Hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ an ninh tư tưởng và cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin trong kỷ nguyên số

Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới đặt ra yêu cầu cấp thiết hoàn thiện đồng bộ hành lang pháp lý phục vụ công tác tư tưởng, trọng tâm là bảo vệ an ninh tư tưởng và xây dựng cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin thông suốt từ Trung ương đến cơ sở trong kỷ nguyên số. Bài viết phân tích sâu yêu cầu rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến báo chí, xuất bản, không gian mạng, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và thông tin cơ sở theo chỉ đạo của Nghị quyết, gắn với quan điểm chỉ đạo của Đại hội XIV của Đảng và các văn bản mới nhất đến tháng 8 năm 2026.

Trên cơ sở đó, bài viết đi sâu vào thiết kế, nội dung cốt lõi và phương thức thực thi Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng cùng cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện mang tính pháp lý - hành chính, liên ngành giữa công tác tư tưởng, an ninh quốc gia và quản trị thông tin số, nhằm bảo đảm tính thống nhất, hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với đặc thù môi trường thông tin toàn cầu.

1. Đặt vấn đề

Công tác tư tưởng luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN), đóng vai trò đi trước mở đường, đi cùng trong tổ chức thực hiện và đi sau tổng kết thực tiễn, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Trong suốt quá trình cách mạng, công tác tư tưởng đã thắp sáng ngọn lửa niềm tin, quy tụ lòng dân, nhân lên sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Qua 40 năm đổi mới, công tác tư tưởng đã góp phần quan trọng xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng, bổ sung, phát triển Cương lĩnh chính trị, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo động lực tinh thần to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác tư tưởng phải đi trước, mở đường, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội” (Đảng CSVN, 2021). Đến Đại hội XIV (diễn ra từ ngày 19 đến 23/01/2026), Đảng tiếp tục xác định xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức là then chốt, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền trong điều kiện chuyển đổi số sâu rộng và hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc (Đảng CSVN, 2026a).

Bối cảnh thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, với sự phát triển bùng nổ của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và mạng xã hội toàn cầu, đã biến không gian số thành môi trường chủ đạo của thông tin, dư luận và nhận thức xã hội. Thông tin lan truyền với tốc độ chưa từng có, phạm vi toàn cầu, tính tương tác cao và khả năng thao túng nhận thức ngày càng tinh vi thông qua các chiến dịch thông tin giả mạo, deepfake, tin xấu độc và các hoạt động chống phá nền tảng tư tưởng. Trong nước, sau khi sắp xếp tổ chức bộ máy và tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp, công tác tư tưởng ở cơ sở còn chưa theo kịp yêu cầu mới; phương thức chậm đổi mới, tư duy “quản lý thông tin” còn phổ biến; năng lực dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân và tạo đồng thuận xã hội còn hạn chế. Một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu nhận thức chưa đầy đủ, còn biểu hiện “khoán trắng” cho cơ quan chuyên trách. Việc học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh ở một số nơi còn hình thức. Công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng có lúc chưa sắc bén, lực lượng còn mỏng, công cụ kỹ thuật chưa đồng bộ. Chưa có bộ tiêu chí thống nhất để đo lường, đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng (Bộ Chính trị, 2026a).

Trước thực tiễn đó, ngày 22/8/2026, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới. Nghị quyết quán triệt sâu sắc phương châm “Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả” và xác định rõ: “Công tác tư tưởng phải được tiến hành đồng bộ trên cả không gian thực và không gian số; chủ động bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững an ninh tư tưởng trong mọi tình huống” (Bộ Chính trị, 2026a). Mục tiêu cụ thể đến năm 2030 đặt ra yêu cầu: ban hành và vận hành thông suốt Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng cùng cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin từ Trung ương đến cơ sở; nhận diện sớm và phản bác kịp thời bằng luận cứ khoa học đối với 100% quan điểm sai trái, thù địch có tác động lớn đến đời sống xã hội; ngăn chặn kịp thời 100% nội dung vi phạm nghiêm trọng theo quy định của pháp luật; mức độ lan tỏa của nội dung xấu độc trong nước giảm tối thiểu 70% so với năm 2026; 100% cấp xã có lực lượng làm công tác tư tưởng hoạt động thường xuyên tại từng địa bàn dân cư và kết nối hệ thống thông tin nguồn (Bộ Chính trị, 2026a).

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, việc hoàn thiện hành lang pháp lý trở thành nhiệm vụ then chốt, đòi hỏi sự rà soát tổng thể và thể chế hóa đồng bộ các quy định liên quan đến báo chí, xuất bản, thông tin - truyền thông, văn hóa, không gian mạng, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và thông tin cơ sở. Đảng ủy Quốc hội được giao lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật phục vụ công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, chú trọng nghiên cứu, đối chiếu với các khung chính sách, pháp luật quốc tế có liên quan (Bộ Chính trị, 2026a). Đồng thời, Đảng ủy Công an Trung ương chủ trì xây dựng Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng và phản ứng khủng hoảng thông tin, kết nối, liên thông an toàn với nền tảng số công tác tư tưởng dùng chung (Bộ Chính trị, 2026a). Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng đã tạo nền tảng quan trọng, khẳng định công tác chính trị, tư tưởng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác xây dựng Đảng, phải giữ vững nguyên tắc và không ngừng đổi mới, sáng tạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026).

Trong bối cảnh Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 đã được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, hợp nhất và thay thế Luật An ninh mạng năm 2018 cùng Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, hành lang pháp lý về bảo vệ an ninh trên không gian mạng đã có bước tiến quan trọng. Luật mới bổ sung nhiều hành vi bị nghiêm cấm gắn với công nghệ AI như deepfake, giả mạo bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo, thu thập dữ liệu trái phép, đồng thời đặt hoạt động bảo vệ an ninh mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước (Quốc hội, 2025). Tuy nhiên, việc cụ thể hóa thành các quy chế chuyên biệt về an ninh tư tưởng và cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin vẫn đòi hỏi sự hoàn thiện tiếp theo để bảo đảm tính đồng bộ, liên thông và hiệu quả thực thi từ Trung ương đến cơ sở.

Bài viết này tập trung phân tích yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ an ninh tư tưởng và cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin dưới góc độ pháp lý - hành chính, liên ngành chặt chẽ với chuyên ngành công tác tư tưởng và an ninh tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết 25-NQ/TW, các văn kiện Đại hội XII, XIII, XIV của Đảng và hệ thống pháp luật mới nhất đến tháng 8 năm 2026, bài viết làm rõ cơ sở thiết kế, nội dung cốt lõi và phương thức thực thi Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng cùng cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm góp phần xây dựng công tác tư tưởng hiện đại, chủ động, chuyên nghiệp, hiệu quả trong kỷ nguyên mới.

1-1788400922.jpg

Ảnh minh hoạ. Nguồn: TTXVN

2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ an ninh tư tưởng trong kỷ nguyên số

An ninh tư tưởng là bộ phận cấu thành quan trọng của an ninh quốc gia, trực tiếp liên quan đến việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững định hướng chính trị - tư tưởng của chế độ và củng cố niềm tin của Nhân dân. Theo quan điểm của Đảng, nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới và Cương lĩnh chính trị. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách mà là công việc của toàn Đảng và cả hệ thống chính trị, lấy Nhân dân làm chủ thể tham gia (Bộ Chính trị, 2026a). Trong kỷ nguyên số, an ninh tư tưởng mở rộng phạm vi sang không gian mạng, nơi thông tin trở thành “vũ khí” và nhận thức trở thành “trận địa”.

Cơ sở lý luận xuất phát từ nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm gốc, lấy “chống” làm nhiệm vụ thường xuyên, lấy thuyết phục làm phương thức chủ đạo. “Xây” là bồi đắp niềm tin, bản lĩnh, văn hóa Đảng, môi trường thông tin lành mạnh, sức đề kháng tư tưởng của toàn xã hội; lòng yêu nước, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc và khát vọng phát triển đất nước. “Chống” là kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với cái sai, cái xấu, cái độc hại, chủ động ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ cơ sở (Bộ Chính trị, 2026a). Quan điểm này kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng, đồng thời phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết Đại hội XIV về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức trong điều kiện mới (Đảng CSVN, 2026a).

Về mặt thực tiễn, sau Đại hội XIII, Đảng đã ban hành nhiều văn bản quan trọng về bảo vệ nền tảng tư tưởng, trong đó có Chỉ thị 05-CT/TW, Kết luận 01-KL/TW và các quy định về Ban Chỉ đạo 35 các cấp. Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, nền tảng số xuyên biên giới và công nghệ AI đã tạo ra khoảng trống pháp lý nhất định. Luật An ninh mạng 2018 và Luật An toàn thông tin mạng 2015 còn phân tán, chưa bao quát đầy đủ các hành vi mới như deepfake, thao túng dư luận bằng thuật toán. Việc Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 đã khắc phục một phần tình trạng này bằng cách hợp nhất hai luật cũ, mở rộng danh mục hành vi bị nghiêm cấm và tăng cường trách nhiệm của các nền tảng số (Quốc hội, 2025). Song, để bảo vệ an ninh tư tưởng một cách chuyên biệt, cần có quy chế riêng phân định rõ mức độ tác động, biện pháp xử lý và đầu mối chỉ huy trong các tình huống khủng hoảng thông tin.

Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 đã thể chế hóa mạnh mẽ công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, chuyển từ “định hướng” sang “quy định bắt buộc”, từ “khuyến khích” sang “ràng buộc trách nhiệm”, xác lập rõ nguyên tắc, nội dung, chủ thể, phương thức và cơ chế kiểm tra, giám sát (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026). Đây là cơ sở quan trọng để Nghị quyết 25-NQ/TW tiếp tục cụ thể hóa thành chiến lược tổng thể, trong đó hành lang pháp lý và cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin là một trong những đột phá then chốt.

3. Yêu cầu rà soát, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật phục vụ công tác tư tưởng theo Nghị quyết 25-NQ/TW

Nghị quyết 25-NQ/TW giao Đảng ủy Quốc hội lãnh đạo, chỉ đạo rà soát, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật phục vụ công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, bao gồm báo chí, xuất bản, thông tin, truyền thông, văn hóa, không gian mạng, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, thông tin cơ sở và các lĩnh vực liên quan, chú trọng nghiên cứu, đối chiếu với các khung chính sách, pháp luật quốc tế có liên quan (Bộ Chính trị, 2026a). Yêu cầu này mang tính toàn diện, đòi hỏi sự đồng bộ giữa pháp luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước, giữa quy định nội dung và quy định thủ tục, giữa biện pháp hành chính và biện pháp kỹ thuật.

Trong lĩnh vực báo chí và xuất bản, cần hoàn thiện các quy định về trách nhiệm của cơ quan chủ quản và người đứng đầu đối với định hướng chính trị và chất lượng nội dung; cơ chế đặt hàng theo nhu cầu thay vì cấp phát dàn trải; nghiệm thu theo mức độ tiếp cận và sử dụng thực tế của người dân. Nguyên tắc “một vụ việc - một đầu mối phát ngôn - một bộ thông điệp thống nhất” trên cả không gian thực và không gian số cần được luật hóa rõ ràng để tránh tình trạng thông tin chồng chéo, mâu thuẫn.

Đối với không gian mạng, Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 đã tạo nền tảng vững chắc, song cần tiếp tục ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết về nhận diện, phân loại nội dung vi phạm theo tiêu chí tác động đến an ninh tư tưởng; cơ chế phát hiện, xác minh, truy nguồn và xử lý nhanh chóng; trách nhiệm của các nền tảng số trong việc ngăn chặn lan tỏa nội dung xấu độc. Việc bổ sung quy định về kỷ luật phát ngôn và sử dụng mạng xã hội của cán bộ, đảng viên cần gắn chặt với chế tài xử lý nghiêm theo Quy định 19-QĐ/TW (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026).

Về dữ liệu và chủ quyền dữ liệu, Nghị quyết 25-NQ/TW yêu cầu toàn bộ dữ liệu lưu trữ trên hạ tầng số trong nước, bảo đảm chủ quyền dữ liệu quốc gia. Khung pháp lý cần hoàn thiện quy định về thu thập, lưu trữ, chia sẻ, phân tích dữ liệu phục vụ dự báo, cảnh báo sớm tình hình tư tưởng và dư luận xã hội; kết nối hệ thống dữ liệu công tác tư tưởng dùng chung với các cơ sở dữ liệu quốc gia; quy định về bảo mật, an toàn thông tin và trách nhiệm của các chủ thể quản lý dữ liệu.

Đối với trí tuệ nhân tạo, việc ứng dụng AI và dữ liệu lớn trong giám sát, phát hiện, xác minh, xử lý nội dung vi phạm và sản xuất, phân phối sản phẩm tuyên truyền đòi hỏi các quy định về trách nhiệm giải trình, minh bạch thuật toán, chống thiên lệch và bảo vệ quyền lợi của cá nhân, tổ chức. Khung pháp lý phải bảo đảm AI phục vụ mục tiêu bảo vệ nền tảng tư tưởng mà không xâm phạm các quyền cơ bản theo quy định của pháp luật và Hiến pháp.

Cuối cùng, lĩnh vực thông tin cơ sở và thiết chế văn hóa - thông tin cần quy định chuẩn kỹ thuật và cơ chế vận hành thống nhất, liên thông với nền tảng số dùng chung; hiện đại hóa hệ thống đài truyền thanh cấp xã, bảng tin, cụm thông tin cổ động và các thiết chế văn hóa - thông tin; bảo đảm người dân ở mọi địa bàn, kể cả vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tiếp cận thông tin chính thống hai chiều.

4. Thiết kế và thực thi Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng và cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin

Theo phân công của Nghị quyết 25-NQ/TW, Đảng ủy Công an Trung ương chủ trì xây dựng Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng và phản ứng khủng hoảng thông tin. Quy chế cần phân định rõ các mức độ tác động của thông tin xấu độc hoặc khủng hoảng thông tin; biện pháp xử lý tương ứng; đầu mối chỉ huy ở từng cấp; quy trình phối hợp giữa các lực lượng (Bộ Chính trị, 2026a).

Nội dung cốt lõi của Quy chế bao gồm: phạm vi điều chỉnh là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo đảm an ninh tư tưởng trong mọi tình huống trên cả không gian thực và không gian số; nguyên tắc vận hành là chủ động, sắc bén, thống nhất, chặt chẽ, phản ứng nhanh từ Trung ương đến cơ sở, kết hợp biện pháp hành chính, kỹ thuật và tuyên truyền thuyết phục; cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin gồm hệ thống cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu và AI, quy trình xác minh, phân loại, xử lý dứt điểm tại địa bàn ngay khi vụ việc mới phát sinh, thông báo kết quả và công khai theo quy định, tăng cường phối hợp giữa lực lượng tuyên giáo, công an, quân đội, báo chí và chính quyền cơ sở; trách nhiệm của các chủ thể là cấp ủy và người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp, không “khoán trắng” cho cơ quan chuyên trách, lực lượng đấu tranh 3 cấp (Trung ương - tỉnh - cơ sở) được kiện toàn trên cơ sở Ban Chỉ đạo, Ban Công tác 35 hiện có.

Việc thực thi phải bảo đảm thông suốt từ Trung ương đến cơ sở theo nguyên tắc “6 rõ”: rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Mỗi nhiệm vụ chỉ giao một cơ quan chủ trì. Ở cấp xã, phải bảo đảm 100% có lực lượng làm công tác tư tưởng hoạt động thường xuyên tại địa bàn dân cư; kết nối hệ thống thông tin nguồn; duy trì chế độ sinh hoạt tư tưởng tại thôn, tổ dân phố. Cơ chế phản ứng phải gắn liền với công tác dân vận, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo và chăm lo lợi ích thiết thực của Nhân dân, không để hình thành điểm nóng. Hệ thống giải pháp kỹ thuật tổng thể bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và nền tảng số công tác tư tưởng dùng chung phải đi vào vận hành thông suốt, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và chủ quyền dữ liệu quốc gia (Bộ Chính trị, 2026a).

5. Một số giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi

Việc hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ an ninh tư tưởng và cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin trong kỷ nguyên số không thể dừng lại ở việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đơn lẻ, mà phải được triển khai đồng bộ, toàn diện, có lộ trình rõ ràng, gắn liền với việc nâng cao năng lực thực thi của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc tinh thần Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới, Kế hoạch số 08-KH/TW ngày 22/8/2026 của Ban Bí thư, Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, cùng các văn kiện Đại hội XII, XIII, XIV của Đảng và hệ thống pháp luật mới nhất đến tháng 8 năm 2026, có thể xác định một số nhóm giải pháp trọng tâm mang tính đột phá, liên ngành giữa công tác tư tưởng, an ninh quốc gia, quản trị thông tin số và xây dựng Đảng.

Trước hết, cần đẩy mạnh tiến độ rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành đồng bộ các văn bản quy phạm pháp luật theo lộ trình gắn chặt với Kế hoạch số 08-KH/TW của Ban Bí thư. Kế hoạch này đã xác định rõ việc ưu tiên nguồn lực cho hai nhóm nhiệm vụ có tính nền tảng, quyết định chất lượng công tác tư tưởng từ Trung ương đến cơ sở, trong đó có “triển khai đồng bộ, tổng thể hệ thống giải pháp kỹ thuật bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm an ninh tư tưởng từ Trung ương đến cơ sở” (Ban Bí thư, 2026). Việc rà soát phải tập trung vào các lĩnh vực then chốt: không gian mạng, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, báo chí - xuất bản và thông tin cơ sở. Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 đã có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, hợp nhất Luật An ninh mạng năm 2018 và Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, bổ sung nhiều hành vi bị nghiêm cấm liên quan đến deepfake, giả mạo bằng công nghệ AI và thu thập dữ liệu trái phép (Quốc hội, 2025). Tuy nhiên, để cụ thể hóa thành công cụ bảo vệ an ninh tư tưởng, cần sớm ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết về tiêu chí nhận diện nội dung vi phạm an ninh tư tưởng, quy trình xử lý khẩn cấp và trách nhiệm của các nền tảng số xuyên biên giới. Đồng thời, phải rà soát Luật Báo chí, Luật Xuất bản, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định về trí tuệ nhân tạo theo hướng bảo đảm tính thống nhất với quan điểm “chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội” mà Nghị quyết 25-NQ/TW đã khẳng định (Bộ Chính trị, 2026a). Việc đối chiếu với khung pháp lý quốc tế về an ninh mạng và quản trị thông tin số cần được tiến hành thận trọng, bảo đảm phù hợp với điều kiện Việt Nam và nguyên tắc bảo vệ chủ quyền dữ liệu quốc gia.

Thứ hai, xây dựng và áp dụng thống nhất bộ tiêu chí, chỉ số đánh giá hiệu quả bảo vệ an ninh tư tưởng và phản ứng khủng hoảng thông tin theo hướng khoa học, khách quan, thực chất. Nghị quyết 25-NQ/TW đã chỉ rõ tình trạng “chưa có bộ tiêu chí thống nhất để đo lường, đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng” là một trong những nguyên nhân hạn chế quan trọng (Bộ Chính trị, 2026a). Do đó, cần xây dựng hệ thống chỉ số đa chiều, bao gồm chỉ số về mức độ tiếp cận, hiểu và ghi nhớ thông tin chính thống của người dân; chỉ số về tốc độ nhận diện và phản bác quan điểm sai trái, thù địch; chỉ số về mức độ giảm lan tỏa nội dung xấu độc; chỉ số về niềm tin của Nhân dân và đồng thuận xã hội. Việc đo lường phải kết hợp điều tra xã hội học định kỳ với phân tích dữ liệu lớn và đánh giá độc lập của các cơ quan chuyên môn. Kết quả đánh giá cần được công khai, minh bạch và sử dụng làm căn cứ để bố trí nguồn lực, xem xét trách nhiệm người đứng đầu theo tinh thần “rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền” mà Nghị quyết đã quán triệt. Điều này kế thừa và phát triển quan điểm của Đại hội XIII về nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát và của Đại hội XIV về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức trong điều kiện mới (Đảng CSVN, 2021; Đảng CSVN, 2026a).

Thứ ba, hoàn thiện cơ chế tài chính ổn định, có trọng tâm, gắn với sản phẩm và kết quả đầu ra, đồng thời ưu tiên nguồn lực cho cơ sở và các địa bàn khó khăn. Nghị quyết 25-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm nguồn lực tài chính cho công tác tư tưởng theo hướng ổn định, có trọng tâm, gắn với sản phẩm và kết quả đầu ra; ưu tiên nguồn lực cho cơ sở và địa bàn khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số” (Bộ Chính trị, 2026a). Cơ chế tài chính cần chuyển mạnh từ cấp phát theo đầu mối sang đặt hàng theo nhu cầu thực tế của địa bàn dân cư, nghiệm thu theo mức độ tiếp cận và hiệu quả sử dụng thông tin chính thống của người dân. Việc đầu tư hiện đại hóa hạ tầng, thiết chế thông tin cơ sở - bao gồm số hóa hệ thống đài truyền thanh cấp xã, bảng tin, cụm thông tin cổ động, thư viện, tủ sách và xây dựng hệ thống thông tin nguồn liên thông với nền tảng số dùng chung - phải được bảo đảm nguồn lực ổn định, lâu dài. Đối với các địa bàn đặc thù, cần có chính sách đãi ngộ đặc thù để thu hút và giữ chân cán bộ làm công tác tư tưởng, bảo vệ những người dám nói thẳng, dám đấu tranh, dám chịu trách nhiệm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ tư, tăng cường mạnh mẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng theo khung năng lực hiện đại. Ban Tổ chức Trung ương được giao chủ trì xây dựng khung năng lực và tiêu chuẩn chức danh cán bộ làm công tác tư tưởng theo từng cấp, từng lĩnh vực; đổi mới tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ theo khung năng lực; bố trí đủ cán bộ chuyên trách công tác tư tưởng ở cấp xã (Bộ Chính trị, 2026a). Mục tiêu đến năm 2030, 100% cấp xã có cán bộ chuyên trách; 100% cán bộ làm công tác tư tưởng các cấp, thành viên Ban Chỉ đạo, Ban Công tác 35, người làm nhiệm vụ thông tin ở cơ sở được tập huấn, bồi dưỡng hằng năm; toàn Đảng có 4.000 - 6.000 cán bộ tuyên giáo nòng cốt được đào tạo chuyên sâu. Nội dung đào tạo phải chú trọng năng lực số, phân tích dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giám sát, phát hiện, xác minh và xử lý nội dung vi phạm; kỹ năng đối thoại, thuyết phục và dẫn dắt nhận thức xã hội; bản lĩnh chính trị, đạo đức, trí tuệ và uy tín. Việc bảo vệ cán bộ dám nói thẳng, dám đấu tranh cần được thể chế hóa rõ ràng, tạo môi trường thuận lợi để đội ngũ này hoàn thành nhiệm vụ trong môi trường thông tin phức tạp.

Thứ năm, xây dựng và vận hành hiệu quả cơ chế tiếp nhận phản hồi từ Nhân dân và giám sát xã hội đối với việc thực thi Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng và cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin. Quy định số 19-QĐ/TW đã khẳng định công tác chính trị, tư tưởng phải tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội và niềm tin của Nhân dân (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026). Do đó, kết quả đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng phải được sử dụng làm căn cứ xem xét trách nhiệm người đứng đầu, đồng thời công khai kết quả tiếp thu, giải quyết các ý kiến, kiến nghị của Nhân dân. Cơ chế phản hồi cần gắn liền với việc duy trì nền nếp đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân; nắm chắc tâm tư, nguyện vọng, ý kiến chính đáng của Nhân dân; phát hiện sớm, xử lý kịp thời các vấn đề tư tưởng, dư luận xã hội phát sinh ở cơ sở, không để kéo dài, vượt cấp, tích tụ thành điểm nóng. Việc phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong tiếp nhận, chia sẻ, lan tỏa thông tin chính thống và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải được coi là giải pháp then chốt, góp phần củng cố vững chắc thế trận lòng dân trong kỷ nguyên số.

Ngoài năm nhóm giải pháp trên, cần chú trọng tăng cường phối hợp liên ngành giữa Đảng ủy Quốc hội, Đảng ủy Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương, Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, cùng các cơ quan thông tấn, báo chí, xuất bản. Mỗi cơ quan phải chịu trách nhiệm trước Bộ Chính trị, Ban Bí thư về kết quả thực hiện nhiệm vụ được phân công theo tinh thần “một nhiệm vụ chỉ giao một cơ quan chủ trì, không chồng chéo”. Việc tổ chức sơ kết năm 2028 và tổng kết trước đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XV của Đảng sẽ là dịp để đánh giá toàn diện, điều chỉnh kịp thời các giải pháp, bảo đảm công tác tư tưởng thực sự trở thành năng lực nội sinh của Đảng và của cả dân tộc, chủ động định hình nhận thức xã hội, vững vàng trước mọi biến động của môi trường thông tin toàn cầu.

Tóm lại, các giải pháp hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi phải được triển khai đồng bộ, quyết liệt, sáng tạo, lấy niềm tin của Nhân dân làm thước đo cao nhất, lấy kết quả thực chất ở cơ sở làm tiêu chí đánh giá chủ yếu. Chỉ khi hành lang pháp lý được hoàn thiện đồng bộ, cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin vận hành thông suốt, đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và nguồn lực được bảo đảm ổn định, thì mục tiêu bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo đảm an ninh tư tưởng trong mọi tình huống mới có thể trở thành hiện thực trong kỷ nguyên mới của dân tộc.

Kết luận

Hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ an ninh tư tưởng và cơ chế phản ứng khủng hoảng thông tin trong kỷ nguyên số là yêu cầu khách quan, cấp thiết xuất phát từ Nghị quyết 25-NQ/TW và các văn kiện của Đại hội XIV của Đảng. Việc rà soát, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật về báo chí, không gian mạng, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và thông tin cơ sở, cùng với thiết kế, thực thi Quy chế bảo đảm an ninh tư tưởng và cơ chế phản ứng thông suốt từ Trung ương đến cơ sở, sẽ tạo nền tảng vững chắc để công tác tư tưởng chuyển trọng tâm sang dẫn dắt nhận thức xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo đồng thuận xã hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong mọi tình huống. Việc triển khai cần bảo đảm tính thống nhất, khoa học, hiệu quả và lấy niềm tin của Nhân dân làm thước đo cao nhất, góp phần xây dựng công tác tư tưởng trở thành năng lực nội sinh của Đảng và của cả dân tộc trong kỷ nguyên vươn mình.

-------------------------

Tài liệu tham khảo

Ban Bí thư. (2026). Kế hoạch số 08-KH/TW ngày 22/8/2026 thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới. Hà Nội: Văn phòng Trung ương Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng. (2026). Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng. Hà Nội: Văn phòng Trung ương Đảng.

Bộ Chính trị. (2026a). Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 22/8/2026 về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới. Hà Nội: Văn phòng Trung ương Đảng.

Đảng CSVN. (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

Đảng CSVN. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

Đảng CSVN. (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Hà Nội: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.

Quốc hội. (2025). Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15. Hà Nội: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

NCS. Trần Thị Huyền Trang; Lê Hùng (Học viện Chính trị khu vực I)

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin