Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu cơ sở và giới hạn của thiết chế tự vệ pháp lý số chủ động nhằm tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bằng phương pháp phân tích quy phạm và đối chiếu có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài, bài viết làm rõ quan hệ giữa trách nhiệm nền tảng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và cơ chế phòng ngừa rủi ro. Kết quả phân tích cho thấy yêu cầu trọng tâm là tổ chức thực thi các nghĩa vụ đã được pháp luật ghi nhận, đồng thời cụ thể hóa trách nhiệm giải trình đối với hệ thống phân phối nội dung. Bài viết kiến nghị hoàn thiện cơ chế phối hợp, minh bạch và kiểm tra thuật toán, cảnh báo sớm, kiểm soát nguồn thu gắn với vi phạm; các biện pháp phải đúng thẩm quyền, tương xứng và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng.
Từ khóa: tự vệ pháp lý số; nền tảng tư tưởng của Đảng; chủ quyền số; trách nhiệm nền tảng; quản trị thuật toán.
Strengthening Proactive Digital Legal Defence to Protect the Ideological Foundation of the Communist Party of Viet Nam
Abstract: Cross-border platforms, artificial intelligence and recommender systems require content regulation to be connected with governance of data, algorithms and advertising revenue. This article examines the legal basis and limits of proactive digital legal defence in protecting the ideological foundation of the Communist Party of Viet Nam. Through doctrinal analysis and selective comparison with foreign approaches, it distinguishes platform responsibilities, personal data protection and preventive risk management. The analysis finds that the immediate priority is to implement existing duties coherently while specifying accountability for content distribution systems. It recommends coordination between competent authorities and service providers, proportionate transparency and review of algorithms, early warning procedures, and measures addressing revenue linked to unlawful content. Foreign experience is assessed by regulatory function rather than treated as a model for direct transplantation. Preventive measures must rest on an identifiable legal basis, respect institutional competence and protect users’ legitimate rights. The proposed framework connects prevention with verifiable enforcement without treating automated detection as a substitute for legal assessment.
Keywords: digital legal defence; ideological foundation of the Communist Party; digital sovereignty; platform accountability; algorithmic governance.

1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số làm thay đổi môi trường thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thông tin được tạo lập, phân phối và cá nhân hóa thông qua nền tảng xuyên biên giới; trí tuệ nhân tạo có thể tạo nội dung giả mạo khó nhận biết. Khi nội dung vi phạm được khuếch đại trước khi được xác minh, việc gỡ bỏ sau đó có thể không khắc phục đầy đủ tác động. Yêu cầu đặt ra là kết nối công tác thông tin, phản bác với các nghĩa vụ pháp lý của chủ thể cung cấp dịch vụ, xử lý dữ liệu và khai thác quảng cáo.
Các tài liệu liên quan đã tiếp cận nhiệm vụ này từ những góc độ khác nhau. Bài viết được Trường Đại học An ninh nhân dân đăng lại từ Tạp chí Lý luận chính trị nhấn mạnh sự kết hợp giữa tuyên truyền, thuyết phục và biện pháp kỹ thuật, pháp lý; bài trên Báo Nhân Dân đặt vấn đề bảo vệ chủ quyền số trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trên cơ sở những định hướng đó, bài viết tập trung vào câu hỏi: cơ chế tự vệ pháp lý số chủ động cần liên kết các nghĩa vụ về nội dung, dữ liệu, thuật toán và nguồn thu như thế nào, trong giới hạn thẩm quyền và bảo đảm quyền của người sử dụng?[1]
Bài viết sử dụng phân tích quy phạm để xác định nghĩa vụ hiện hành, đối chiếu có chọn lọc kinh nghiệm EU, Nga, Trung Quốc và Úc theo từng chức năng quản lý. Văn bản và thông tin được rà soát đến ngày 11/10/2026. Phạm vi nghiên cứu là quản trị nền tảng, dữ liệu và công cụ thực thi có liên quan đến bảo vệ nền tảng tư tưởng; bài viết không khảo sát mức độ phổ biến của chiến dịch thao túng hoặc định lượng hiệu quả của các biện pháp. Kết quả được trình bày như phân tích pháp lý và kiến nghị tổ chức thực thi.
2. Cơ sở lý luận và giới hạn của thiết chế tự vệ pháp lý số chủ động
Trong bài viết, “tự vệ pháp lý số chủ động” là thuật ngữ phân tích chỉ sự kết hợp giữa quy phạm pháp luật, chủ thể thực thi và công cụ kỹ thuật, kinh tế để phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi xâm hại lợi ích được pháp luật bảo vệ trên môi trường số. Thuật ngữ này không được sử dụng như tên một chế định đã được luật hóa hoặc một quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế độc lập. Giá trị của cách tiếp cận nằm ở việc liên kết các lĩnh vực quản lý đang có quan hệ chặt chẽ trong hoạt động của nền tảng.
Tính tự vệ thể hiện ở năng lực bảo vệ an ninh quốc gia, nền tảng tư tưởng của Đảng và quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tính pháp lý đòi hỏi mỗi biện pháp phải có căn cứ, đúng thẩm quyền và tuân thủ thủ tục. Tính chủ động thể hiện ở việc đánh giá rủi ro, xác lập nghĩa vụ phòng ngừa và chuẩn bị khả năng ứng phó trước khi hậu quả lan rộng. Chủ động không đồng nghĩa với chuyển mọi hoạt động thông tin sang kiểm soát trước hoặc thay thế đánh giá pháp lý bằng bộ lọc tự động.
Cơ sở hiến định của cách tiếp cận này cần được nhìn nhận đồng thời từ bảo vệ chủ quyền, vai trò lãnh đạo của Đảng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Điều 1 và Điều 4 Hiến pháp là căn cứ về tổ chức, chủ quyền và nền tảng chính trị; khoản 2 Điều 14 đặt giới hạn đối với việc hạn chế quyền; Điều 21 và Điều 25 bảo vệ đời sống riêng tư, quyền tự do ngôn luận và tiếp cận thông tin. Bởi vậy, không thể chỉ từ yêu cầu bảo vệ chủ quyền số suy ra quyền quản lý không giới hạn mọi thông tin hoặc dữ liệu có liên hệ với Việt Nam.[2]
Thiết chế được đề xuất gồm ba nhóm chức năng có quan hệ bổ trợ. Pháp luật xác định hành vi bị cấm và nghĩa vụ của nền tảng; quản trị dữ liệu, thuật toán giúp nhận diện cơ chế phát sinh rủi ro; tổ chức thực thi bảo đảm yêu cầu xử lý được chuyển đến đúng chủ thể và có thể kiểm tra kết quả. Nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng vì vậy cần gắn với cung cấp thông tin chính xác, đối thoại và nâng cao khả năng kiểm chứng của công chúng, bên cạnh xử lý nội dung vi phạm. Sự khác biệt giữa nhận định gây tranh luận và hành vi trái pháp luật phải được xác định bằng căn cứ cụ thể.
3. Khung pháp luật và những vấn đề đặt ra trong thực thi tại Việt Nam
Việt Nam đã hình thành khung pháp luật về an ninh mạng, dữ liệu và trách nhiệm cung cấp thông tin. Khi đánh giá pháp luật hiện hành, cần xác định đúng thời điểm áp dụng: Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 được ban hành năm 2024 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2025; Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, thay thế Luật An ninh mạng năm 2018 và Luật An toàn thông tin mạng năm 2015. Các quy định về chủ quyền, hành vi bị cấm và trách nhiệm cung cấp dịch vụ phải được đối chiếu với luật này và văn bản hướng dẫn tương ứng.[3]
Ở cấp nghị định, Nghị định số 147/2024/NĐ-CP điều chỉnh quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ Internet, thông tin trên mạng; Nghị định số 333/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng. Điều 16 Nghị định số 333/2026/NĐ-CP cụ thể hóa xác thực tài khoản, cung cấp thông tin theo yêu cầu hợp lệ và xử lý nội dung vi phạm. Vì vậy, hạn chế thực thi không thể được giải thích chỉ bằng nhận định rằng pháp luật chưa có công cụ đối với doanh nghiệp nước ngoài. Cần xem xét cụ thể nghĩa vụ, phạm vi áp dụng, đầu mối tiếp nhận và mức độ thực hiện của chủ thể cung cấp dịch vụ.[4]
Đối với dữ liệu cá nhân, Luật số 91/2025/QH15 và Nghị định số 356/2025/NĐ-CP cùng có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Việc áp dụng các nghĩa vụ bảo vệ dữ liệu cần được đối chiếu với khung pháp luật mới và quy định chuyển tiếp. Bảo vệ dữ liệu có ý nghĩa đối với phòng ngừa khai thác hồ sơ hành vi để thao túng người dùng, nhưng không thể đồng nhất bảo vệ dữ liệu với kiểm soát nội dung. Một nội dung đúng vẫn có thể được phân phối bằng hoạt động xử lý dữ liệu trái pháp luật; ngược lại, nội dung giả mạo có thể được tạo ra mà không sử dụng dữ liệu cá nhân nhạy cảm.[5]
Độ trễ là vấn đề cần được đánh giá bằng dữ liệu về thời điểm phát hiện, xác minh, gửi yêu cầu và thực hiện xử lý. Khoản 5 Điều 16 Nghị định số 333/2026/NĐ-CP quy định thời hạn thực hiện yêu cầu xử lý thông tin, dịch vụ, ứng dụng vi phạm chậm nhất là 24 giờ, và chậm nhất là 6 giờ trong trường hợp khẩn cấp đe dọa xâm hại an ninh quốc gia. Đây là thời hạn pháp lý theo điều kiện quy định, khác với thời gian một nội dung thực tế tồn tại trên mạng.[6]
Thách thức thực thi còn nằm ở xác định chủ thể, lưu giữ chứng cứ và phối hợp xuyên biên giới. Danh tính tài khoản hoặc địa chỉ máy chủ không đủ để kết luận ai tổ chức phát tán. Hồ sơ cần kết nối dữ liệu đăng tải, điều khiển tài khoản, nhận thanh toán và thực hiện yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Nhận định về việc nền tảng trì hoãn, từ chối hay xử lý thụ động phải dựa trên vụ việc và dữ liệu cụ thể. Trong phạm vi bài viết, những vấn đề này được xác định là nhu cầu kiểm chứng, không phải kết luận về hành vi thường xuyên của từng doanh nghiệp.

Ảnh minh hoạ
4. Nhận diện rủi ro từ nội dung, thuật toán và nguồn thu trên nền tảng xuyên biên giới
Phân tích rủi ro cần tách chủ thể tạo lập nội dung, chủ thể tổ chức phát tán và nền tảng phân phối. Việc một hành vi diễn ra trên nền tảng không tự chứng minh nền tảng chủ động thực hiện hành vi đó. Trách nhiệm của nhà cung cấp phải dựa trên nghĩa vụ mà pháp luật quy định và chứng cứ về việc thực hiện nghĩa vụ. Các phương thức dưới đây được sử dụng để nhận diện vấn đề quản lý, không phải kết quả khảo sát định lượng về mức độ phổ biến tại Việt Nam.
4.1. Nội dung giả mạo và khai thác dữ liệu để tác động nhận thức
Deepfake là nội dung hình ảnh, âm thanh hoặc video được tạo lập, chỉnh sửa bằng trí tuệ nhân tạo để mô phỏng người hoặc sự kiện. Rủi ro xuất hiện khi sản phẩm giả mạo được sử dụng để làm người tiếp nhận hiểu sai về nguồn phát ngôn, sự kiện hoặc chủ trương. Cần phân biệt nội dung mô phỏng hợp pháp với giả mạo trái pháp luật. Điểm g khoản 2 Điều 7 Luật An ninh mạng năm 2025 cấm sử dụng trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói của người khác trái quy định; Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 cũng quy định hành vi bị cấm và trách nhiệm minh bạch đối với nội dung do hệ thống tạo ra.[7]
Nhắm mục tiêu vi mô sử dụng dữ liệu về hành vi và đặc điểm của nhóm người dùng để cá nhân hóa thông điệp. Bản thân cá nhân hóa không đương nhiên trái pháp luật; vấn đề là nguồn dữ liệu, căn cứ xử lý, mục đích sử dụng và nội dung thông điệp. Khi dữ liệu bị thu thập hoặc sử dụng trái phép để tổ chức phát tán nội dung giả mạo, phải xem xét đồng thời trách nhiệm về dữ liệu và trách nhiệm về nội dung. Tương tự, mạng tài khoản tự động có thể tạo ấn tượng sai về mức độ đồng thuận. Không nên đồng nhất mọi tài khoản tự động với botnet gồm các thiết bị bị chiếm quyền điều khiển; từng cơ chế có dấu hiệu và yêu cầu chứng minh khác nhau.
4.2. Quan hệ giữa pháp luật trong nước và tiêu chuẩn cộng đồng
Tiêu chuẩn cộng đồng là quy tắc của nền tảng, không thay thế nghĩa vụ tuân thủ pháp luật áp dụng. Một nội dung được nền tảng chấp nhận vẫn có thể vi phạm pháp luật Việt Nam; chiều ngược lại, nền tảng có thể hạn chế nội dung theo điều kiện dịch vụ của mình. Sự khác biệt này không tự chứng minh xung đột chủ quyền hoặc động cơ chống đối. Vấn đề cần giải quyết là xác định căn cứ yêu cầu xử lý, thông báo cho đúng chủ thể, lưu giữ chứng cứ và kiểm tra kết quả. Nếu yêu cầu không được thực hiện, trách nhiệm phải được đánh giá từ nghĩa vụ cụ thể, thay vì suy đoán chỉ dựa vào nguồn gốc doanh nghiệp.
4.3. Thuật toán đề xuất và bất đối xứng thông tin
Hệ thống đề xuất lựa chọn và sắp xếp nội dung theo các tín hiệu, mục tiêu do nền tảng thiết lập. Nếu tương tác được coi là tín hiệu quan trọng, nội dung gây tranh luận có thể được khuếch đại. Tuy nhiên, không thể từ mục tiêu thương mại suy ra mọi thuật toán đều ưu tiên thông tin sai lệch hoặc mọi người dùng đều bị dẫn đến cực đoan hóa. Cần kiểm tra tiêu chí đề xuất, phạm vi tiếp cận, dữ liệu vận hành và phản ứng của hệ thống sau khi phát hiện vi phạm. Bất đối xứng thông tin xuất hiện khi người sử dụng và cơ quan quản lý khó tiếp cận những dữ kiện cần thiết để đánh giá cơ chế phân phối.
Khung pháp luật mới đã có quy định về minh bạch và giải trình trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo. Luật số 134/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026, quy định trách nhiệm minh bạch tại Điều 11 và nghĩa vụ tương ứng với mức độ rủi ro của hệ thống. Việc áp dụng các nghĩa vụ này cần tính đến phạm vi điều chỉnh và quy định chuyển tiếp. Vấn đề cần tiếp tục làm rõ là hệ thống đề xuất nào thuộc phạm vi điều chỉnh, cách thực hiện nghĩa vụ theo phân loại rủi ro và quan hệ với quản lý nền tảng. Việc giải trình cũng phải tuân thủ giới hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, không đồng nghĩa với yêu cầu công khai toàn bộ mã nguồn.[8]
4.4. Quảng cáo và động cơ kinh tế của việc phát tán nội dung vi phạm
Nguồn thu quảng cáo có thể tạo động lực duy trì nội dung thu hút tương tác, kể cả khi nội dung đó vi phạm pháp luật. Tuy vậy, phải xác định được quan hệ giữa quảng cáo, khoản thanh toán và nội dung cụ thể trước khi kết luận có tài trợ cho vi phạm. Pháp luật hiện hành cần được đối chiếu với Nghị định số 342/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/02/2026, và các quy định liên quan của Luật Quảng cáo. Yêu cầu quản lý đặt ra đối với người quảng cáo, đơn vị cung cấp dịch vụ, bên phát hành và các chủ thể liên quan trong phạm vi nghĩa vụ của họ. Việc truy vết cần có căn cứ thu thập dữ liệu, chứng từ giao dịch và sự phối hợp của trung gian; không thể suy ra giao dịch xuyên biên giới hoặc tài sản số đều phục vụ mục đích bất hợp pháp.[9]
5. Gợi mở hoàn thiện thiết chế tự vệ pháp lý số chủ động
Hoàn thiện thiết chế cần kết nối quản lý hạ tầng dữ liệu, trách nhiệm pháp lý và công cụ kinh tế, đồng thời bảo đảm quyền của người sử dụng. Trọng tâm trước hết là tổ chức thực hiện các nghĩa vụ hiện hành và xác định phần cần hướng dẫn thêm. Kinh nghiệm nước ngoài có giá trị tham khảo theo chức năng quản lý, không phải những mô hình có thể chuyển nguyên trạng vào Việt Nam.
5.1. Kết hợp quản trị dữ liệu, trách nhiệm nền tảng và công cụ kinh tế
Đối với Liên minh châu Âu, GDPR điều chỉnh bảo vệ dữ liệu cá nhân, còn DSA điều chỉnh trách nhiệm và nghĩa vụ thẩm định của các chủ thể cung cấp dịch vụ trung gian. Hai văn bản có phạm vi và căn cứ khác nhau. Điều 83 GDPR quy định mức phạt tối đa đối với một số nhóm vi phạm là 20 triệu euro hoặc 4% doanh thu toàn cầu hằng năm của năm tài chính trước, tùy mức nào cao hơn. Đây không phải mức phạt mặc định cho mọi vi phạm mà được xác định theo tính chất và mức độ vi phạm.[10]
DSA quy định minh bạch hệ thống đề xuất tại Điều 27; đánh giá, giảm thiểu rủi ro hệ thống và kiểm toán độc lập tại các điều 34–37 đối với nền tảng trực tuyến và công cụ tìm kiếm trực tuyến rất lớn. Những nghĩa vụ này không áp dụng đồng nhất cho mọi dịch vụ. Điều 8 không đặt nghĩa vụ giám sát chung đối với nhà cung cấp dịch vụ trung gian. Bài học cho Việt Nam là xác định nghĩa vụ theo loại hình, quy mô và rủi ro, đồng thời thiết kế trách nhiệm có thể kiểm tra; không suy từ cơ chế kiểm toán sang quyền yêu cầu theo dõi toàn bộ người dùng.[11]
Tham khảo GDPR và DSA cần bắt đầu từ vấn đề thực thi trong nước. Cơ chế xử phạt gắn với doanh thu có thể được nghiên cứu trên cơ sở các quy định hiện hành, nhưng phải xác định loại vi phạm, cơ sở tính doanh thu, thẩm quyền và khả năng thu thập dữ liệu tài chính. Với minh bạch thuật toán, nên ưu tiên thông tin về tiêu chí đề xuất, dữ liệu đầu vào chủ yếu, biện pháp kiểm soát rủi ro và kết quả xử lý. Yêu cầu này phục vụ đánh giá tuân thủ mà không mặc nhiên làm lộ bí mật kinh doanh.
Kinh nghiệm Nga được xem xét ở chức năng bảo đảm an toàn và tính ổn định của hạ tầng Internet. Luật liên bang số 90-FZ năm 2019 đặt ra các biện pháp hướng đến khả năng vận hành an toàn, ổn định mạng trong lãnh thổ. Mục tiêu lập pháp này không chứng minh mạng nội bộ có thể hoạt động độc lập, thông suốt trong mọi tình huống. Đối với Việt Nam, nội dung có thể tham khảo là chuẩn bị năng lực dự phòng, ứng phó sự cố và duy trì dịch vụ thiết yếu; các biện pháp kiểm soát lưu lượng phải có căn cứ và phạm vi cụ thể.[12]
Trung Quốc kết hợp quản lý dữ liệu với yêu cầu bảo vệ thông tin cá nhân. Theo các điều 38–40 Luật Bảo vệ thông tin cá nhân năm 2021, chuyển thông tin ra nước ngoài có những cơ chế pháp lý khác nhau; yêu cầu lưu trữ trong nước và đánh giá an ninh áp dụng đối với chủ thể, dữ liệu thuộc diện luật định. Quy định năm 2024 còn làm rõ các trường hợp được miễn đánh giá an ninh. Vì vậy, không chính xác khi cho rằng mọi hoạt động chuyển dữ liệu ra nước ngoài đều phải qua cùng một quy trình đánh giá nghiêm ngặt. Kinh nghiệm này gợi mở việc phân loại dữ liệu, chủ thể và rủi ro trước khi lựa chọn biện pháp quản lý.[13]
Việt Nam cần cụ thể hóa việc bảo vệ hạ tầng và quản trị dữ liệu theo phạm vi luật định, tránh đồng nhất lưu trữ trong nước với bảo đảm an toàn tuyệt đối. Dữ liệu được lưu tại Việt Nam vẫn cần kiểm soát truy cập, bảo mật và khả năng phục hồi. Với dữ liệu được chuyển ra nước ngoài, trọng tâm là căn cứ chuyển, trách nhiệm của bên xử lý và khả năng kiểm tra việc bảo vệ dữ liệu. Làm chủ hạ tầng phải đi cùng tính liên tục của dịch vụ và yêu cầu kết nối phục vụ phát triển kinh tế số.
Công cụ kinh tế có thể hỗ trợ cân bằng quan hệ giữa nền tảng và chủ thể sáng tạo nội dung. Tuy nhiên, thương lượng về giá trị tin tức, bảo vệ bản quyền và ngăn chặn quảng cáo gắn với nội dung vi phạm là những vấn đề có căn cứ pháp lý khác nhau. Không nên coi một cơ chế chia sẻ doanh thu là bằng chứng trực tiếp về khả năng giảm tin giả.
Bộ quy tắc thương lượng truyền thông của Úc năm 2021 điều chỉnh quan hệ giữa doanh nghiệp báo chí và nền tảng được chỉ định khi có sự bất cân xứng đáng kể về sức mạnh thương lượng. Theo ACCC, chưa có nền tảng nào được chỉ định theo Bộ quy tắc tại thời điểm thông tin được kiểm tra; một số thỏa thuận được hình thành trên cơ sở tự nguyện. Do đó, không thể mô tả Bộ quy tắc là nghĩa vụ trả tiền tự động của mọi tập đoàn công nghệ khi sử dụng tin tức. Việt Nam có thể nghiên cứu khả năng thương lượng tập thể, tiêu chí lựa chọn chủ thể và cơ chế giải quyết bất đồng, sau khi đánh giá thị trường, quyền đối với nội dung và sự tương thích với pháp luật cạnh tranh.[14]
5.2. Cụ thể hóa minh bạch thuật toán và trách nhiệm giải trình
Cần xác định trách nhiệm của nền tảng đối với hệ thống đề xuất trên cơ sở pháp luật về an ninh mạng, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo. Thông tin công khai nên giúp người sử dụng hiểu vì sao nội dung được đề xuất và có thể lựa chọn cách tiếp nhận phù hợp. Thông tin cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền cần đủ để kiểm tra rủi ro, biện pháp phòng ngừa và kết quả xử lý vi phạm. Nghĩa vụ phải phù hợp với loại hình dịch vụ và mức độ kiểm soát thực tế của nhà cung cấp; không nên buộc doanh nghiệp chứng minh rằng hệ thống tuyệt đối không thể phân phối bất kỳ nội dung vi phạm nào.[15]
Có thể nghiên cứu cơ chế kiểm tra hoặc kiểm toán định kỳ đối với hệ thống có quy mô, mức độ rủi ro đáng kể, gắn với tiêu chí lựa chọn, phương pháp đánh giá và trách nhiệm khắc phục. Trọng tâm là kiểm tra khả năng nhận diện nội dung vi phạm, phản ứng sau thông báo hợp lệ và biện pháp hạn chế tái diễn. Báo cáo cần phân biệt rủi ro được phát hiện, biện pháp đã áp dụng và kết quả còn hạn chế. Việc đưa thông tin chính xác từ cơ quan nhà nước, báo chí và nguồn đã kiểm chứng đến công chúng cần dựa trên tính xác thực và khả năng kiểm tra nguồn, đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận thông tin.
5.3. Tổ chức cảnh báo sớm, phản ứng nhanh và kiểm soát nguồn thu gắn với vi phạm
Cơ chế cảnh báo sớm cần dựa trên phối hợp giữa cơ quan quản lý nội dung, lực lượng bảo vệ an ninh mạng, cơ quan bảo vệ dữ liệu cá nhân và nhà cung cấp dịch vụ theo chức năng hiện hành. Không nhất thiết thành lập thêm một trung tâm nếu có thể kết nối đầu mối, quy trình và hệ thống kỹ thuật. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phân loại tín hiệu, phát hiện nội dung giả mạo và xác định phạm vi phát tán; kết quả tự động phải được kiểm chứng trước khi trở thành căn cứ xử lý. Thông tin được thu thập phải phù hợp mục đích và được bảo vệ khỏi truy cập trái phép.
Quy trình phản ứng nhanh cần quy định rõ đầu mối tiếp nhận, điều kiện xác định tình huống khẩn cấp, nội dung yêu cầu và cách ghi nhận việc thực hiện. Đối với yêu cầu hạn chế truy cập hoặc gỡ bỏ, cần lưu chứng cứ về nội dung, căn cứ áp dụng, thời điểm gửi và phản hồi. Trường hợp có nhầm lẫn, phải có cơ chế xem xét, khôi phục và thông báo theo quy định. Kiểm tra kết quả xử lý không chỉ dựa vào số lượng nội dung bị gỡ mà còn phải xem xét tính chính xác, thời gian thực hiện và mức độ tái diễn.
Công cụ kinh tế nên tập trung vào quan hệ giữa nguồn thu và hành vi vi phạm đã được xác định. Cần hướng dẫn trách nhiệm kiểm tra vị trí quảng cáo, lưu giữ giao dịch và phối hợp ngừng phân phối quảng cáo trên nội dung vi phạm theo căn cứ pháp luật. Thuế không nên được sử dụng như hình thức xử phạt bổ sung không có căn cứ; biện pháp hạn chế nguồn thu phải đúng thẩm quyền, có điều kiện áp dụng và khả năng kiểm tra. Với nguồn tài trợ xuyên biên giới, phải phân biệt giao dịch hợp pháp với giao dịch liên quan đến vi phạm bằng chứng cứ cụ thể, tránh đánh đồng nguồn gốc nước ngoài với nguy cơ bất hợp pháp.
Lộ trình thực hiện nên ưu tiên chuẩn hóa đầu mối phối hợp và chứng cứ điện tử, sau đó kiểm tra việc tuân thủ các nghĩa vụ đã có, trước khi đề xuất nghĩa vụ bổ sung. Hiệu quả cần được đánh giá bằng thời gian xử lý yêu cầu hợp lệ, tỷ lệ sửa sai, mức độ tái diễn và chất lượng bảo vệ dữ liệu. Cách triển khai này giúp sử dụng nguồn lực phù hợp, tránh trùng lặp nhiệm vụ và tạo căn cứ thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật.
6. Kết luận
Hoàn thiện thiết chế tự vệ pháp lý số chủ động cần gắn nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với quản trị dữ liệu, trách nhiệm nền tảng và năng lực thực thi. Phân tích cho thấy yêu cầu không chỉ là bổ sung chế tài, mà còn là xác định đúng nghĩa vụ theo từng lĩnh vực và kết nối quy trình phòng ngừa, phát hiện, xử lý. Thuật ngữ được đề xuất có giá trị tổ chức các chức năng đó, không thay thế căn cứ pháp luật của từng biện pháp.
Kinh nghiệm nước ngoài gợi mở việc phân tầng nghĩa vụ theo chức năng và rủi ro, thay vì đồng nhất quản lý dữ liệu, kiểm soát nội dung và điều tiết thị trường. Các kiến nghị về minh bạch thuật toán, cảnh báo sớm và nguồn thu cần được triển khai trong giới hạn thẩm quyền, thủ tục và bảo đảm quyền. Hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn phụ thuộc vào thông tin chính xác, khả năng kiểm chứng và niềm tin xã hội; công cụ kỹ thuật, kinh tế chỉ phát huy giá trị khi gắn với thực thi pháp luật có căn cứ.
Tuyên bố đóng góp khoa học
Bài viết đề xuất cách tiếp cận thiết chế tự vệ pháp lý số chủ động theo chức năng quản lý, làm rõ quan hệ và giới hạn giữa nghĩa vụ về nội dung, dữ liệu, thuật toán và nguồn thu để định hướng phối hợp thực thi.
--------------------------------------
Tài liệu tham khảo
1. Australian Competition and Consumer Commission. “News Media Bargaining Code.” Truy cập ngày 11/10/2026. https://www.accc.gov.au/by-industry/digital-platforms-and-services/news-media-bargaining-code/news-media-bargaining-code.
2. Báo Nhân Dân. “Phát huy mạnh mẽ ‘chủ quyền số’ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng.” 16/9/2025. Truy cập ngày 11/10/2026. https://nhandan.vn/phat-huy-manh-me-chu-quyen-so-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-tren-khong-gian-mang-post908272.html.
3. European Parliament and Council. Regulation (EU) 2016/679 (General Data Protection Regulation). 2016. https://eur-lex.europa.eu/eli/reg/2016/679/oj/eng.
4. European Parliament and Council. Regulation (EU) 2022/2065 (Digital Services Act). 2022. https://eur-lex.europa.eu/eli/reg/2022/2065/oj/eng.
5. National People’s Congress of China. Personal Information Protection Law of the People’s Republic of China. 2021. Bản tiếng Anh trên trang Supreme People’s Procuratorate. https://en.spp.gov.cn/2021-12/29/c_948419_2.htm.
6. President of Russia. “Law on Ensuring Safe and Stable Operation of the Internet in Russia.” 1/5/2019. Truy cập ngày 11/10/2026. https://www.en.kremlin.ru/catalog/keywords/98/events/copy/60430.
7. State Council of China. “China Issues Regulations on Cross-Border Data Flows.” 23/3/2024. Truy cập ngày 11/10/2026. https://english.www.gov.cn/news/202403/23/content_WS65fe0f84c6d0868f4e8e5612.html.
8. Trường Đại học An ninh nhân dân. “Về một số nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch.” Đăng lại từ Tạp chí Lý luận chính trị. Truy cập ngày 11/10/2026. https://dhannd.bocongan.gov.vn/ve-mot-so-noi-dung-phuong-thuc-hinh-thuc-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-dau-tranh-ngan-chan-cac-quan-diem-sai-trai-thu-dich-a-497.
[1] Trường Đại học An ninh nhân dân, “Về một số nội dung, phương thức, hình thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch,” đăng lại từ Tạp chí Lý luận chính trị, truy cập ngày 11/10/2026, https://dhannd.bocongan.gov.vn/ve-mot-so-noi-dung-phuong-thuc-hinh-thuc-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-dau-tranh-ngan-chan-cac-quan-diem-sai-trai-thu-dich-a-497; Báo Nhân Dân, “Phát huy mạnh mẽ ‘chủ quyền số’ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng,” 16/9/2025, truy cập ngày 11/10/2026, https://nhandan.vn/phat-huy-manh-me-chu-quyen-so-bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang-tren-khong-gian-mang-post908272.html.
[2] Hiến pháp năm 2013, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, Điều 1, Điều 4, khoản 2 Điều 14, Điều 21 và Điều 25.
[3] Luật Dữ liệu số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024, Điều 46; Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 ngày 10/12/2025, Điều 44.
[4] Nghị định số 147/2024/NĐ-CP ngày 9/11/2024 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; Nghị định số 333/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng, Điều 16.
[5] Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025; Nghị định số 356/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
[6] Nghị định số 333/2026/NĐ-CP, khoản 5 Điều 16.
[7] Luật An ninh mạng 116/2025/QH15, điểm g khoản 2 Điều 7; Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 ngày 10/12/2025, Điều 7 và Điều 11.
[8] Luật Trí tuệ nhân tạo 134/2025/QH15, Điều 11, Điều 14 và Điều 15.
[9] Nghị định số 342/2025/NĐ-CP ngày 26/12/2025 quy định chi tiết một số điều của Luật Quảng cáo.
[10] European Parliament and Council, Regulation (EU) 2016/679 (General Data Protection Regulation), 2016, Điều 83.
[11] European Parliament and Council, Regulation (EU) 2022/2065 (Digital Services Act), 2022, Điều 8, Điều 27 và các điều 34–37.
[12] President of Russia, “Law on Ensuring Safe and Stable Operation of the Internet in Russia,” 1/5/2019, truy cập ngày 11/10/2026, https://www.en.kremlin.ru/catalog/keywords/98/events/copy/60430.
[13] Personal Information Protection Law of the People’s Republic of China, 2021, bản tiếng Anh trên trang Supreme People’s Procuratorate, https://en.spp.gov.cn/2021-12/29/c_948419_2.htm, các điều 38–40; State Council of China, “China Issues Regulations on Cross-Border Data Flows,” 23/3/2024, truy cập ngày 11/10/2026, https://english.www.gov.cn/news/202403/23/content_WS65fe0f84c6d0868f4e8e5612.html.
[14] Australian Competition and Consumer Commission, “News Media Bargaining Code,” truy cập ngày 11/10/2026, https://www.accc.gov.au/by-industry/digital-platforms-and-services/news-media-bargaining-code/news-media-bargaining-code, mục “How it works” và “The effect of the code”.
[15] Luật Trí tuệ nhân tạo 134/2025/QH15, Điều 14 và Điều 15.