Tóm tắt: Cách tiếp cận này không phủ nhận giá trị của cách tiếp cận hệ thống pháp luật, nhưng vượt qua giới hạn của tư duy pháp luật khép kín, văn bản trung tâm, để nhận thức pháp luật như một chỉnh thể mở, động, đa tầng, đa chủ thể, vận hành trong quan hệ tương tác với chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo đức, công nghệ, dữ liệu, con người và môi trường phát triển. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ sự chuyển đổi từ cách tiếp cận hệ thống pháp luật sang cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật; xác định nội hàm, đặc điểm và ý nghĩa phương pháp luận của cách tiếp cận này đối với hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Luận điểm trung tâm của bài viết là: để pháp luật trở thành nền tảng, động lực và lợi thế phát triển quốc gia, việc hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật cần được đặt trong nhiệm vụ rộng hơn là xây dựng hệ sinh thái pháp luật lành mạnh, hiện đại, nhân văn, số hóa, hội nhập và kiến tạo phát triển.
Từ khóa: Hệ sinh thái pháp luật; cách tiếp cận mới về pháp luật; hệ thống pháp luật; hoàn thiện pháp luật; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thể chế phát triển; kỷ nguyên phát triển mới.
LEGAL ECOSYSTEM: A NEW APPROACH TO LAW AND THE IMPROVEMENT OF VIETNAM’S LEGAL SYSTEM IN A NEW ERA
Abstract: This article examines the legal ecosystem as a renewed approach to understanding law in Vietnam’s new development era. The approach does not negate the value of the legal-system perspective, but expands it by moving beyond a closed, text-centred and norm-centred view of law. Law is analysed as an open, dynamic, multi-layered and multi-actor whole that operates through interactions among legal norms, institutions, legal subjects, legal conduct, legal culture, technology, data and the broader development environment. By clarifying the transition from the legal-system approach to the legal-ecosystem approach, the article identifies the concept, characteristics, structure and methodological significance of the legal ecosystem. It argues that improving Vietnam’s legal system in the new era should not be limited to revising legal documents, but should be situated within the broader task of building a healthy, modern, humane, digital, integrated and development-enabling legal ecosystem.
Keywords: legal ecosystem; legal system; law reform; rule of law; development-oriented institutions; digital transformation.

Đặt vấn đề
Trong kỷ nguyên mới, pháp luật ngày càng giữ vị trí trung tâm trong kiến tạo phát triển, kiểm soát quyền lực, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo đảm công lý, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nhanh, bền vững. Pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội, mà còn là phương thức tổ chức quyền lực, phân bổ nguồn lực, điều hòa lợi ích, bảo đảm trật tự, tạo lập niềm tin và mở đường cho phát triển. Vì vậy, nhận thức về pháp luật cũng cần được đổi mới tương ứng với sự vận động mới của đất nước và thời đại.
Cách tiếp cận truyền thống về pháp luật, đặc biệt là cách tiếp cận hệ thống pháp luật, có giá trị nền tảng trong nhận diện cấu trúc bên trong của pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ và thứ bậc của pháp luật. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn pháp luật như một hệ thống quy phạm, văn bản, chế định và ngành luật thì chưa đủ để giải thích đầy đủ đời sống pháp luật hiện đại. Thực tiễn cho thấy, hiệu lực, hiệu quả và giá trị phát triển của pháp luật không chỉ phụ thuộc vào chất lượng văn bản pháp luật, mà còn phụ thuộc vào chất lượng thiết chế thực thi, năng lực chủ thể, văn hóa pháp luật, đạo đức công vụ, cơ chế phản hồi xã hội, dữ liệu pháp lý, công nghệ pháp lý và niềm tin của xã hội vào pháp luật.
Yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra đòi hỏi phải chuyển mạnh từ tư duy pháp luật thiên về quản lý sang tư duy pháp luật kiến tạo phát triển; từ tư duy xây dựng văn bản sang tư duy thiết kế thể chế; từ tư duy pháp luật đơn ngành sang tư duy pháp luật liên ngành; từ tư duy pháp luật tĩnh sang tư duy pháp luật động, mở và thích ứng. Quan điểm của Đảng tại Đại hội XIV về hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng, cho thấy một tầm nhìn mới về thể chế như một chỉnh thể phát triển đa tầng, liên thông và tương tác[1]. Từ góc nhìn đó, có thể khái quát thành yêu cầu xây dựng hệ sinh thái thể chế phát triển, trong đó hệ sinh thái pháp luật giữ vai trò trung tâm, bởi pháp luật là hình thức thể chế hóa cơ bản, phổ biến và có hiệu lực bắt buộc chung của các định hướng phát triển.
Do đó, nghiên cứu hệ sinh thái pháp luật không chỉ là một vấn đề thuật ngữ, mà là một yêu cầu đổi mới tư duy pháp lý. Vấn đề đặt ra là: cần nhận thức pháp luật như thế nào để pháp luật không chỉ “đúng” về mặt hình thức, mà còn “sống” trong thực tiễn, “thấm” vào hành vi xã hội, “mở đường” cho phát triển, “kiểm soát” được quyền lực, “bảo vệ” được con người và “thích ứng” được với tương lai? Bài viết tiếp cận hệ sinh thái pháp luật như một cách tiếp cận mới về pháp luật, qua đó gợi mở phương pháp luận cho hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
Về tổng quan, các nghiên cứu lý luận pháp luật ở Việt Nam đã phân tích khá sâu hệ thống pháp luật, văn hóa pháp luật, đời sống pháp luật, Nhà nước pháp quyền và yêu cầu hoàn thiện thể chế phát triển. Trong nghiên cứu quốc tế, các tiếp cận về pháp luật như một hệ thống xã hội, pháp luật và phát triển, quản trị pháp quyền, đánh giá tác động pháp luật và công nghệ pháp lý cũng gợi mở nhiều chiều cạnh quan trọng. Tuy nhiên, các hướng tiếp cận này chưa được kết nối đầy đủ trong một khung phân tích thống nhất để lý giải đồng thời cấu trúc quy phạm, môi trường vận hành, năng lực thực thi, văn hóa tuân thủ, công nghệ, dữ liệu và khả năng phản hồi của pháp luật. Đó là khoảng trống mà bài viết này hướng tới khi luận giải hệ sinh thái pháp luật như một khung nhận thức bổ sung cho cách tiếp cận hệ thống pháp luật.
Bài viết tập trung trả lời ba câu hỏi: hệ sinh thái pháp luật là gì; cách tiếp cận này khác gì và bổ sung gì cho cách tiếp cận hệ thống pháp luật; và việc vận dụng cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật có ý nghĩa như thế nào đối với hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Về phương pháp, bài viết sử dụng phương pháp phân tích lý luận, phân tích văn kiện chính sách, phân tích hệ thống, so sánh khái niệm và tổng hợp thực tiễn. Trọng tâm của bài viết không phải là khảo sát một ngành luật cụ thể, mà là xây dựng một khung phương pháp luận có thể vận dụng cho nghiên cứu, xây dựng, thi hành và đánh giá pháp luật.
1. Từ cách tiếp cận hệ thống pháp luật đến cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật
1.1. Giá trị của cách tiếp cận hệ thống pháp luật
Cách tiếp cận hệ thống pháp luật là một thành tựu quan trọng của lý luận pháp luật hiện đại. Cách tiếp cận này cho phép nhận diện pháp luật như một chỉnh thể có cấu trúc, bao gồm quy phạm pháp luật, chế định pháp luật, ngành luật, văn bản pháp luật, nguồn luật và các quan hệ pháp luật được sắp xếp theo những nguyên tắc nhất định. Nhờ đó, pháp luật được xem xét không phải như những quy định rời rạc, mà như một hệ thống có tính thống nhất, đồng bộ, thứ bậc và khả năng điều chỉnh xã hội.
Giá trị lớn nhất của cách tiếp cận hệ thống pháp luật là bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và tính đồng bộ của pháp luật. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật phải được xây dựng trên nền tảng Hiến pháp, bảo đảm sự thống nhất giữa các ngành luật, các chế định pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật và các cấp độ hiệu lực pháp lý. Nếu thiếu tư duy hệ thống, pháp luật dễ rơi vào tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, phân tán, cục bộ, làm suy giảm hiệu lực điều chỉnh và gây khó khăn cho thực thi.
Cách tiếp cận hệ thống pháp luật cũng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động lập pháp, pháp điển hóa, hệ thống hóa, rà soát và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật. Nó giúp nhận diện vị trí của từng quy phạm, từng chế định, từng ngành luật trong chỉnh thể pháp luật; đồng thời là cơ sở để đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật trên các tiêu chí như tính đầy đủ, tính thống nhất, tính đồng bộ, tính minh bạch, tính ổn định và tính khả thi.
Trong điều kiện Việt Nam, cách tiếp cận hệ thống pháp luật vẫn giữ vai trò nền tảng, nhất là trong bối cảnh yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển đất nước nhanh, bền vững. Nghị quyết 66-NQ/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh mục tiêu đến năm 2030 xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi, có cơ chế tổ chức thực hiện nghiêm minh, nhất quán, mở đường cho kiến tạo phát triển[2]. Điều đó cho thấy cách tiếp cận hệ thống pháp luật không mất đi giá trị, mà cần được đặt trong một cách tiếp cận rộng hơn, động hơn và thực tiễn hơn.
1.2. Những điểm chưa bao quát đầy đủ của cách tiếp cận hệ thống pháp luật
Mặc dù có giá trị nền tảng, cách tiếp cận hệ thống pháp luật vẫn có những điểm chưa bao quát đầy đủ. Điểm chưa bao quát đầy đủ thứ nhất là xu hướng đồng nhất pháp luật với văn bản pháp luật, đồng nhất hoàn thiện pháp luật với sửa đổi, bổ sung văn bản pháp luật, đồng nhất chất lượng pháp luật với tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất và đồng bộ về mặt hình thức. Trong khi đó, đời sống pháp luật hiện đại phức tạp hơn rất nhiều so với cấu trúc văn bản của pháp luật.
Pháp luật không chỉ tồn tại trên giấy, mà tồn tại trong hành vi xã hội, trong hoạt động của thiết chế công quyền, trong thực tiễn xét xử, kiểm sát, quản lý hành chính, thi hành án, trong hoạt động của doanh nghiệp, người dân, tổ chức xã hội, truyền thông, cơ sở đào tạo, giới khoa học và các chủ thể quốc tế. Một quy phạm pháp luật có thể hợp hiến, hợp pháp và đúng về mặt kỹ thuật, nhưng vẫn có thể khó thực hiện, chi phí tuân thủ cao, không phù hợp với năng lực thiết chế, không được xã hội chấp nhận hoặc không tạo ra tác động phát triển như mong muốn.
Điểm chưa bao quát đầy đủ thứ hai của cách tiếp cận hệ thống pháp luật là thường thiên về trạng thái tĩnh của pháp luật. Nó chú trọng cấu trúc, thứ bậc, sự thống nhất và đồng bộ của các quy phạm, nhưng chưa giải thích đầy đủ quá trình pháp luật được hình thành, vận hành, phản hồi, điều chỉnh và phát triển trong thực tiễn. Trong khi đó, kỷ nguyên mới đặt pháp luật trước những biến đổi nhanh, phức tạp và khó dự báo: kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, tài sản số, biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống, dịch chuyển chuỗi cung ứng, già hóa dân số, phân tầng xã hội, toàn cầu hóa pháp luật và cạnh tranh thể chế.
Điểm chưa bao quát đầy đủ thứ ba là cách tiếp cận hệ thống pháp luật có thể dẫn đến tư duy pháp luật cục bộ, ngành hẹp, nếu mỗi lĩnh vực pháp luật chỉ được xem xét trong phạm vi ngành luật của mình. Nhiều vấn đề mới hiện nay không thể giải quyết bằng tư duy pháp luật đơn ngành. Chẳng hạn, quản trị trí tuệ nhân tạo không chỉ là vấn đề của pháp luật công nghệ; dữ liệu cá nhân không chỉ là vấn đề của pháp luật dân sự; tài sản số không chỉ là vấn đề của pháp luật tài chính; phòng, chống tội phạm công nghệ cao không chỉ là vấn đề của pháp luật hình sự. Đó là những vấn đề liên ngành, đòi hỏi sự tương tác giữa pháp luật, công nghệ, đạo đức, kinh tế, quản trị, quyền con người và an ninh quốc gia.
Chính Đảng ta đã chỉ ra trong Nghị quyết 66-NQ/TW rằng công tác xây dựng và thi hành pháp luật còn những hạn chế như tư duy xây dựng pháp luật trong một số lĩnh vực còn thiên về quản lý; chất lượng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn; còn có quy định chồng chéo, mâu thuẫn, chưa rõ ràng, cản trở thực thi, không thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, thu hút và khơi thông nguồn lực; tổ chức thực thi pháp luật vẫn là khâu yếu; thiếu cơ chế phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả[3]. Những nhận định đó cho thấy, hoàn thiện pháp luật trong kỷ nguyên mới không thể chỉ dừng lại ở hoàn thiện văn bản, mà phải mở rộng sang hoàn thiện toàn bộ môi trường vận hành của pháp luật.
1.3. Nhu cầu hình thành cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật
Từ các giới hạn nêu trên, nhu cầu hình thành cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật xuất hiện như một tất yếu lý luận và thực tiễn. Nếu cách tiếp cận hệ thống pháp luật tập trung vào cấu trúc bên trong của pháp luật, thì cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật đặt pháp luật trong môi trường sống, cơ chế vận hành, quan hệ tương tác và khả năng phát triển của nó. Nói cách khác, hệ thống pháp luật giúp trả lời câu hỏi pháp luật được cấu thành như thế nào; còn hệ sinh thái pháp luật giúp trả lời thêm câu hỏi pháp luật sống, vận hành, tác động, thích ứng và phát triển như thế nào trong đời sống xã hội.
Nhu cầu này trước hết bắt nguồn từ sự biến đổi của vai trò pháp luật. Trong giai đoạn phát triển mới, pháp luật không chỉ có chức năng ghi nhận, cho phép, cấm đoán, xử lý vi phạm hay ổn định trật tự, mà còn phải mở đường cho phát triển, khơi thông nguồn lực, bảo vệ đổi mới sáng tạo, quản trị rủi ro, tạo lập niềm tin và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Pháp luật phải trở thành một bộ phận cấu thành của năng lực phát triển quốc gia. Đây là điểm rất gần với tinh thần của Nghị quyết 66-NQ/TW khi xác định công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; đồng thời yêu cầu đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển[4].
Nhu cầu này còn bắt nguồn từ tư duy mới của Đảng về thể chế phát triển. Văn kiện Đại hội XIV đặt vấn đề hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, xác định thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng[5]. Cách tiếp cận đó cho phép nhận thức thể chế phát triển không phải là một cấu trúc đơn tuyến, mà là một chỉnh thể đa lĩnh vực, đa tầng, liên thông, trong đó các thể chế chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học - công nghệ, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại có quan hệ tương tác với nhau. Từ góc nhìn pháp luật, hệ sinh thái pháp luật chính là bộ phận trung tâm của hệ sinh thái thể chế phát triển, bởi mọi thể chế muốn vận hành ổn định, công khai, minh bạch và có hiệu lực bắt buộc chung đều cần được pháp luật hóa, tổ chức thực hiện và bảo đảm bằng pháp luật.
Nhu cầu hình thành cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật cũng xuất phát từ thực tiễn thi hành pháp luật. Một văn bản pháp luật tốt nhưng thiếu cơ quan thực thi đủ năng lực, thiếu dữ liệu, thiếu nguồn lực, thiếu hướng dẫn, thiếu cơ chế phối hợp, thiếu giám sát và thiếu sự đồng thuận xã hội thì khó phát huy hiệu quả. Ngược lại, một hệ sinh thái pháp luật lành mạnh có thể làm tăng hiệu lực của pháp luật thông qua sự kết hợp giữa quy phạm đúng, thiết chế mạnh, chủ thể có trách nhiệm, văn hóa tuân thủ, công nghệ hỗ trợ, dữ liệu minh bạch và cơ chế phản hồi kịp thời.
Nhu cầu này còn gắn với chuyển đổi số và sự xuất hiện của không gian pháp lý mới. Trong môi trường số, pháp luật không chỉ điều chỉnh quan hệ giữa con người với con người, con người với nhà nước, con người với tài sản, mà còn phải điều chỉnh quan hệ giữa con người với dữ liệu, thuật toán, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo, tài sản số và các chủ thể phi truyền thống. Điều này đòi hỏi pháp luật phải được nhận thức như một hệ sinh thái có khả năng học hỏi, phản ứng và thích ứng. Hệ sinh thái pháp luật vì vậy là cách tiếp cận phù hợp để nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật trong điều kiện kinh tế số, xã hội số và quản trị quốc gia số.
2. Hệ sinh thái pháp luật như một cách tiếp cận mới về pháp luật
Hệ sinh thái pháp luật là cách tiếp cận mới, đặt pháp luật không chỉ trong cấu trúc quy phạm, văn bản, chế định và ngành luật, mà trong quan hệ tương tác với chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo đức, công nghệ, dữ liệu, con người và môi trường phát triển; qua đó nhận thức pháp luật như một chỉnh thể mở, động, đa tầng, đa chủ thể, thích ứng và kiến tạo phát triển. Đây là cách tiếp cận có khả năng kết nối tư duy pháp luật truyền thống với yêu cầu phát triển hiện đại, kết nối pháp luật với thể chế, chính sách, quản trị, công nghệ, văn hóa và con người.
Điểm mới căn bản của cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật là chuyển trọng tâm từ câu hỏi “pháp luật quy định gì?” sang hệ câu hỏi rộng hơn: pháp luật được hình thành từ nhu cầu phát triển nào; phản ánh giá trị nào; do chủ thể nào kiến tạo; được thực hiện bằng thiết chế nào; vận hành trong môi trường xã hội nào; tạo ra tác động gì; có được xã hội chấp nhận hay không; có làm tăng tự do, công lý, an toàn pháp lý, quyền con người, kiểm soát quyền lực và năng lực phát triển quốc gia hay không. Như vậy, pháp luật được nhìn nhận không chỉ như sản phẩm lập pháp, mà như một quá trình xã hội - thể chế - giá trị - công nghệ liên tục vận động.
Về bản chất, hệ sinh thái pháp luật là cách tiếp cận mở về pháp luật. Pháp luật không tồn tại biệt lập, mà luôn gắn với quyền lực chính trị, cấu trúc kinh tế, quan hệ xã hội, chuẩn mực văn hóa, nền tảng đạo đức, trình độ công nghệ, năng lực quản trị, chất lượng con người và yêu cầu phát triển. Do đó, một sự thay đổi lớn trong kinh tế, công nghệ, văn hóa, môi trường hoặc cấu trúc xã hội đều có thể làm thay đổi nhu cầu điều chỉnh pháp luật. Ngược lại, pháp luật cũng có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm phát triển tùy thuộc vào chất lượng thiết kế, thực thi và khả năng thích ứng của nó.
Về phương pháp, cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật đòi hỏi kết hợp phân tích quy phạm với phân tích chính sách, phân tích thiết chế, phân tích xã hội học, phân tích kinh tế, phân tích hành vi, phân tích dữ liệu và tổng kết thực tiễn. Điều này phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa nghiên cứu pháp luật: pháp luật không thể chỉ được nghiên cứu bằng phương pháp diễn giải văn bản, mà cần được nghiên cứu cả bằng phương pháp đánh giá tác động, điều tra xã hội học, phân tích chi phí - lợi ích, phân tích rủi ro, phân tích dữ liệu thực thi và so sánh pháp luật. Cách tiếp cận này cũng tương thích với các lý thuyết hiện đại coi pháp luật là một hiện tượng xã hội phức hợp, có khả năng tự điều chỉnh và tương tác với các hệ thống xã hội khác[6].
Về giá trị, cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật nhấn mạnh rằng pháp luật không thể được đánh giá chỉ bằng tính đúng đắn hình thức. Một hệ sinh thái pháp luật hiện đại, đồng bộ và vận hành hiệu quả phải được đo bằng khả năng bảo vệ công lý, quyền con người, nhân phẩm, tự do, bình đẳng, an toàn pháp lý; khả năng kiểm soát quyền lực và phòng, chống lạm quyền; khả năng bảo đảm trật tự, ổn định, minh bạch, trách nhiệm giải trình; khả năng khuyến khích đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực và phát triển bền vững. Đây chính là sự kết hợp giữa giá trị pháp quyền và giá trị phát triển.
Từ góc độ hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật có ý nghĩa phương pháp luận đặc biệt quan trọng. Nó yêu cầu việc hoàn thiện pháp luật không chỉ tập trung vào sửa đổi, bổ sung văn bản, mà còn phải đồng thời hoàn thiện quy trình xây dựng chính sách, nâng cao chất lượng lập pháp, bảo đảm hiệu quả thi hành, xây dựng văn hóa tuân thủ, phát triển dữ liệu pháp lý, ứng dụng công nghệ số, nâng cao năng lực đội ngũ làm công tác pháp luật, tăng cường phản biện xã hội và thiết lập cơ chế đánh giá tác động thực chất. Đây là điều kiện để pháp luật thực sự trở thành nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ và lợi thế cạnh tranh của quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới[7].
3. Nội hàm và đặc điểm của hệ sinh thái pháp luật
3.1. Nội hàm của hệ sinh thái pháp luật
Hệ sinh thái pháp luật là tổng thể các giá trị pháp luật, nguyên tắc, quy phạm pháp luật, thiết chế pháp luật, chủ thể pháp luật, hành vi pháp lý, văn hóa pháp luật, công nghệ pháp lý, dữ liệu pháp lý và môi trường phát triển có quan hệ tương tác, phụ thuộc, phản hồi và cùng tạo nên đời sống pháp luật của một quốc gia trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Cách hiểu này cho phép nhận thức pháp luật không chỉ như một cấu trúc quy phạm, mà như một chỉnh thể sống động, trong đó pháp luật được hình thành, vận hành, được tiếp nhận, được tuân thủ, được áp dụng, được phản biện và được điều chỉnh trong thực tiễn xã hội.
Nội hàm của hệ sinh thái pháp luật trước hết bao hàm sự thống nhất giữa pháp luật ở trạng thái “tồn tại hình thức” và pháp luật ở trạng thái “vận hành thực tiễn”. Pháp luật ở trạng thái hình thức thể hiện trong Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật, án lệ, điều ước quốc tế, tập quán pháp và các chuẩn mực pháp lý khác. Pháp luật ở trạng thái vận hành thực tiễn thể hiện trong hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp, kiểm sát, thi hành án, thực hiện pháp luật của người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và các thiết chế bổ trợ pháp lý. Vì vậy, một hệ sinh thái pháp luật lành mạnh không chỉ đòi hỏi pháp luật đúng về mặt hình thức, mà còn phải có khả năng đi vào đời sống, điều chỉnh hành vi, bảo vệ công lý, kiểm soát quyền lực và thúc đẩy phát triển.
Nội hàm của hệ sinh thái pháp luật còn bao hàm mối quan hệ giữa pháp luật và môi trường phát triển. Pháp luật luôn vận hành trong một không gian chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo đức, công nghệ và quốc tế nhất định. Sự thay đổi của môi trường phát triển làm thay đổi nhu cầu điều chỉnh pháp luật; ngược lại, pháp luật có thể tạo lập, dẫn dắt hoặc cản trở môi trường phát triển. Do đó, nghiên cứu pháp luật theo cách tiếp cận hệ sinh thái không dừng lại ở việc phân tích văn bản, mà phải phân tích cả điều kiện xã hội của pháp luật, năng lực thiết chế, hành vi của chủ thể, văn hóa tuân thủ, chi phí thực thi, dữ liệu pháp lý và tác động phát triển của pháp luật.
Từ góc độ triết học pháp luật, hệ sinh thái pháp luật thể hiện sự chuyển đổi nhận thức từ pháp luật như một “hệ thống quy tắc” sang pháp luật như một “đời sống pháp lý” của xã hội. Đời sống đó không chỉ gồm các quy định được ban hành bởi nhà nước, mà còn gồm các giá trị, nguyên tắc được pháp luật bảo vệ, các thiết chế bảo đảm thực thi, các chủ thể tham gia, các hành vi pháp lý diễn ra hằng ngày, các niềm tin xã hội đối với pháp luật và các cơ chế phản hồi làm cho pháp luật có khả năng tự điều chỉnh. Đây là điểm khác biệt quan trọng giữa tư duy pháp luật thuần túy quy phạm và tư duy pháp luật theo hệ sinh thái[8].
Có thể khái quát nội hàm của hệ sinh thái pháp luật trên ba tầng. Tầng thứ nhất là tầng chuẩn tắc, gồm hệ giá trị, nguyên tắc và hệ quy phạm pháp luật. Tầng thứ hai là tầng thiết chế - chủ thể, gồm các cơ quan nhà nước, thiết chế tư pháp, thiết chế bổ trợ tư pháp, người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, giới khoa học, truyền thông và các chủ thể quốc tế. Tầng thứ ba là tầng vận hành - phát triển, gồm hành vi pháp lý, văn hóa pháp luật, công nghệ, dữ liệu, cơ chế phản hồi, đánh giá tác động và môi trường phát triển. Ba tầng này không tách rời nhau, mà liên kết, tác động qua lại và cùng quyết định chất lượng của đời sống pháp luật.
3.2. Đặc điểm của hệ sinh thái pháp luật
Hệ sinh thái pháp luật có nhiều đặc điểm, nhưng có thể khái quát thành bốn nhóm cơ bản: nhóm đặc điểm cấu trúc, nhóm đặc điểm vận hành, nhóm đặc điểm giá trị và nhóm đặc điểm phát triển.
Thứ nhất, về cấu trúc, hệ sinh thái pháp luật có tính mở, tính chỉnh thể, tính đa tầng và tính đa chủ thể. Tính mở thể hiện ở chỗ pháp luật không tồn tại biệt lập, mà luôn tiếp nhận tác động từ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, đạo đức, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế. Tính chỉnh thể thể hiện ở sự liên kết giữa giá trị, nguyên tắc, quy phạm, thiết chế, chủ thể, hành vi, văn hóa, công nghệ và dữ liệu pháp lý. Tính đa tầng thể hiện ở các cấp độ vận hành của pháp luật, từ Hiến pháp đến luật, từ chính sách đến quy phạm, từ thiết kế thể chế đến tổ chức thực thi, từ trung ương đến địa phương, từ quốc gia đến quốc tế. Tính đa chủ thể thể hiện ở sự tham gia ngày càng rộng của Nhà nước, người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, giới khoa học, truyền thông và các chủ thể quốc tế vào quá trình hình thành, thực hiện và đánh giá pháp luật.
Thứ hai, về vận hành, hệ sinh thái pháp luật có tính động, tính liên thông, tính phản hồi và tính thích ứng. Tính động thể hiện ở sự vận động liên tục của pháp luật trước những biến đổi của đời sống xã hội. Tính liên thông thể hiện ở mối quan hệ giữa xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật, giữa chính sách và quy phạm, giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, giữa pháp luật truyền thống và pháp luật số. Tính phản hồi thể hiện ở khả năng pháp luật tiếp nhận thông tin từ thực tiễn, từ người dân, doanh nghiệp, cơ quan thực thi, tòa án, viện kiểm sát, giới khoa học và truyền thông để điều chỉnh kịp thời. Tính thích ứng thể hiện ở năng lực của pháp luật trong việc phản ứng với các hiện tượng mới, rủi ro mới, mô hình phát triển mới và các quan hệ xã hội mới.
Thứ ba, về giá trị, hệ sinh thái pháp luật có tính pháp quyền, tính nhân văn, tính công bằng và tính trách nhiệm. Hệ sinh thái pháp luật không chỉ nhằm tạo ra trật tự, mà còn phải bảo vệ công lý, quyền con người, nhân phẩm, tự do, bình đẳng, an toàn pháp lý và lợi ích chính đáng của các chủ thể. Một hệ sinh thái pháp luật lành mạnh phải đặt quyền lực trong khuôn khổ pháp luật, bảo đảm kiểm soát quyền lực, minh bạch, trách nhiệm giải trình và tiếp cận công lý. Đây là những giá trị cốt lõi của Nhà nước pháp quyền hiện đại và cũng là tiêu chí đánh giá chất lượng của pháp luật trong xã hội phát triển[9].
Thứ tư, về phát triển, hệ sinh thái pháp luật có tính thực tiễn, tính hiệu quả và tính kiến tạo phát triển. Pháp luật không chỉ được đánh giá bằng sự đầy đủ, thống nhất, đồng bộ của văn bản, mà còn bằng khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn, giảm chi phí tuân thủ, khơi thông nguồn lực, bảo vệ đổi mới sáng tạo, quản trị rủi ro, tạo lập niềm tin và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong kỷ nguyên phát triển mới, pháp luật càng phải có khả năng đi trước một bước, mở đường cho cái mới, bảo vệ cái đúng, khuyến khích cái sáng tạo và loại bỏ những rào cản thể chế không còn phù hợp.
3.3. Sự khác biệt giữa hệ sinh thái pháp luật và hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật và hệ sinh thái pháp luật là hai khái niệm có quan hệ mật thiết nhưng không đồng nhất. Hệ thống pháp luật chủ yếu nhấn mạnh cấu trúc bên trong của pháp luật, bao gồm quy phạm, chế định, ngành luật, văn bản pháp luật, nguồn luật và trật tự thứ bậc của các quy định pháp luật. Hệ sinh thái pháp luật nhấn mạnh pháp luật trong môi trường vận hành của nó, tức là trong quan hệ với giá trị, nguyên tắc, thiết chế, chủ thể, hành vi, văn hóa, công nghệ, dữ liệu và thực tiễn phát triển.
Điểm khác biệt thứ nhất là khác biệt về đối tượng nhận thức. Hệ thống pháp luật trả lời câu hỏi pháp luật được cấu thành như thế nào; hệ sinh thái pháp luật trả lời thêm câu hỏi pháp luật sống, vận hành, tác động và phát triển như thế nào trong đời sống xã hội. Hệ thống pháp luật nhìn pháp luật ở phương diện cấu trúc; hệ sinh thái pháp luật nhìn pháp luật ở cả phương diện cấu trúc, chức năng, môi trường, tác động và phát triển.
Điểm khác biệt thứ hai là khác biệt về phạm vi. Hệ thống pháp luật chủ yếu bao gồm các yếu tố pháp lý ở nghĩa hẹp, nhất là quy phạm và văn bản pháp luật. Hệ sinh thái pháp luật bao gồm cả yếu tố pháp lý và các yếu tố điều kiện của pháp luật như thiết chế thực thi, năng lực chủ thể, văn hóa pháp luật, đạo đức công vụ, dữ liệu pháp lý, công nghệ pháp lý, cơ chế phản hồi xã hội và môi trường phát triển. Vì vậy, hệ sinh thái pháp luật có phạm vi rộng hơn, nhưng không làm mờ ranh giới của pháp luật; trái lại, nó giúp thấy rõ điều kiện để pháp luật phát huy hiệu lực và hiệu quả.
Điểm khác biệt thứ ba là khác biệt về phương pháp tiếp cận. Hệ thống pháp luật thường được nghiên cứu bằng phương pháp phân tích quy phạm, phân tích cấu trúc, phân tích thứ bậc và phân tích tính thống nhất của văn bản. Hệ sinh thái pháp luật đòi hỏi phương pháp đa ngành và liên ngành hơn: phân tích chính sách, phân tích thể chế, phân tích xã hội học pháp luật, phân tích kinh tế học pháp luật, phân tích dữ liệu, đánh giá tác động và tổng kết thực tiễn. Do đó, cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật không làm giảm vai trò của phương pháp pháp lý truyền thống, mà bổ sung cho nó những công cụ phân tích mới.
Điểm khác biệt thứ tư là khác biệt về tiêu chí đánh giá. Khi đánh giá hệ thống pháp luật, các tiêu chí thường được nhấn mạnh là tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, minh bạch, ổn định và khả thi. Khi đánh giá hệ sinh thái pháp luật, cần bổ sung các tiêu chí rộng hơn như năng lực thực thi, mức độ tuân thủ, chi phí tuân thủ, chất lượng thiết chế, văn hóa pháp luật, niềm tin xã hội, khả năng tiếp cận công lý, năng lực thích ứng, mức độ số hóa, khả năng phản hồi và tác động phát triển. Đây là sự chuyển dịch từ đánh giá pháp luật trên văn bản sang đánh giá pháp luật trong đời sống.

4. Cấu trúc cơ bản của hệ sinh thái pháp luật
4.1. Hệ giá trị pháp luật
Hệ giá trị pháp luật là tầng nền tảng của hệ sinh thái pháp luật. Nếu quy phạm pháp luật là hình thức biểu hiện trực tiếp của pháp luật, thì giá trị pháp luật là linh hồn, định hướng và thước đo chính đáng của pháp luật. Một hệ sinh thái pháp luật lành mạnh không thể chỉ được xây dựng trên kỹ thuật lập pháp, mà phải được xây dựng trên các giá trị nền tảng như công lý, pháp quyền, quyền con người, dân chủ, công bằng, bình đẳng, nhân đạo, minh bạch, trách nhiệm giải trình, an toàn pháp lý và phát triển bền vững.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, hệ giá trị pháp luật cần được nhận thức trong sự thống nhất giữa giá trị pháp quyền và giá trị phát triển. Pháp quyền bảo đảm quyền lực bị giới hạn, pháp luật được thượng tôn, quyền con người được bảo vệ, công lý được thực hiện. Phát triển đòi hỏi pháp luật phải mở đường cho đổi mới sáng tạo, giải phóng nguồn lực, bảo đảm an toàn pháp lý, giảm rủi ro và tạo niềm tin. Sự kết hợp giữa pháp quyền và phát triển tạo nên chiều sâu giá trị của hệ sinh thái pháp luật hiện đại[10].
4.2. Hệ quy phạm pháp luật
Hệ quy phạm pháp luật là lõi chuẩn tắc của hệ sinh thái pháp luật. Nó bao gồm Hiến pháp, luật, văn bản dưới luật, điều ước quốc tế, án lệ, tập quán pháp và các chuẩn mực pháp lý khác. Đây là bộ phận làm cho ý chí chính trị, chính sách công và các giá trị xã hội được chuyển hóa thành khuôn mẫu xử sự có hiệu lực bắt buộc chung.
Trong hệ sinh thái pháp luật, hệ quy phạm pháp luật không chỉ cần đầy đủ, thống nhất và đồng bộ, mà còn phải hợp lý, khả thi, dễ tiếp cận, dễ hiểu, ổn định tương đối và có khả năng thích ứng với thực tiễn. Một hệ quy phạm pháp luật tốt phải trả lời được ba yêu cầu: đúng về giá trị, chuẩn về kỹ thuật và sống được trong thực tiễn. Nếu thiếu giá trị, pháp luật có thể trở thành công cụ hình thức; nếu thiếu kỹ thuật, pháp luật khó áp dụng; nếu thiếu tính thực tiễn, pháp luật khó đi vào đời sống.
Hệ quy phạm pháp luật trong kỷ nguyên mới còn phải có năng lực điều chỉnh những quan hệ xã hội mới. Các vấn đề như dữ liệu cá nhân, trí tuệ nhân tạo, tài sản số, kinh tế nền tảng, an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, y sinh học, tài chính số và quản trị rủi ro đòi hỏi hệ quy phạm pháp luật phải vượt qua tư duy ngành hẹp, cục bộ và phản ứng chậm. Điều này phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, không để pháp luật trở thành rào cản đối với phát triển, đổi mới sáng tạo và khơi thông nguồn lực[11].
4.3. Hệ thiết chế pháp luật
Hệ thiết chế pháp luật là bộ phận tổ chức và bảo đảm vận hành của hệ sinh thái pháp luật. Nó bao gồm các thiết chế lập pháp, hành pháp, tư pháp, kiểm sát, thi hành án, luật sư, công chứng, trọng tài, hòa giải, trợ giúp pháp lý, giám định tư pháp và các thiết chế bổ trợ pháp lý khác. Nếu hệ quy phạm là “luật trên văn bản”, thì hệ thiết chế là “luật trong tổ chức quyền lực và tổ chức thực thi”.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hệ thiết chế pháp luật phải được đặt trong nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là cơ sở để bảo đảm pháp luật không chỉ được ban hành, mà còn được thực hiện nghiêm minh, công bằng, nhất quán; quyền lực không bị lạm dụng; quyền con người, quyền công dân được bảo vệ; công lý được thực hiện trong đời sống xã hội[12].
4.4. Hệ chủ thể pháp luật
Hệ chủ thể pháp luật bao gồm Nhà nước, người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, chuyên gia, truyền thông và các chủ thể quốc tế. Trong cách tiếp cận truyền thống, Nhà nước thường được xem là chủ thể trung tâm của quá trình ban hành và bảo đảm thực hiện pháp luật. Trong cách tiếp cận hệ sinh thái, Nhà nước vẫn giữ vai trò trung tâm, nhưng không phải là chủ thể duy nhất làm nên đời sống pháp luật.
Người dân và doanh nghiệp là những chủ thể trực tiếp sử dụng, tuân thủ, phản ánh, kiểm nghiệm và đánh giá pháp luật. Tổ chức xã hội, truyền thông, giới khoa học, luật sư, chuyên gia và các thiết chế bổ trợ pháp lý góp phần phản biện, giám sát, phổ biến, giải thích và làm giàu cho đời sống pháp luật. Các chủ thể quốc tế tác động đến hệ sinh thái pháp luật thông qua điều ước quốc tế, chuẩn mực toàn cầu, cam kết thương mại, hợp tác tư pháp, đầu tư, công nghệ và quản trị xuyên quốc gia.
Nhìn từ hệ sinh thái pháp luật, chất lượng pháp luật không chỉ phụ thuộc vào năng lực của cơ quan ban hành pháp luật, mà còn phụ thuộc vào năng lực pháp lý của toàn xã hội. Một xã hội có dân trí pháp lý cao, doanh nghiệp tuân thủ tốt, cán bộ công quyền liêm chính, giới khoa học phản biện có trách nhiệm, truyền thông pháp luật chuyên nghiệp và người dân biết sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình sẽ tạo nên nền tảng xã hội bền vững cho pháp luật.
4.5. Hệ hành vi pháp lý
Hệ hành vi pháp lý là phương diện động của hệ sinh thái pháp luật. Nó bao gồm xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật, tuân thủ pháp luật, sử dụng pháp luật, phản biện pháp luật, bảo vệ pháp luật và giám sát pháp luật. Nếu hệ quy phạm cho biết pháp luật quy định gì, thì hệ hành vi pháp lý cho biết pháp luật được hiện thực hóa như thế nào.
Trong hệ sinh thái pháp luật, hành vi pháp lý không chỉ là hành vi tuân thủ mệnh lệnh pháp luật, mà còn là hành vi tham gia vào quá trình kiến tạo pháp luật. Người dân, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và giới khoa học có thể góp ý chính sách, phản biện dự thảo luật, cung cấp dữ liệu thực tiễn, giám sát thực thi và đề xuất sửa đổi pháp luật. Vì vậy, hệ hành vi pháp lý là cầu nối giữa pháp luật trên văn bản và pháp luật trong đời sống.
4.6. Hệ văn hóa pháp luật
Hệ văn hóa pháp luật là môi trường tinh thần của hệ sinh thái pháp luật. Nó bao gồm ý thức pháp luật, niềm tin pháp luật, đạo đức pháp lý, văn hóa tuân thủ, văn hóa sử dụng pháp luật, văn hóa phản biện pháp luật và lối sống theo pháp luật. Nếu thiếu văn hóa pháp luật, pháp luật có thể tồn tại về mặt hình thức nhưng khó trở thành thói quen, niềm tin và chuẩn mực ứng xử của xã hội.
Văn hóa pháp luật thể hiện ở thái độ của xã hội đối với pháp luật. Một nền văn hóa pháp luật lành mạnh đòi hỏi người dân tôn trọng pháp luật không chỉ vì sợ chế tài, mà vì nhận thức được giá trị của pháp luật đối với công lý, trật tự, tự do, an toàn và phát triển. Nó cũng đòi hỏi cán bộ công quyền tôn trọng pháp luật trong thực thi quyền lực, không lạm quyền, không tùy tiện, không hành chính hóa pháp luật, không biến pháp luật thành công cụ phục vụ lợi ích cục bộ.
4.7. Hệ công nghệ và dữ liệu pháp lý
Hệ công nghệ và dữ liệu pháp lý là tầng cấu trúc mới của hệ sinh thái pháp luật trong kỷ nguyên số. Nó bao gồm cơ sở dữ liệu pháp luật, công nghệ pháp lý, trí tuệ nhân tạo pháp lý, tư pháp số, dịch vụ pháp lý số, quản trị pháp luật bằng dữ liệu và hạ tầng pháp luật số. Nếu trước đây dữ liệu và công nghệ chỉ được xem là công cụ hỗ trợ, thì hiện nay chúng đang trở thành điều kiện cấu thành năng lực vận hành của pháp luật.
Cơ sở dữ liệu pháp luật đầy đủ, thống nhất, mở, dễ tiếp cận là điều kiện để người dân, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và giới nghiên cứu tiếp cận pháp luật nhanh chóng, chính xác và bình đẳng. Công nghệ pháp lý có thể hỗ trợ rà soát mâu thuẫn, chồng chéo của văn bản; đánh giá tác động chính sách; phân tích thực tiễn xét xử; dự báo rủi ro pháp lý; nâng cao hiệu quả dịch vụ pháp lý; thúc đẩy tố tụng điện tử, thi hành án điện tử và quản trị tư pháp hiện đại.
Tuy nhiên, công nghệ và dữ liệu pháp lý cũng đặt ra những vấn đề mới về quyền con người, bảo vệ dữ liệu cá nhân, minh bạch thuật toán, trách nhiệm pháp lý, an ninh mạng, chủ quyền số, công bằng trong tiếp cận công nghệ và nguy cơ lệ thuộc vào nền tảng số. Vì vậy, phát triển hệ công nghệ và dữ liệu pháp lý phải đặt trên nền tảng pháp quyền, quyền con người, an toàn pháp lý và kiểm soát quyền lực trong môi trường số.
Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi; trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Quan điểm này có ý nghĩa trực tiếp đối với xây dựng hệ sinh thái pháp luật số, bởi nếu không có thể chế pháp luật phù hợp, dữ liệu và công nghệ khó trở thành động lực phát triển bền vững, an toàn và nhân văn[13].
5. Ý nghĩa của cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật
5.1. Ý nghĩa phương pháp luận
Cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật có ý nghĩa phương pháp luận trước hết ở chỗ nó mở rộng đối tượng nghiên cứu pháp luật. Pháp luật không chỉ được nghiên cứu ở cấp độ quy phạm, mà còn được nghiên cứu ở cấp độ giá trị, thiết chế, chủ thể, hành vi, văn hóa, công nghệ, dữ liệu và môi trường phát triển. Điều này giúp khắc phục tình trạng nghiên cứu pháp luật chỉ dừng lại ở mô tả quy định hoặc bình luận văn bản, mà chưa đi sâu vào điều kiện hình thành, cơ chế vận hành và tác động thực tiễn của pháp luật.
Ý nghĩa phương pháp luận thứ ba là chuyển trọng tâm nghiên cứu từ pháp luật ở trạng thái tĩnh sang pháp luật ở trạng thái động. Cách tiếp cận này yêu cầu nghiên cứu toàn bộ chu trình pháp luật: nhận diện vấn đề chính sách, thiết kế chính sách, xây dựng quy phạm, tổ chức thực thi, giám sát, đánh giá tác động, phản hồi xã hội và sửa đổi, bổ sung pháp luật. Đây là cách tiếp cận phù hợp với yêu cầu đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, nhất là trong bối cảnh pháp luật phải phản ứng nhanh hơn với thực tiễn phát triển.
5.2. Ý nghĩa lý luận
Về lý luận, cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật góp phần phát triển nhận thức về pháp luật từ một hệ thống quy phạm sang một chỉnh thể xã hội - thể chế - giá trị - công nghệ. Nó không phủ nhận bản chất chuẩn tắc của pháp luật, mà bổ sung chiều cạnh xã hội, văn hóa, thiết chế, công nghệ và phát triển của pháp luật. Nhờ đó, lý luận pháp luật có thêm một khung khái niệm để giải thích vì sao pháp luật có thể có hiệu lực hoặc kém hiệu lực, có thể thúc đẩy hoặc cản trở phát triển, có thể củng cố hoặc làm suy giảm niềm tin xã hội.
Cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật còn góp phần phát triển lý luận về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không chỉ cần pháp luật đầy đủ, rõ ràng, thống nhất và công khai, mà còn cần một hệ sinh thái pháp luật trong đó quyền lực được kiểm soát, thiết chế vận hành liêm chính, tòa án bảo vệ công lý, viện kiểm sát bảo vệ pháp chế và quyền con người, cơ quan hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp được bảo vệ quyền tự do kinh doanh, người dân có khả năng tiếp cận công lý và xã hội có văn hóa tuân thủ pháp luật.
5.3. Ý nghĩa thực tiễn
Về thực tiễn, cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật trước hết giúp đổi mới công tác xây dựng pháp luật. Xây dựng pháp luật không chỉ là soạn thảo và ban hành văn bản, mà là quá trình thiết kế chính sách, thiết kế công cụ điều chỉnh, dự báo tác động, xác định nguồn lực thực thi, đánh giá chi phí tuân thủ, tham vấn đối tượng chịu tác động và chuẩn bị cơ chế phản hồi sau khi pháp luật được ban hành. Điều đó đòi hỏi tư duy xây dựng pháp luật phải chuyển từ “quản lý bằng quy định” sang “kiến tạo bằng thể chế”.
Từ các ý nghĩa trên có thể khái quát: cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật giúp chuyển trọng tâm hoàn thiện pháp luật từ “hoàn thiện văn bản” sang “hoàn thiện đời sống pháp luật”; từ “tư duy quản lý” sang “tư duy kiến tạo phát triển”; từ “pháp luật đơn ngành” sang “pháp luật liên ngành”; từ “đánh giá hình thức” sang “đánh giá tác động thực chất”; từ “pháp luật truyền thống” sang “pháp luật số, nhân văn và thích ứng”. Đây là một trong những hướng tiếp cận cần thiết để hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới[14].
6. Từ cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật đến hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới
6.1. Chuyển từ hoàn thiện văn bản sang hoàn thiện hệ sinh thái pháp luật
Từ cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật, hoàn thiện hệ thống pháp luật không thể chỉ được hiểu là sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc ban hành thêm văn bản pháp luật. Đó là yêu cầu cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu chỉ tập trung vào văn bản, pháp luật có thể đầy đủ về hình thức nhưng vẫn thiếu sức sống trong thực tiễn; có thể đồng bộ trên giấy nhưng chưa đồng bộ trong tổ chức thực hiện; có thể tiến bộ về nội dung nhưng chưa tạo ra chuyển biến thực chất trong hành vi của cơ quan nhà nước, người dân và doanh nghiệp.
Vì vậy, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong kỷ nguyên phát triển mới phải được đặt trong nhiệm vụ rộng hơn là hoàn thiện hệ sinh thái pháp luật. Điều đó bao gồm hoàn thiện hệ giá trị pháp luật, hệ quy phạm pháp luật, thiết chế thực thi, cơ chế giám sát, năng lực chủ thể, văn hóa pháp luật, dữ liệu pháp lý, công nghệ pháp lý và cơ chế phản hồi xã hội. Một đạo luật chỉ thật sự có chất lượng khi được đặt trong điều kiện bảo đảm thi hành: có cơ quan thực thi đủ năng lực, có nguồn lực phù hợp, có quy trình minh bạch, có dữ liệu hỗ trợ, có cơ chế kiểm tra, có sự giám sát của xã hội và có khả năng điều chỉnh khi thực tiễn thay đổi.
Quan điểm này phù hợp với yêu cầu của Nghị quyết 66-NQ/TW khi nhấn mạnh đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, coi thi hành pháp luật là một khâu trọng yếu, yêu cầu pháp luật phải bám sát thực tiễn, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, khơi thông nguồn lực và trở thành nền tảng, động lực cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới[15].
6.2. Chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển
Một trong những chuyển đổi quan trọng nhất trong hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay là chuyển từ tư duy pháp luật thiên về quản lý sang tư duy pháp luật kiến tạo phát triển. Tư duy quản lý thường đặt trọng tâm vào kiểm soát, cho phép, cấm đoán, xử lý vi phạm và bảo đảm trật tự. Những chức năng đó vẫn cần thiết, nhưng nếu được tuyệt đối hóa, pháp luật dễ trở thành công cụ hành chính hóa đời sống xã hội, làm tăng thủ tục, tăng chi phí tuân thủ, hạn chế sáng tạo và tạo ra rào cản đối với phát triển.
Tư duy kiến tạo phát triển không phủ nhận chức năng quản lý của pháp luật, mà đặt chức năng đó trong mục tiêu cao hơn: mở đường cho phát triển, giải phóng nguồn lực, bảo vệ quyền con người, bảo đảm tự do kinh doanh, khuyến khích đổi mới sáng tạo, phòng ngừa rủi ro và tạo lập môi trường pháp lý an toàn, minh bạch, dễ dự báo. Pháp luật trong tư duy kiến tạo không chỉ trả lời câu hỏi “quản lý cái gì, quản lý như thế nào”, mà còn phải trả lời câu hỏi “pháp luật tạo điều kiện gì cho con người, doanh nghiệp, xã hội và quốc gia phát triển”.
Trong Văn kiện Đại hội XIV, yêu cầu hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước thể hiện rõ tư duy coi thể chế là nguồn lực phát triển, là điều kiện để đổi mới phương thức quản trị quốc gia và kiến tạo phát triển. Từ góc nhìn hệ sinh thái pháp luật, điều đó đặt ra yêu cầu pháp luật phải được thiết kế như một bộ phận trung tâm của hệ sinh thái thể chế phát triển, vừa bảo đảm ổn định, kỷ cương, pháp quyền, vừa tạo không gian cho sáng tạo, cạnh tranh, hội nhập và phát triển bền vững[16].
6.3. Chuyển từ đánh giá hình thức sang đánh giá tác động thực chất
Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo cách tiếp cận hệ sinh thái đòi hỏi đổi mới căn bản phương thức đánh giá chất lượng pháp luật. Các tiêu chí truyền thống như tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất, đồng bộ, minh bạch và khả thi vẫn giữ vai trò nền tảng, nhưng chưa đủ. Một quy định pháp luật có thể đúng về thẩm quyền, đúng về hình thức, thống nhất với hệ thống pháp luật, nhưng vẫn có thể không hiệu quả nếu chi phí tuân thủ cao, thủ tục phức tạp, thiếu nguồn lực thực thi, không được xã hội chấp nhận hoặc làm phát sinh hệ quả ngoài mong muốn.
Do đó, cần chuyển từ đánh giá pháp luật chủ yếu trên văn bản sang đánh giá pháp luật trong đời sống. Chất lượng pháp luật cần được đo bằng tác động thực chất: pháp luật có giải quyết đúng vấn đề chính sách hay không; có bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp hay không; có giảm chi phí tuân thủ hay không; có nâng cao hiệu lực quản trị hay không; có thúc đẩy đổi mới sáng tạo hay không; có tăng niềm tin xã hội hay không; có góp phần kiểm soát quyền lực và phát triển bền vững hay không.
Đánh giá tác động thực chất cũng đòi hỏi phải mở rộng nguồn dữ liệu đánh giá. Không thể chỉ dựa vào báo cáo hành chính của cơ quan ban hành hoặc cơ quan thực thi pháp luật, mà cần thu thập thông tin từ người dân, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp, tòa án, viện kiểm sát, luật sư, cơ quan thi hành án, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, truyền thông và các tổ chức xã hội. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu thực thi pháp luật, dữ liệu khiếu nại, dữ liệu xét xử, dữ liệu xử phạt, dữ liệu chi phí tuân thủ và dữ liệu phản hồi xã hội cần được sử dụng như căn cứ quan trọng để đánh giá pháp luật.
Từ đó, cần coi đánh giá tác động pháp luật là một chu trình liên tục, gồm đánh giá trước khi ban hành, đánh giá trong quá trình thực hiện và đánh giá sau khi pháp luật đi vào cuộc sống. Đây là yêu cầu phù hợp với các chuẩn mực hiện đại về quản trị pháp luật, trong đó đánh giá tác động quy định được xem là công cụ quan trọng để nâng cao chất lượng chính sách, giảm gánh nặng tuân thủ và bảo đảm quyết định pháp luật dựa trên bằng chứng[17].
6.4. Chuyển từ pháp luật truyền thống sang pháp luật số
Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, hoàn thiện hệ thống pháp luật không thể chỉ dừng lại ở việc số hóa văn bản pháp luật hoặc đưa thủ tục pháp lý lên môi trường điện tử. Yêu cầu sâu hơn là xây dựng hệ sinh thái pháp luật số, trong đó dữ liệu pháp lý, công nghệ pháp lý, trí tuệ nhân tạo pháp lý, tư pháp điện tử, dịch vụ pháp lý số và quản trị pháp luật bằng dữ liệu trở thành những thành tố cấu thành của đời sống pháp luật hiện đại.
Pháp luật số trước hết đòi hỏi cơ sở dữ liệu pháp luật thống nhất, đầy đủ, chính xác, cập nhật, dễ tiếp cận và có khả năng liên thông. Người dân, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, luật sư, nhà khoa học và các chủ thể xã hội cần được tiếp cận pháp luật một cách nhanh chóng, bình đẳng và tin cậy. Dữ liệu pháp lý không chỉ phục vụ tra cứu, mà còn phục vụ phân tích chính sách, rà soát mâu thuẫn, chồng chéo, đánh giá tác động, dự báo rủi ro, hỗ trợ xét xử, hỗ trợ thi hành án và nâng cao hiệu quả quản trị pháp luật.
Pháp luật số cũng đòi hỏi xây dựng khung pháp lý cho các quan hệ mới phát sinh từ công nghệ: dữ liệu cá nhân, trí tuệ nhân tạo, thuật toán, nền tảng số, tài sản số, hợp đồng thông minh, giao dịch điện tử, định danh số, an ninh mạng, chủ quyền số và trách nhiệm pháp lý trong không gian số. Những vấn đề này không thể được điều chỉnh bằng tư duy pháp luật truyền thống đơn tuyến, mà cần cách tiếp cận linh hoạt, dựa trên rủi ro, bảo vệ quyền con người, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn pháp lý.
Nghị quyết 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng, đồng thời nhấn mạnh thể chế phải là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước. Điều này đặt ra yêu cầu trực tiếp đối với hệ sinh thái pháp luật: pháp luật không chỉ theo sau để xử lý hệ quả của công nghệ, mà phải đi trước để định hình không gian phát triển số an toàn, nhân văn, sáng tạo và có trách nhiệm[18].
6.5. Chuyển từ hoàn thiện pháp luật đơn ngành sang hoàn thiện pháp luật liên ngành
Một đặc điểm nổi bật của kỷ nguyên phát triển mới là sự xuất hiện ngày càng nhiều vấn đề phức hợp, vượt ra ngoài ranh giới của một ngành luật, một lĩnh vực quản lý hoặc một cơ quan nhà nước. Trí tuệ nhân tạo, dữ liệu cá nhân, tài sản số, biến đổi khí hậu, y sinh học, kinh tế nền tảng, an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao, quản trị rủi ro tài chính và phát triển đô thị thông minh đều là những vấn đề liên ngành. Nếu tiếp cận bằng tư duy pháp luật đơn ngành, pháp luật dễ bị phân mảnh, chồng chéo, thiếu nhất quán và phản ứng chậm.
Hoàn thiện pháp luật liên ngành đòi hỏi trước hết phải đổi mới tư duy phân loại và thiết kế chính sách pháp luật. Mỗi vấn đề mới cần được nhận diện trong tổng thể các quan hệ liên quan: quyền con người, lợi ích công, tự do kinh doanh, an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, cạnh tranh thị trường, bảo vệ người yếu thế, đổi mới sáng tạo, bảo vệ môi trường và hội nhập quốc tế. Điều đó đòi hỏi quá trình xây dựng pháp luật phải có sự phối hợp giữa nhiều cơ quan, nhiều ngành, nhiều giới chuyên môn và nhiều nhóm chủ thể chịu tác động.
Cách tiếp cận liên ngành cũng đòi hỏi tăng cường vai trò của khoa học pháp lý trong quan hệ với các khoa học khác. Luật học cần đối thoại sâu hơn với kinh tế học, xã hội học, chính trị học, quản trị học, đạo đức học, khoa học dữ liệu, khoa học môi trường, y sinh học và khoa học công nghệ. Chỉ trên cơ sở đó, pháp luật mới có thể điều chỉnh đúng bản chất của quan hệ xã hội mới, tránh tình trạng pháp luật đi sau thực tiễn quá xa hoặc điều chỉnh bằng những công cụ không phù hợp.
Từ góc nhìn hệ sinh thái pháp luật, hoàn thiện pháp luật liên ngành không phải là làm mờ ranh giới của các ngành luật, mà là tạo lập cơ chế liên thông giữa các ngành luật trong xử lý những vấn đề phức hợp. Cần bảo đảm sự phối hợp giữa pháp luật công và pháp luật tư, giữa pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng, giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế, giữa pháp luật truyền thống và pháp luật số, giữa điều chỉnh bằng quy phạm bắt buộc và các cơ chế mềm như tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn, thử nghiệm có kiểm soát và tự điều chỉnh có trách nhiệm.
Đây cũng là yêu cầu phù hợp với tư duy hoàn thiện thể chế phát triển nhanh, bền vững trong Văn kiện Đại hội XIV: thể chế không thể được hoàn thiện theo từng mảng rời rạc, mà phải được xây dựng toàn diện, đồng bộ, liên thông, có khả năng giải phóng nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia[19].
Kết luận
Hệ sinh thái pháp luật là một cách tiếp cận mới về pháp luật, có giá trị khai mở trong nhận thức, nghiên cứu, xây dựng, thi hành và đánh giá pháp luật. Cách tiếp cận này không phủ nhận khái niệm hệ thống pháp luật, mà mở rộng và làm sâu sắc hơn cách nhận thức về pháp luật bằng cách đặt hệ thống pháp luật trong môi trường vận hành sống động của nó. Theo đó, pháp luật không chỉ là tổng thể các quy phạm, văn bản, chế định và ngành luật, mà là một chỉnh thể mở, động, đa tầng, đa chủ thể, vận hành trong quan hệ tương tác với giá trị, thiết chế, con người, văn hóa, công nghệ, dữ liệu và môi trường phát triển.
Giá trị cốt lõi của cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật là giúp chuyển trọng tâm từ pháp luật trên văn bản sang pháp luật trong đời sống; từ hoàn thiện quy phạm sang hoàn thiện điều kiện vận hành của quy phạm; từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; từ pháp luật đơn ngành sang pháp luật liên ngành; từ đánh giá hình thức sang đánh giá tác động thực chất; từ pháp luật truyền thống sang pháp luật số, nhân văn và thích ứng. Đó cũng là cơ sở để nhận thức sâu hơn mối quan hệ giữa hệ thống pháp luật, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, thể chế phát triển và phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Đối với Việt Nam, vận dụng cách tiếp cận hệ sinh thái pháp luật có ý nghĩa đặc biệt trong kỷ nguyên phát triển mới. Nó góp phần định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật theo yêu cầu dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi; đồng thời bảo đảm pháp luật trở thành công cụ kiểm soát quyền lực, bảo vệ quyền con người, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, khơi thông nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh và củng cố niềm tin xã hội. Đây cũng là hướng tiếp cận phù hợp với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước trong Văn kiện Đại hội XIV[20].
Từ góc nhìn đó, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong kỷ nguyên mới không chỉ là nhiệm vụ lập pháp, mà là nhiệm vụ xây dựng một hệ sinh thái pháp luật hiện đại, nhân văn, số hóa, hội nhập và kiến tạo phát triển. Hệ sinh thái ấy phải được xây dựng trên nền tảng pháp quyền, quyền con người, công lý, dân chủ, trách nhiệm giải trình, văn hóa tuân thủ, năng lực thực thi, dữ liệu pháp lý và công nghệ pháp lý. Khi đó, pháp luật không chỉ là công cụ điều chỉnh xã hội, mà còn trở thành nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ và lợi thế cạnh tranh của quốc gia trong kỷ nguyên phát triển mới[21].
-----------------------------
Tài liệu tham khảo
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2022), Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
3. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.
4. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Hà Nội.
5. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Hà Nội.
6. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật số 64/2025/QH15 ngày 19/02/2025, Hà Nội.
7. Võ Khánh Vinh, Võ Khánh Minh, Về hệ sinh thái pháp luật và hệ sinh thái quyền con người, quyền công dân, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội, số chuyên đề: số 1 (10/2025).
8. Võ Khánh Vinh, Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy về hoàn thiện thể chế pháp luật tư pháp trong kỷ nguyên phát triển mới, Tạp chí Kiểm sát, số 8/2026.
9. Võ Khánh Vinh, Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy về hoàn thiện thể chế pháp luật tư pháp trong kỷ nguyên phát triển mới, Tạp chí Kiểm sát, số 9/2026.
10. Fuller, L. L. (1969), The Morality of Law, Revised Edition, Yale University Press, New Haven and London.
11. Hart, H. L. A. (2012), The Concept of Law, Third Edition, Oxford University Press, Oxford.
12. Luhmann, N. (2004), Law as a Social System, Oxford University Press, Oxford.
13. Teubner, G. (1993), Law as an Autopoietic System, Blackwell, Oxford.
14. Raz, J. (1979), The Authority of Law: Essays on Law and Morality, Oxford University Press, Oxford.
15. North, D. C. (1990), Institutions, Institutional Change and Economic Performance, Cambridge University Press, Cambridge.
16. OECD (1997), Regulatory Impact Assessment: Best Practices in OECD Countries, OECD Publishing, Paris.
17. OECD (2021), OECD Regulatory Policy Outlook 2021, OECD Publishing, Paris.
18. United Nations (n.d.), What is the Rule of Law?, United Nations and the Rule of Law.
19. World Bank (2017), World Development Report 2017: Governance and the Law, World Bank, Washington, D.C.
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà nội, 2026.
[2] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[3] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[4] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.
[6] Niklas Luhmann, Law as a Social System, Oxford University Press, 2004; Gunther Teubner, Law as an Autopoietic System, Blackwell, 1993. Các lý thuyết này có giá trị tham khảo trong việc nhìn nhận pháp luật như một hệ thống xã hội tương tác, tự điều chỉnh và có tính mở đối với môi trường xã hội.
[7] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025, về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, quan điểm về xây dựng pháp luật bám sát thực tiễn, bảo đảm tính hệ thống, mở đường, khơi thông nguồn lực, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc, động lực mạnh mẽ cho phát triển.
[8] Xem thêm: Niklas Luhmann, Law as a Social System, Oxford University Press, 2004; Gunther Teubner, Law as an Autopoietic System, Blackwell, 1993. Các công trình này gợi mở cách nhìn pháp luật như một hệ thống xã hội có khả năng tương tác, phản hồi và tự điều chỉnh trong môi trường xã hội rộng lớn.
[9] United Nations, What is the Rule of Law?, United Nations and the Rule of Law. Tài liệu nhấn mạnh các yếu tố bình đẳng trước pháp luật, trách nhiệm giải trình, công bằng trong áp dụng pháp luật, phân quyền, sự tham gia, an toàn pháp lý và bảo vệ quyền con người.
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, Hà Nội, 2026, nội dung về hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát huy dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và phát triển con người toàn diện.
[11] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, quan điểm về đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, bảo đảm pháp luật mở đường, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, quan điểm về quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
[13] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, quan điểm về thể chế, nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược là những nội dung trọng tâm, cốt lõi; trong đó thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước.
[14] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, quan điểm về xây dựng pháp luật bám sát thực tiễn, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật; đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc và động lực mạnh mẽ cho phát triển.
[15] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, quan điểm về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, khơi thông nguồn lực và đưa thể chế, pháp luật trở thành động lực phát triển.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, Hà Nội, 2026, Báo cáo chính trị, nội dung về hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước; đổi mới phương thức quản trị và kiến tạo phát triển.
[17] OECD, Regulatory Impact Assessment: Best Practices in OECD Countries, OECD Publishing, 1997; OECD, OECD Regulatory Policy Outlook 2021, OECD Publishing, 2021. Các tài liệu này nhấn mạnh đánh giá tác động quy định như công cụ nâng cao chất lượng chính sách, giảm gánh nặng tuân thủ và thúc đẩy quản trị dựa trên bằng chứng.
[18] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, quan điểm về thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và đi trước một bước trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
[19] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Tập I, Hà Nội, 2026, Báo cáo chính trị, nội dung về hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, gắn với đổi mới sáng tạo, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
[20] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Báo cáo chính trị, 2026; Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025, các quan điểm về hoàn thiện thể chế phát triển, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đổi mới công tác xây dựng, thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
[21] Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025, quan điểm về xây dựng pháp luật bám sát thực tiễn, mở đường, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh, nền tảng vững chắc và động lực mạnh mẽ cho phát triển.