Hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy kinh doanh bao trùm lồng ghép giới: Kinh nghiệm từ một số quốc gia Asean và khuyến nghị cho Việt Nam

(Pháp lý). Kinh doanh bao trùm lồng ghép giới là mô hình doanh nghiệp tích hợp hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận và trách nhiệm xã hội, nhằm thúc đẩy sự tham gia bình đẳng của phụ nữ – đặc biệt là phụ nữ thu nhập thấp – trong toàn bộ chuỗi giá trị.

Tóm tắt: Tại Việt Nam, dù tỷ lệ phụ nữ làm chủ doanh nghiệp đang tăng, phần lớn các doanh nghiệp này vẫn ở quy mô nhỏ, với nhiều rào cản trong tiếp cận chính sách, tài chính và mạng lưới hỗ trợ. Bài viết này sử dụng phương pháp phân tích, so sánh luật học kết hợp với phỏng vấn chuyên sâu nhằm đánh giá thực trạng khung pháp lý về kinh doanh bao trùm có lồng ghép giới tại Việt Nam, nhận diện những khoảng trống chính sách và rào cản trong thực thi. Đồng thời, nghiên cứu phân tích kinh nghiệm của ba quốc gia ASEAN – Indonesia, Philippines và Campuchia – trong việc xây dựng khung pháp lý về kinh doanh bao trùm lồng ghép giới, bao gồm các cơ chế công nhận, tiêu chí xác định và chính sách ưu đãi dành cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các định hướng hoàn thiện khung pháp lý nhằm thúc đẩy phát triển mô hình kinh doanh bao trùm lồng ghép giới tại Việt Nam, qua đó đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và bình đẳng giới.

Từ khóa: khung pháp lý về kinh doanh bao trùm, kinh doanh bao trùm lồng ghép giới, nữ doanh nhân, bình đẳng giới, phát triển bền vững

Improving the legal framework to promote gender-main-streaming inclusive business: Experiences from several Asean countries and recommendations for Vietnam

Abstract: Inclusive business with gender mainstreaming is a business model that harmoniously integrates profit objectives and social responsibility, aiming to promote the equal participation of women – especially low-income women – throughout the entire value chain. In Vietnam, although the proportion of women-owned businesses is increasing, the majority of these businesses remain small-scale, facing numerous barriers to accessing policies, finance, and support networks. This article uses a combination of legal analysis, comparative legal studies, and in-depth interviews to assess the current state of the legal framework for inclusive business with gender mainstreaming in Vietnam, identifying policy gaps and implementation barriers. Simultaneously, the study analyzes the experiences of three ASEAN countries – Indonesia, the Philippines, and Cambodia – in developing legal frameworks for inclusive business with gender mainstreaming, including recognition mechanisms, identification criteria, and incentive policies for businesses. Based on this, the study proposes directions for improving the legal framework to promote the development of inclusive, gender-inclusive business models in Vietnam, thereby contributing to the goals of sustainable economic development and gender equality.

Keywords: legal framework on inclusive business, gender-mainstreaming inclusive business, women entrepreneurs, gender equality, sustainable development.

1-1777880298.png

Ảnh minh hoạ

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế sâu rộng, phát triển bền vững đã trở thành xu thế tất yếu, đòi hỏi sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, đặc biệt là khoảng cách giới và bất bình đẳng kinh tế. Tại Việt Nam, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ là 64,2%, thấp hơn nam giới 10%.[1] Đồng thời, phụ nữ hiện nay vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản trong tiếp cận nguồn lực sản xuất, thị trường và cơ hội thăng tiến. Trong bối cảnh đó, mô hình kinh doanh bao trùm lồng ghép giới xuất hiện như một giải pháp chiến lược, không chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế mà còn trực tiếp góp phần thu hẹp khoảng cách giới thông qua việc tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào chuỗi giá trị với tư cách là nhà sản xuất, doanh nhân, người lao động và người tiêu dùng.

Nhận thức được tiềm năng của mô hình này, nhiều quốc gia ASEAN như Indonesia, Philippines và Campuchia đã chủ động xây dựng và triển khai các khung chính sách toàn diện để thúc đẩy kinh doanh bao trùm lồng ghép giới. Trên bình diện khu vực, ASEAN cũng đã ban hành Khung Chính sách Kinh doanh Bao trùm (ASEAN Inclusive Business Framework), tạo nền tảng chung để các quốc gia thành viên phát triển các chính sách phù hợp với bối cảnh đặc thù. Các sáng kiến này không chỉ khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào các mục tiêu phát triển bền vững mà còn đặt vấn đề trao quyền kinh tế cho phụ nữ làm trung tâm.

Tại Việt Nam, mô hình kinh doanh bao trùm mới bước đầu được đề cập trong một số văn bản pháp lý như Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 08/02/2022 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 13/2023/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Tuy nhiên, các quy định hiện hành chủ yếu mang tính khuyến khích, chưa hình thành một khung pháp lý thống nhất và đầy đủ, đặc biệt là thiếu các quy định cụ thể hỗ trợ phụ nữ làm chủ.

Xuất phát từ tính cấp thiết của việc trao quyền kinh tế cho phụ nữ và những khoảng trống trong khung pháp lý hiện hành, bài viết này tập trung phân tích kinh nghiệm xây dựng và triển khai khung pháp lý về kinh doanh bao trùm lồng ghép giới từ ba quốc gia ASEAN là Indonesia, Philippines và Campuchia. Đồng thời, nghiên cứu đánh giá thực trạng chính sách tại Việt Nam thông qua phân tích các văn bản pháp luật hiện hành, kết hợp với phương pháp phỏng vấn sâu các chuyên gia, nữ doanh nhân, nhà hoạch định chính sách và đại diện các tổ chức hỗ trợ kinh doanh và tổ chức xã hội.

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, bài viết chỉ ra những bất cập trong khung pháp lý hiện nay, đồng thời đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm thúc đẩy mô hình kinh doanh bao trùm có lồng ghép giới tại Việt Nam, qua đó góp phần thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững và bình đẳng giới.

2. Tổng quan về mô hình kinh doanh bao trùm lồng ghép giới

2.1. Khái niệm mô hình kinh doanh bao trùm

Mô hình kinh doanh bao trùm dần hình thành trong bối cảnh tư nhân hóa, tự do hóa thị trường và gia tăng yêu cầu về trách nhiệm xã hội đối với khu vực tư nhân cuối thế kỷ XX.[2] Năm 2005, Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới vì Phát triển Bền vững (WBCSD) chính thức đưa ra định nghĩa về kinh doanh bao trùm là mô hình hướng đến sự kết hợp giữa việc theo đuổi lợi nhuận của doanh nghiệp và mục tiêu đưa nhóm người có  thu nhập thấp tham gia một cách bền vững vào các chuỗi giá trị kinh tế.[3] Từ đây, khái niệm kinh doanh bao trùm đã được nhiều tổ chức quốc tế lớn tiếp cận và phân tích từ nhiều góc độ khác nhau. Ví dụ, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) xem đây là một giải pháp chiến lược nhằm đưa nông dân nhỏ vào thị trường để giảm nghèo.[4] Trong khi đó, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) lại tập trung vào khía cạnh trao quyền cho nhóm yếu thế.[5] ASEAN chú trọng tính khả thi và bền vững về mặt thương mại và tiềm năng nhân rộng của mô hình.[6]

Có thể thấy, điểm chung trong các quan điểm hiện nay là xem kinh doanh bao trùm như một mô hình theo đuổi lợi nhuận và tạo ra tác động xã hội tích cực và cụ thể, có thể đo lường được. Trong mô hình này, các nhóm yếu thế không đơn thuần là đối tượng nhận hỗ trợ, mà trở thành những thành tố then chốt trong hoạt động kinh doanh, tham gia trực tiếp vào chuỗi giá trị với tư cách nhà cung cấp, người lao động, người phân phối hoặc người tiêu dùng.

Như vậy, việc đưa các nhóm yếu thế, bao gồm phụ nữ, tham gia vào chuỗi giá trị không chỉ giúp cải thiện thu nhập, mà còn mở rộng cơ hội tiếp cận những dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế và tài chính. Quá trình này đồng thời góp phần tăng cường tính tự chủ và ổn định sinh kế cho nhóm dễ bị tổn thương. Về mặt vĩ mô, kinh doanh bao trùm tạo ra cơ chế huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân cho các mục tiêu xã hội, từ đó giảm gánh nặng lên ngân sách nhà nước và nâng cao hiệu quả của các chính sách an sinh thông qua công cụ thị trường.[7]

2.2. Mô hình kinh doanh bao trùm lồng ghép giới

Hiện nay, phụ nữ, đặc biệt là nhóm ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa hoặc trong các ngành nghề phi chính thức, thường gặp rào cản trong tiếp cận việc làm bền vững, tài sản sản xuất, thông tin thị trường và cơ hội đào tạo kỹ năng.[8] Bên cạnh đó, những định kiến giới về vai trò của phụ nữ trong gia đình, xã hội, cùng với gánh nặng lao động không được trả công (ví dụ như chăm sóc con cái, việc nhà...) càng khiến phụ nữ gặp khó khăn hơn trong việc tham gia và phát triển sự nghiệp trong môi trường kinh tế.[9]

Trong bối cảnh đó, mô hình kinh doanh bao trùm trở thành giải pháp hữu hiệu để trao quyền kinh tế cho phụ nữ. Cụ thể, mô hình này đặt quyền con người và bình đẳng giới làm trung tâm nhằm đảm bảo phụ nữ được hưởng đầy đủ các quyền kinh tế và xã hội, thực thi tiếng nói và quyền lực trong xã hội, cũng như có khả năng tiếp cận, sở hữu và kiểm soát một cách bình đẳng các nguồn lực, tài sản, thu nhập và thời gian.[10]

Thứ nhất, mô hình kinh doanh bao trùm lồng ghép giới hướng đến mục tiêu cải thiện thu nhập và điều kiện sống cho phụ nữ nghèo hay có thu nhập thấp.[11] Bằng cách tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào chuỗi giá trị sản xuất, mô hình này giúp họ có việc làm ổn định, tăng năng suất lao động và phát triển nghề nghiệp lâu dài. Một số mô hình còn tích hợp các chính sách hỗ trợ như làm việc linh hoạt, bảo hiểm vi mô hay hỗ trợ chăm sóc con cái, giúp giảm thiểu rủi ro và tạo điều kiện để phụ nữ an tâm làm việc.[12]

Thứ hai, kinh doanh bao trùm có yếu tố giới nhấn mạnh việc tăng cường khả năng tự chủ, quyền ra quyết định trong đời sống kinh tế và khả năng xóa bỏ các định kiến về phụ nữ.[13] Cụ thể, mô hình không chỉ dừng lại ở việc tạo công ăn việc làm, mà hướng tới tạo cơ hội để phụ nữ thăng tiến lên các vị trí lãnh đạo, qua đó nâng cao vị thế và tiếng nói trong gia đình, doanh nghiệp và cộng đồng. Từ vai trò của người bị phụ thuộc, kinh doanh bao trùm lồng ghép giới đặt phụ nữ vào vị trí trung tâm, giúp họ trực tiếp tạo ra giá trị cho bản thân và doanh nghiệp.[14]

Thứ ba, mô hình này thúc đẩy sự chuyển đổi thực chất của chính sách, chuẩn mực xã hội và thể chế kinh tế vốn tạo ra và duy trì bất bình đẳng thay vì chỉ giải quyết các vấn đề bên ngoài[15] bởi lẽ mô hình này góp phần chuyển đổi hệ thống phân công lao động giới truyền thống và tạo điều kiện cho sự tham gia đầy đủ của phụ nữ vào nền kinh tế.

Thứ tư, kinh doanh bao trùm lồng ghép giới có thể được áp dụng linh hoạt trong nhiều ngành nghề khác nhau, từ nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ đến giáo dục, y tế hay công nghệ, qua đó mở rộng cơ hội việc làm cho phụ nữ vượt qua những rào cản do định kiến giới.[16] Đồng thời, các doanh nghiệp kinh doanh bao trùm còn cung cấp sản phẩm và dịch vụ phù hợp với nhu cầu và khả năng chi trả của phụ nữ thu nhập thấp, góp phần giảm gánh nặng trong cuộc sống và tăng khả năng tham gia vào các hoạt động kinh tế – xã hội.

Tóm lại, kinh doanh bao trùm có yếu tố giới được hiểu là những mô hình kinh doanh mà ở đó, các doanh nghiệp tạo công ăn việc làm cho phụ nữ, hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ dành cho nhóm phụ nữ thu nhập thấp.[17]

3. Thực trạng khung pháp lý về kinh doanh bao trùm lồng ghép giới tại Việt Nam

3.1. Khung pháp lý về kinh doanh bao trùm

Gần đây, Chính phủ Việt Nam đã thể hiện cam kết ngày càng rõ ràng trong việc thúc đẩy mô hình kinh doanh bao trùm thông qua việc ban hành một số văn bản pháp lý mang tính định hướng, từ đó thiết lập nền tảng ban đầu cho việc xây dựng chính sách và triển khai thực tiễn. Đáng chú ý, khái niệm “kinh doanh bao trùm” lần đầu tiên được ghi nhận chính thức trong Quyết định số 167/QĐ-TTg ban hành năm 2022, phê duyệt Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững giai đoạn 2022–2025.[18] Đây được xem là bước tiến có ý nghĩa, tạo khuôn khổ pháp lý sơ khởi để các bộ, ngành và địa phương triển khai các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp theo định hướng bền vững, trong đó kinh doanh bao trùm được xác định là một cấu phần cụ thể.

Trên cơ sở đó, Thông tư số 13/2023/TT-BKHĐT đã được ban hành nhằm hướng dẫn thực hiện Quyết định 167, trong đó hệ thống hóa các hình thức hỗ trợ thành hai nhóm chính.[19] Nhóm thứ nhất tập trung vào việc xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ kinh doanh bền vững thông qua các hoạt động như nâng cao nhận thức, đào tạo cán bộ chuyên trách, phát triển mạng lưới tư vấn viên và thiết kế các sản phẩm tài chính phù hợp. Nhóm thứ hai bao gồm các hình thức hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp như tư vấn công nghệ, xúc tiến thương mại và đào tạo chuyên sâu, được triển khai thông qua các cơ chế đã được quy định tại Nghị định số 80/2021/NĐ-CP về hỗ trợ DNNVV.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã xây dựng và triển khai thử nghiệm Bộ công cụ đánh giá doanh nghiệp kinh doanh bao trùm.[20] Công cụ này cho phép một hội đồng xét duyệt do Cục Phát triển Doanh nghiệp (APED) thành lập đánh giá, phân loại và cấp chứng nhận cho các doanh nghiệp dựa trên mức độ đáp ứng tiêu chí về tính bao trùm. Đáng chú ý, bộ tiêu chí đánh giá có lồng ghép yếu tố giới, với các tiêu chí cụ thể dành cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ hoặc tạo ra tác động tích cực đối với phụ nữ. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có quy định rõ ràng về việc các doanh nghiệp đã được chứng nhận kinh doanh bao trùm sẽ được hưởng những chính sách hỗ trợ hoặc ưu đãi cụ thể nào từ phía Nhà nước.

Ngoại trừ Quyết định 167 có nội dung trực tiếp nhất về kinh doanh bao trùm, Việt Nam hiện vẫn chưa có một đạo luật hay nghị định riêng biệt điều chỉnh về mô hình này. Thay vào đó, các chính sách liên quan đến kinh doanh bao trùm chủ yếu được lồng ghép trong khung pháp lý về doanh nghiệp xã hội (theo Luật Doanh nghiệp) hoặc trong các chương trình mục tiêu quốc gia như giảm nghèo bền vững, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Thực trạng này cho thấy cách tiếp cận hiện nay đối với kinh doanh bao trùm vẫn mang tính tích hợp, chưa tách biệt thành một hệ thống chính sách riêng.

3.2. Khung pháp lý liên quan đến kinh doanh bao trùm lồng ghép giới

Hiện nay, Việt Nam chưa xây dựng một chiến lược riêng biệt và toàn diện về kinh doanh bao trùm lồng ghép giới. Các quy định hiện hành tồn tại rải rác trong nhiều chính sách phát triển kinh tế – xã hội và văn bản pháp luật, đặc biệt trong các lĩnh vực giảm nghèo, phát triển khu vực tư nhân, đổi mới sáng tạo và bình đẳng giới.

Trước hết, một trong những cơ sở pháp lý quan trọng nhất trong việc trao quyền bình đẳng và quyền kinh tế cho nữ giới là Luật Bình đẳng giới năm 2006. Điều 12 và 13 của Luật khẳng định nguyên tắc nam, nữ bình đẳng trong thành lập doanh nghiệp, tiếp cận vốn, việc làm, tiền lương, điều kiện lao động và thăng tiến. Điều 21 và 22 yêu cầu các cơ quan soạn thảo xác định vấn đề giới, dự báo tác động của chính sách đến nam và nữ, và đề xuất giải pháp phù hợp. Đây là cơ chế quan trọng nhằm đảm bảo rằng pháp luật không vô tình tái tạo bất bình đẳng giới, đồng thời thúc đẩy các cải cách pháp lý mang tính chủ động và nhạy cảm giới hơn. Tuy nhiên, Luật Bình đẳng giới 2006 vẫn chủ yếu mang tính chất định hướng, chưa đủ cụ thể để điều chỉnh trực tiếp các quan hệ xã hội có liên quan đến giới.

Thứ hai, vấn đề lồng ghép giới trong kinh doanh còn được quy định tại Luật Hỗ trợ DNNVV 2017, cùng với các nghị định hướng dẫn như Nghị định 80/2021/NĐ-CP và Nghị định 55/2019/NĐ-CP. Cụ thể, khi có nhiều doanh nghiệp cùng đáp ứng điều kiện hỗ trợ, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm thực hiện nguyên tắc ưu tiên: doanh nghiệp nộp hồ sơ trước được hỗ trợ trước; đồng thời ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ và doanh nghiệp xã hội. Nguyên tắc này góp phần tạo điều kiện công bằng hơn trong tiếp cận chính sách hỗ trợ cho những nhóm dễ bị tổn thương trong nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh phụ nữ thường gặp nhiều rào cản khi khởi sự và điều hành doanh nghiệp. Không chỉ vậy, các chính sách hỗ trợ còn bao gồm hỗ trợ tư vấn phát triển doanh  nghiệp từ 50 đến 200 triệu đồng[21], hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ chuyển đổi số và đổi mới công nghệ tối đa 100 triệu đồng/năm.[22] Tuy nhiên, bất cập lớn nhất của Luật Hỗ trợ DNNVV là chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành vẫn chưa thực sự phù hợp với năng lực tài chính và đặc điểm hoạt động của DNNVV. Việt Nam vẫn chưa áp dụng chính sách thuế có tính phân tầng theo quy mô doanh nghiệp – một cách tiếp cận đã được nhiều quốc gia áp dụng nhằm hỗ trợ DNNVV phát triển ổn định và bền vững. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhỏ thường cần một giai đoạn tích lũy nhất định để đạt được hiệu quả tài chính và đủ điều kiện để chịu mức thuế suất tương đương với doanh nghiệp lớn. Ngoài ra, phần lớn quy định dừng lại ở nguyên tắc chung, chưa có cơ chế chấm điểm, đánh giá hoặc quy trình xét duyệt rõ ràng, dẫn đến khó kiểm chứng và giám sát trên thực tế. Đồng thời, các hỗ trợ cụ thể như tư vấn, đào tạo hay chuyển đổi số tuy có giá trị tham khảo, nhưng vẫn chưa phù hợp với nhu cầu thực tiễn hoặc chưa đủ sức hấp dẫn để khuyến khích doanh nghiệp tham gia.

Thứ ba, một số quyết định nổi bật của Thủ tướng Chính phủ như Quyết định số 939/QĐ-TTg ngày 30/6/2017 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ phụ nữ khởi nghiệp” (Đề án 939), nhằm nâng cao nhận thức về khởi nghiệp cho phụ nữ. Đề án đặt ra mục tiêu hỗ trợ 20.000 phụ nữ trên toàn quốc khởi nghiệp và phát triển kinh doanh, 1.200 tổ hợp tác và hợp tác xã do phụ nữ quản lý, và 10.000 doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ. Để hiện thực hóa mục tiêu này, các khoản chi hỗ trợ nhân rộng mô hình kinh doanh, phát triển mạng lưới cố vấn cho doanh nghiệp nữ được triển khai trên quy mô toàn quốc.[23]

Một văn bản quan trọng gần đây là Nghị quyết số 66/NQ‑CP ngày 26/3/2025 của Chính phủ nhấn mạnh việc lồng ghép bình đẳng giới vào kế hoạch phát triển kinh tế tư nhân và đề ra một số mục tiêu cụ thể như tăng tỷ lệ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, yêu cầu các bộ, ngành địa phương lồng ghép các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nữ vào kế hoạch hành động phát triển kinh tế và thúc đẩy các cơ chế khuyến khích doanh nhân nữ trong đào tạo, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cũng như tiếp cận tài chính và thị trường.

Nhìn chung, hệ thống pháp luật và chính sách hiện hành của Việt Nam đã có những bước tiến quan trọng nhưng hiện chỉ dừng ở mức hướng dẫn và khuyến khích và các biện pháp hỗ trợ chưa chú trọng đúng mức vào nhóm phụ nữ thu nhập thấp – vốn là đối tượng cốt lõi của mô hình này. Điều này có thể gây khó khăn trong quá trình xác định, phân loại và công nhận doanh nghiệp bao trùm lồng ghép giới còn gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi chính sách. Phần tiếp theo sẽ làm rõ vấn đề này thông qua phân tích thực tiễn triển khai pháp luật, chính sách về kinh doanh bao trùm lồng ghép giới tại Việt Nam.

3.3. Thực tiễn triển khai chính sách, pháp luật về kinh doanh bao trùm lồng ghép giới tại Việt Nam

Mặc dù Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách liên quan, khoảng cách giữa khung pháp lý và hiệu quả thực thi vẫn còn lớn, chủ yếu do ba nguyên nhân: sự phối hợp liên ngành thiếu đồng bộ; năng lực cán bộ địa phương còn hạn chế; và nguồn lực tài chính chưa đảm bảo, phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ quốc tế.

Về tổ chức thực hiện, dù cơ chế phân công giữa các cơ quan trung ương tương đối rõ ràng, việc phối hợp ở cấp địa phương còn thiếu hiệu quả, dẫn đến chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Về năng lực, nhiều cán bộ cơ sở chưa được đào tạo chuyên sâu về bình đẳng giới và kinh doanh bao trùm; hoạt động tập huấn còn mang tính hình thức, thiếu tính thực tiễn và không được duy trì thường xuyên. Về tài chính, một số chương trình chậm giải ngân hoặc thiếu kinh phí, khiến việc triển khai phụ thuộc đáng kể vào các tổ chức quốc tế, đặt ra vấn đề về tính bền vững.

Kết quả phỏng vấn cho thấy mức độ nhận biết và tiếp cận chính sách của nữ doanh nhân còn thấp do truyền thông kém hiệu quả, thủ tục phức tạp và tâm lý e ngại. [24] Nhiều người không chủ động tiếp cận vì thiếu thông tin hoặc thiếu niềm tin vào chính sách, tạo ra vòng luẩn quẩn giữa mức độ tham gia thấp và thiếu dữ liệu thực tiễn để hoàn thiện chính sách. [25]

Bên cạnh đó, vai trò của các tổ chức hỗ trợ và hiệp hội nghề nghiệp chưa được phát huy hiệu quả; việc tiếp cận các chương trình còn mang tính ngẫu nhiên, thiếu hệ thống thông tin và kết nối. Nội dung hỗ trợ đôi khi trùng lặp, chưa đáp ứng đúng nhu cầu đặc thù của phụ nữ.

Nhìn chung, trong khi chính sách ngày càng nhấn mạnh yếu tố bao trùm và bình đẳng giới, mức độ thụ hưởng thực tế của phụ nữ vẫn hạn chế. Điều này phản ánh sự lệch pha giữa động lực phát triển từ khu vực doanh nghiệp và độ trễ của chính sách, đặt ra thách thức đối với việc mở rộng và phát triển bền vững mô hình kinh doanh bao trùm trong tương lai.

4. Kinh nghiệm của một số quốc gia ASEAN trong xây dựng khung pháp lý về kinh doanh bao trùm lồng ghép giới

Trong những năm gần đây, mô hình kinh doanh bao trùm ngày càng được nhiều quốc gia ASEAN quan tâm như một công cụ chính sách nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững, đồng thời lồng ghép hiệu quả mục tiêu bình đẳng giới.[26] Một số quốc gia trong khu vực đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng khung pháp lý nhằm thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp vào mô hình này, trong đó tiêu biểu có thể kể đến Indonesia, Philippines và Campuchia. Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia này, do đó, có thể cung cấp nhiều bài học có giá trị tham khảo cho Việt Nam.

4.1. Kinh nghiệm của Indonesia: thiết lập cơ chế chính sách công nhận và hỗ trợ kinh doanh bao trùm lồng ghép giới

Indonesia đã có nhiều nỗ lực lồng ghép yếu tố giới vào chính sách phát triển kinh tế qua các luật về bình đẳng giới, tín dụng ưu đãi cho DNNVV (Luật số 20/2008) và chương trình trao quyền cho phụ nữ.[27] Hơn nữa, nước này cũng sớm thử nghiệm mô hình kinh doanh bao trùm từ năm 2013 dưới sự bảo trợ của ADB nhưng gặp vướng mắc do thiếu khung chính sách đồng bộ và thủ tục hành chính rườm rà. Nhằm khắc phục tình trạng này, chính phủ Indonesia đã thành lập các cơ quan chuyên biệt, đồng thời triển khai các chương trình ở quy mô quốc gia nhằm thúc đẩy mô hình kinh doanh bao trùm.

Các định hướng chính sách trên tiếp tục được cụ thể thực hóa thông qua chương trình quốc gia và văn bản pháp luật mang tính định hướng. Điển hình là Chiến lược Quốc gia về Tài chính Toàn diện (SNFI) 2020, với mục tiêu đạt tỷ lệ bao phủ dịch vụ tài chính lên 90% vào năm 2024. Chiến lược này xác định phụ nữ là nhóm đối tượng trọng tâm trong các sáng kiến tăng cường tiếp cận tài chính, từ tài chính số, tài chính vi mô cho đến các biện pháp bảo vệ người tiêu dùng. Cùng với đó, các chương trình hỗ trợ vay vốn như PNM Mekaar đã thành công trọng việc cung cấp vốn không cần thế chấp cho hơn 13 triệu phụ nữ nghèo, qua đó thúc đẩy mạnh mẽ bao trùm tài chính giới – một yếu tố then chốt trong phát triển kinh doanh bao trùm lồng ghép giới tại Indonesia.

Tóm lại, Indonesia đã chủ động và tích cực xây dựng nhiều khuôn khổ pháp lý và chính sách hỗ trợ nhưng các quy định hiện vẫn phân tán, chưa có khung pháp lý toàn diện và chuyên biệt để điều chỉnh mô hình này.

4.2. Kinh nghiệm của Philippines: xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ kinh doanh bao trùm lồng ghép giới đa tầng

Philippines là quốc gia ASEAN tiên phong với hệ thống chính sách kinh doanh bao trùm tương đối hoàn chỉnh.[28] Sự phối hợp giữa Nhà nước và khu vực tư nhân đã tạo nền tảng để mô hình này dần được luật hóa.

Quốc gia này ưu tiên thu hút đầu tư cho các dự án nông nghiệp và du lịch bao trùm.[29] Hơn nữa, đơn vị chuyên trách do Hội đồng Đầu tư BOI thành lập có nhiệm vụ thẩm định các hồ sơ đăng ký đầu tư có khả năng vận hành theo mô hình bao trùm để cấp ưu đãi. Không chỉ dừng lại ở các mục tiêu chung, các Luật số 9710, Luật số 9501, Đạo luật Phụ nữ trong Phát triển và Xây dựng Quốc gia trước hết nghiêm cấm hành vi phân biệt đối xử trong tiếp cận vốn dựa trên giới tính, đảm bảo quyền tiếp cận vốn và nguồn lực cho doanh nghiệp cho phụ nữ và thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào nền kinh tế.[30]

Năm 2021, dự luật số 9316 của Hạ viện – Đạo luật thúc đẩy Doanh nghiệp Bao trùm nhằm tăng cường sự tham gia của khu vực tư nhân trong phát triển toàn diện, và Dự luật số 2242 của Thượng viện – Đạo luật thúc đẩy trao quyền kinh tế cho phụ nữ đều đề xuất thành lập Ủy ban Chỉ đạo Doanh nghiệp Bao trùm Quốc gia trực thuộc BOI. Ủy ban này được giao trọng trách xây dựng Chiến lược và Kế hoạch hành động quốc gia về doanh nghiệp bao trùm, đồng thời xây dựng cơ chế công nhận kèm theo các ưu đãi thuế có thời hạn lên đến 5 năm cho doanh nghiệp đạt chứng nhận.[31]

Nhờ đó, Philippines đạt điểm cao về chỉ số doanh nghiệp bao trùm cho phụ nữ (đạt 5.28 trên 6 điểm),[32] và từng bước đưa mô hình này trở thành trụ cột trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.

2-1777880305.jpg

Thủ đô Manila, Philippines

4.3. Kinh nghiệm của Campuchia: Tích hợp kinh doanh bao trùm vào chính sách quốc gia

Campuchia cũng là quốc gia ASEAN sớm triển khai chính sách kinh doanh bao trùm một cách hệ thống,[33] với Chiến lược Quốc gia (2019-2023) đặt trọng tâm phát triển bao trùm và trao quyền kinh tế cho phụ nữ.[34] Bộ Công nghiệp, Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (MISTI) của Campuchia đã giới thiệu Chiến lược Môi trường Hỗ trợ Kinh doanh Bao trùm (IBeeC) vào năm 2020, nhằm thiết lập cơ chế công nhận doanh nghiệp bao trùm với bốn tiêu chí cốt lõi: cam kết chiến lược, tính thương mại, tác động xã hội và yếu tố đổi mới sáng tạo. Điểm đáng chú ý là cơ chế này hoàn toàn tự nguyện và không mang tính ràng buộc về mặt đăng ký kinh doanh, phản ánh tính linh hoạt trong khung chính sách của Campuchia.[35]

Bên cạnh đó, Campuchia đã triển khai Chương trình Huấn luyện và Cố vấn Kinh doanh Bao trùm (IB-CM), một sáng kiến được thiết kế để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ chuyển đổi mô hình.[36] Hơn nữa, các tổ chức trung gian như Phòng Thương mại, Hiệp hội Doanh nhân trẻ và Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đóng vai trò tích cực trong việc nâng cao nhận thức, vận động chính sách và kết nối doanh nghiệp, góp phần tạo ra một mạng lưới hỗ trợ rộng rãi nhằm nhân rộng các tác động xã hội tích cực. Mặc dù có tiềm năng lớn, mô hình này vẫn đang trong giai đoạn sơ khai, gặp nhiều khó khăn do quy mô doanh nghiệp siêu nhỏ, hạn chế về vốn lẫn năng lực quản trị và thiếu cơ chế tài chính phù hợp.

5. Một số khuyến nghị hoàn thiện khung pháp lý về kinh doanh bao trùm lồng ghép giới tại Việt Nam

Trong bối cảnh hiện nay, việc thể chế hóa mô hình kinh doanh bao trùm lồng ghép giới có ý nghĩa quan trọng đối với định hướng phát triển kinh tế – xã hội bền vững của Việt Nam. Khung pháp lý cần được hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện thuận lợi để các nhóm yếu thế, đặc biệt là phụ nữ, tham gia một cách công bằng và thực chất vào các chuỗi giá trị. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước, từ xây dựng cơ chế công nhận, tiêu chí đánh giá đến thiết kế các chính sách ưu đãi và hỗ trợ phù hợp, đồng thời tham khảo kinh nghiệm quốc tế, nhất là từ các quốc gia ASEAN.

Thứ nhất, cần bổ sung quy định về kinh doanh bao trùm lồng ghép giới trong các luật chuyên ngành như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư hoặc Luật Hỗ trợ DNNVV. Các quy định này cần xác định rõ tiêu chí công nhận doanh nghiệp bao trùm, như tỷ lệ lao động nữ, cơ hội thăng tiến, hay mức độ tham gia của phụ nữ trong chuỗi giá trị.

Thứ hai, cần thiết lập một cơ quan điều phối quốc gia có trọng tâm về lồng ghép giới nhằm giám sát, kết nối chính sách và hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp, qua đó bảo đảm sự gắn kết với các mục tiêu bình đẳng giới.

Thứ ba, cần hoàn thiện các chính sách tài chính theo hướng thiết thực hơn, bao gồm ưu đãi tín dụng cho doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, ưu đãi thuế có thời hạn, và khuyến khích các khoản đầu tư vào đào tạo, phúc lợi và sản phẩm hướng tới phụ nữ.

Cuối cùng, cần xây dựng cơ chế giám sát và báo cáo với các chỉ số định lượng về giới. Việc công khai dữ liệu trên nền tảng số sẽ giúp nâng cao minh bạch, trách nhiệm giải trình và đánh giá hiệu quả chính sách.

6. Kết luận

Mô hình kinh doanh bao trùm lồng ghép giới đã và đang khẳng định vai trò như một công cụ quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển bền vững, kết hợp hài hòa giữa hiệu quả kinh tế và tác động xã hội. Ở Việt Nam, mặc dù mô hình này mới bước đầu được đề cập trong một số văn bản pháp lý, nhưng tiềm năng phát triển là rất lớn trong bối cảnh đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế và thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

Để hiện thực hóa tiềm năng của mô hình kinh doanh bao trùm lồng ghép giới, Việt Nam cần có sự phối hợp đồng bộ giữa hoàn thiện khung pháp lý, phát triển thể chế và thúc đẩy hợp tác đa phương. Cụ thể, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý theo hướng cụ thể hóa các quy định tài chính - tín dụng ưu đãi, tăng cường thí điểm và có cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả. Đồng thời, việc thành lập cơ quan chuyên trách và thí điểm trên các ngành nghề phù hợp là bước tiếp theo để thực thi các quy định trên trong thực tế. Việc xây dựng một khung khổ pháp lý toàn diện, phù hợp với đặc thù quốc gia và tiếp cận thông lệ quốc tế sẽ góp phần quan trọng trong việc biến kinh doanh bao trùm lồng ghép giới thành động lực phát triển bền vững, thực hiện mục tiêu "không ai bị bỏ lại phía sau" trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

--------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. APEC, “APEC Women as Prime Movers of Inclusive Business,” 2018. Truy cập ngày 3/11/2025. https://www.apec.org/publications/2018/04/apec-women-as-prime-movers-of-inclusive-movers.

2. ASEAN. “Guideline for the Promotion of Inclusive Business in ASEAN.”2021. Truy cập ngày 3/11/2025. https://asean.org/wp-content/uploads/2021/09/6.-ASEAN-IB-Promotion-Guidelines-Endorsed-at-the-52nd-AEM.pdf.

3. Asian Development Bank (ADB). How Inclusive Is Inclusive Business for Women? Examples from Asia and Latin America. Asian Development Bank, 2016.

4. Berdegué, Julio A., Estelle Biénabe, và Lucian Peppelenbos. Keys to Inclusion of Small-Scale Producers in Dynamic Markets – Innovative Practice in Connecting Small-Scale Producers with Dynamic Markets. Regoverning Markets Innovative Practice series. International Institute for Environment and Development (IIED), 2008.

5. Department of Trade and Industry Philippines (DTI). “Guide to the Magna Carta for Micro, Small and Medium Enterprises.” 2010. Truy cập ngày 31/10/2025. https://www.smefinanceforum.org/sites/default/files/blogs/2010_RA_9501_Magna_Carta_for_MSMEs.pdf.

6. ERIA/OECD, “SME Policy Index: ASEAN 2024 - Enabling Sustainable Growth and Digitalisation”. Truy cập ngày 31/10/2025. https://asean.org/wp-content/uploads/2024/09/Full-Report_ASEAN-SME-Policy-Index-2024_20-Sept-2024.pdf

7. FAO. Inclusive Business Models: Guidelines for Improving Linkages Between Producer Groups and Buyers of Agricultural Produce. Food and Agriculture Organization of the United Nations, 2015.

9. GIZ. “Inclusive Business Guide: Inclusive Business for Private Sector Development – Setting Up a Policy Development Programme to Enable Inclusive Business.” 2023. Truy cập ngày 30/9/2025. https://endeva.org/wp-content/uploads/2023/05/inclusive-business-guide-inclusive-business-for-private-sector-development-part-1-1.pdf.

10. Honkajuuri, Heidi. “Women’s Economic Empowerment in Cambodia: Analysis of Gender Mainstreaming in the National Strategic Development Plan (2019–2023).” Master’s thesis, University of Jyväskylä, 2023.


[1] Cục Thống kê, “Thông cáo báo chí về tình hình lao động việc làm quý I năm 2025,” 6/4/2025, truy cập ngày 31/10/2025, https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2025/04/Thong-cao-bao-chi-lao-dong-viec-lam-QI-2025.pdf.

[2] Julio A. Berdegue, Estelle Bienabe, và Lucian Peppelenbos, Keys to inclusion of small-scale producers in dynamic markets – Innovative practice in connecting small-scale producers with dynamic markets, Regoverning Markets Innovative Practice series (International Institute for Environment and Development (IIED), 2008), 21-34.

[3] Asian Development Bank (ADB), How Inclusive is Inclusive Business for Women? Examples from Asia and Latin America, (ADB, 2016), 12.

[4] FAO, Inclusive Business Models. Guidelines for Improving Linkages Between Producer Groups and Buyers of Agricultural Produce (FAO, 2015), 17.

[5] ADB, How Inclusive is Inclusive Business for Women?, 15.

[6] ASEAN, “Guideline for the Promotion of Inclusive Business in ASEAN,” 2021, truy cập ngày 3/11/2025, https://asean.org/wp-content/uploads/2021/09/6.-ASEAN-IB-Promotion-Guidelines-Endorsed-at-the-52nd-AEM.pdf, 4.

[7] UNESCAP, “Landscape Study of Inclusive Business in Viet Nam,” 2021, truy cập ngày 31/10/2025, https://www.unescap.org/kp/2021/landscape-study-inclusive-business-viet-nam.

[8] UN Women, “Gender Equality in the 2030 Agenda for Sustainable Development,” 2018, truy cập ngày 3/11/2025, https://www.unwomen.org/en/digital-library/publications/2018/2/gender-equality-in-the-2030-agenda-for-sustainable-development-2018, 12.

[9] APEC, “APEC Women as Prime Movers of Inclusive Business,” 2018, truy cập ngày 3/11/2025, https://www.apec.org/publications/2018/04/apec-women-as-prime-movers-of-inclusive-movers, 48.

[10] UN Women, “Women’s Economic Empowerment Strategy,” 2024, truy cập ngày 3/11/2025, https://www.unwomen.org/sites/default/files/2024-03/un-women-womens-economic-empowerment-strategy-en.pdf, 17.

[11] Marta Pérez Cusó, Duygu Cinar, “Rethinking growth: Why governments should promote inclusive business,” UNESCAP Blog, 2025, truy cập ngày 3/11/2025, https://www.unescap.org/blog/rethinking-growth-why-governments-should-promote-inclusive-business.

[12] ASEAN, “Guidelines for the Promotion of Inclusive Business in ASEAN”, 4.

[13] ADB, How Inclusive is Inclusive Business for Women?, 15.

[14] UN Women, “Economic Empowerment Strategy”, 23.

[15] ADB, How Inclusive is Inclusive Business for Women?, 16.

[16] OECD, “Gender Equality and the Empowerment of Women and Girls: DAC Guidance for Development Partners” (OECD Publishing, 2022), truy cập ngày 3/11/2025, https://www.oecd.org/en/publications/2022/05/gender-equality-and-the-empowerment-of-women-and-girls_9fbdf09e.html.

[17] ADB, How Inclusive is Inclusive Business for Women?, 26.

[18] Quyết định số 167/QĐ-TTg ngày 8/2/2022 Phê duyệt “Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững giai đoạn 2022-2025

[19] Thông tư số 13/2023/TT-BKHĐT ngày 12/12/2023 Hướng dẫn cơ chế tổ chức thực hiện “Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp khu vực tư nhân kinh doanh bền vững giai đoạn 2022-2025

[20] UNESCAP and Agency for Enterprise Development, Ministry of Planning and Investment (AED/MPI), “Manual for Inclusive Business Accreditation in Viet Nam,” truy cập ngày 10/11/2025, https://repository.unescap.org/items/202b2de2-436c-467f-8f09-179ed7ed7cd5.

[21] Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Điều 13

[22] Nghị định số 80/2021/NĐ-CP, Điều 11.

[23] Thông tư 53/2022/TT-BTC ngày 12/8/2022 quy định quản lý và sử dụng kinh phí sự nghiệp từ nguồn ngân sách trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021-2025

[24] Phạm Hùng, “Hội nghị tổng kết công tác năm 2023, triển khai nhiệm vụ năm 2024 và Hội nghị cán bộ, viên chức năm 2023 của Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản,” Tạp chí Cộng sản,  2024, truy cập ngày 31/10/2025, https://tapchicongsan.org.vn/chi-tiet-tim-kiem/-/2018/869803/hoi-nghi-tong-ket-cong-tac-nam-2023%2C-trien-khai-nhiem-vu-nam-2024--va-hoi-nghi-can-bo%2C-vien-chuc-nam-2023-cua-bo-bien-tap-tap-chi-cong-san.aspx

[25] Lê Công Hữu, “Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới,” Tạp chí Cộng sản, 2025, truy cập ngày 10/11/2025, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/thuc-tien-kinh-nghiem1/-/2018/1049102/doi-moi-cong-tac-dao-tao%2C-boi-duong-can-bo-de-dap-ung-yeu-cau%2C-nhiem-vu-trong-tinh-hinh-moi.aspx.

[26] ASEAN, “Guideline for the Promotion of Inclusive Business in ASEAN,” 29.

[27] The Asian Banker, “DANA and Ant International Hold SisBerdaya 2024 to Empower Women Entrepreneurs,” 6/8/2024, truy cập ngày 1/11/2025, https://www.theasianbanker.com/press-releases/dana,-ant-international-hold-sisberdaya-2024-to-empower-women-entrepreneurs.

[28] iBAN Philippines, “Ten Years of Inclusive Business in the Philippines,” 3/11/2022, truy cập ngày 30/5/2025, https://www.inclusivebusiness.net/sites/default/files/2022-11/Ten%20Years%20of%20Inclusive%20Business%20in%20the%20Philippines.pdf.

[29] iBan Philippines, “Ten Years of Inclusive Business,” 34.

[30] Department of Trade and Industry Philippines (2010), “Guide to the Magna Carta for Micro, Small and Medium Enterprises,” 2010, truy cập ngày 31/10/2025, https://www.smefinanceforum.org/sites/default/files/blogs/2010_RA_9501_Magna_Carta_for_ MSMEs.pdf; World Bank, “Women, Business and the Law 2024 - Philippines Country Snapshot,” 2024, truy cập ngày 31/10/2025, https://wbl.worldbank.org/content/dam/documents/wbl/2024/pilot/WBL24-2-0-Philippines.pdf; Philippine Commission on Women, “Republic Act 9710: The Magna Carta of Women,” 2009, truy cập ngày 31/10/2025, https://pcw.gov.ph/magna-carta-of-women/.

[31] iBan Philippines, “Ten Years of Inclusive Business”, 34.

[32] ERIA/OECD, “SME Policy Index: ASEAN 2024 - Enabling Sustainable Growth and Digitalisation,” truy cập ngày 31/10/2025, https://asean.org/wp-content/uploads/2024/09/Full-Report_ASEAN-SME-Policy-Index-2024_20-Sept-2024.pdf

[33] UNESCAP & iBAN, “Landscape Study: Inclusive Business in Cambodia,” 2020, truy cập ngày 31/10/2025, https://www.unescap.org/sites/default/d8files/knowledge-products/Landscape%20Study%20Inclusive%20Business%20Cambodia%20ESCAP%20iBAN%202021%20REPORT%20Final.pdf.

[34] Heidi Honkajuuri, “Women’s Economic Empowerment in Cambodia: Analysis of gender mainstreaming in the National Strategic Development Plan (2019-2023)” (Master’s Thesis, University of Jyvaskyla, 2023), 29; Seyhah Ven and Lien Pham, “Gender Equality and Women’s Empowerment in Cambodia: A Review of National Policies and Strategies,” truy cập ngày 31/10/2025, https://www.thrivenetworks.org/uploads/files/eng1680778117.pdf.

[35] GIZ, “Inclusive Business Guide: Inclusive Business for Private Sector Development – Setting Up a Policy

Development Programme to Enable Inclusive Business,” 2023, truy cập ngày 30/9/2025, https://endeva.org/wp-content/uploads/2023/05/inclusive-business-guide-inclusive-business-for-private-sector-development-part-1-1.pdf.

[36] GIZ, “Inclusive Business Coaching and Mentoring Guide (IB-CM) for Cambodia,” 2022, truy cập ngày 31/10/2025, https://www.inclusivebusiness.net/sites/default/files/2022-12/IB%20Guideline.pdf.

TS Đào Kim Anh; Phạm Xuân Phong (Khoa Luật, Trường ĐH Ngoại thương)

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin