nhân lực. Trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, theo ông, Hội Luật gia Việt Nam cần chuẩn bị đội ngũ luật gia như thế nào để vừa đáp ứng yêu cầu trong nước, vừa đủ năng lực tham gia các diễn đàn pháp lý khu vực và quốc tế?
Đồng chí Trần Công Phàn: Xây dựng đội ngũ luật gia chất lượng là nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của Hội.
Trong nhiệm kỳ XV, Hội xác định một trong ba khâu đột phá là xây dựng tổ chức Hội, phát triển nguồn nhân lực, hội viên. Chúng ta cần một đội ngũ luật gia không chỉ đông về số lượng mà quan trọng hơn là mạnh về chất lượng, có bản lĩnh, chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và năng lực thích ứng với những thay đổi rất nhanh của thời đại.
Trước hết, luật gia phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, có tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, ý thức trách nhiệm với Tổ quốc và Nhân dân.
Thứ hai là nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực nghiên cứu. Luật gia phải có khả năng nhìn nhận vấn đề pháp lý trong mối quan hệ với kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ và quản trị quốc gia.
Thứ ba là năng lực số và khả năng làm chủ công nghệ. Trong bối cảnh AI, dữ liệu lớn và chuyển đổi số đang thay đổi sâu sắc nghề luật, nếu luật gia không cập nhật công nghệ sẽ khó đáp ứng yêu cầu mới.
Thứ tư là năng lực hội nhập quốc tế. Hội sẽ tăng cường hợp tác với các tổ chức luật gia, cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp luật quốc tế; tạo điều kiện để hội viên tham gia các diễn đàn pháp lý khu vực và quốc tế, trao đổi kinh nghiệm, nghiên cứu, đào tạo và nâng cao kỹ năng.
Đặc biệt, Hội sẽ chú trọng đến nguồn lực luật gia trẻ, cán bộ cơ sở, đội ngũ kế cận; thu hút các chuyên gia, nhà khoa học, người làm công tác pháp luật và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài.
Mục tiêu là xây dựng được một đội ngũ luật gia giỏi chuyên môn, vững bản lĩnh, thành thạo công nghệ, hiểu biết pháp luật quốc tế và có tinh thần phụng sự Nhân dân.
Đây không chỉ là yêu cầu đối với một nghề nghiệp mà còn là yêu cầu để Hội Luật gia Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là lực lượng quan trọng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế của đất nước.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn đồng chí Phó Chủ tịch thường trực!