(Pháp lý) - Trước hàng loạt sự vụ có sai phạm nghiêm trọng nhưng quan chức lại được miễn trách nhiệm hình sự (TNHS) gây bức xúc dư luận thời gian vừa qua, Phóng viên Pháp lý đã có cuộc trao đổi với Luật sư Bùi Đình Ứng (Đoàn Luật sư TP. Hà Nội) để phân tích làm rõ và đưa ra kiến nghị.
Pháp luật hình sự cho phép miễn TNHS khi nào?
Trả lời Phóng viên Pháp lý về cơ sở pháp lý của miễn TNHS, Luật sư Bùi Đình Ứng (Đoàn Luật sư Thành Phố Hà Nội) phân tích: Trong pháp luật hình sự hiện hành nước ta có 9 trường hợp miễn TNHS nằm rải rác ở cả Bộ luật Hình sự, bao gồm 5 trường hợp trong Phần chung (Điều 19, Điều 25, Khoản 2 Điều 69) và 4 trường hợp trong Phần các tội phạm (Khoản 3 Điều 80, Đoạn 2 Khoản 6 Điều 289, Khoản 6 Điều 290 và Khoản 3 Điều 314.
[caption id="attachment_146304" align="alignleft" width="410"]
Luật sư Bùi Đình Ứng kiến nghị xem xét trách nhiệm những cán bộ đề nghị miễn TNHS cho các quan chức vi phạm pháp luật hình sự[/caption]
Theo khoản 1 Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì người phạm tội “được miễn TNHS, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Theo đó, đây là trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc đối với hai trường hợp: Khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử do có sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa và khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử do có sự chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
Bộ luật Hình sự hiện hành còn quy định miễn TNHS do sự ăn năn hối cải của người phạm tội. Theo khoản 2 Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì trong trường hợp “trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn TNHS”. Xem xét trường hợp miễn này thì người được miễn TNHS nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người đó phải tự thú về tội phạm chưa bị phát giác; phải khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm. Ngoài ra, cùng với việc tự thú, người phạm tội phải chủ động ngăn chặn hậu quả của tội phạm, có nghĩa chủ động làm cho hậu quả không xảy ra hoặc hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại cho Nhà nước, cho tổ chức hoặc cho công dân.
Cũng theo Khoản 3 Điều 25 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì người phạm tội được miễn TNHS khi có quyết định đại xá. Đây cũng là một trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc khi có văn bản đại xá.
Ngoài ra, Bộ luật Hình sự còn có một số quy định về miễn TNHS do tự ý nửa chừng chấm dứt việc thực hiện tội phạm (điều 19). Miễn TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội (Khoản 2 Điều 69 Bộ luật Hình sự năm 1999). Theo đó: “người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan tổ chức nhận giám sát, giáo dục”.
Trong Bộ luật Hình sự hiện hành còn có quy định miễn TNHS cho người phạm tội đưa hối lộ hoặc môi giới hối lộ. Tội đưa hối lộ và môi giới hối lộ được ghi nhận tại Đoạn 2 Khoản 6 Điều 289 và khoản 6 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 1999. Về hành vi đưa hối lộ thì điều kiện để được miễn TNHS, được ghi nhận tại đoạn 2 Khoản 6 Điều 289 Bộ luật Hình sự năm 1999 đó là “người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn TNHS và được hoàn trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ”. Trường hợp này được ghi nhận tại Khoản 6 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 1999 với nội dung “người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn TNHS”.
Đồng thời, Bộ luật Hình sự cũng quy định về miễn TNHS đối với người phạm tội không tố giác tội phạm. Không tố giác tội phạm là tội phạm được quy định ở Điều 314 Bộ luật Hình sự năm 1999. Hành vi này chỉ cấu thành tội phạm khi không tố giác một trong những tội phạm nhất định được quy định cụ thể (mà Điều 314 quy định và dẫn chiếu ở Điều 313 Bộ luật Hình sự năm 1999). Tuy nhiên, người không tố giác tội phạm nếu đã có hành vi can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn TNHS hoặc miễn hình phạt (Khoản 3 Điều 314). Đồng thời, Điều 22 Bộ luật Hình sự năm 1999 có một khoản về việc loại trừ trách nhiệm hình sự cho người không tố giác tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội trừ trường hợp không tố giác tội phạm là các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng (cũng giống với Khoản 2 Điều 314 Bộ luật này).
Luật sư Bùi Đình Ứng nhấn mạnh: Một người được miễn TNHS phải dựa vào các căn cứ pháp lý và những điều kiện do các điều luật tương ứng đó quy định. Nếu vận dụng bừa bãi để miễn TNHS là sai luật.
Vì sao quan chức thường được miễn TNHS?
Trong vụ án “vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Tổng công ty CP xuất nhập khẩu VN - Vinaconex", theo LS. Ứng, dấu hiệu cấu thành tội phạm đã có, thiệt hại của gần 20 lần vỡ đường ống dẫn nước là vô cùng lớn về vật chất, đồng thời còn tác động tiêu cực lên đời sống của hàng triệu người dân. Trước đó, trong vụ án rút ruột tượng đài Điện Biên Phủ ở Lai Châu, quan chức cũng có những vi phạm gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản nhà nước. Vụ quan chức uống rượu lái xe gây tai nạn làm chết 1 người, bị thương 3 người là xâm hại nghiêm trọng đến tính mạng và sức khỏe, tài sản của người dân.
Tuy nhiên, các cơ quan tố tụng đánh giá các quan chức này đều là những người có đóng góp đối với ngành xây dựng, với xã hội, có nhân thân tốt, có thành tích tốt... Đồng thời “lỗi vô ý” và do thành tích nên được miễn TNHS. Những vận dụng đó là khiên cưỡng và sai luật. LS. Ứng phân tích.
[caption id="attachment_146305" align="alignright" width="227"]
Miễn TNHS là một chế định đã được quy định chi tiết, cụ thể trong BLHS 1999[/caption]
Nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều đóng góp cho xã hội... chỉ là điều kiện xem xét khi lượng hình, chứ không phải là dấu hiệu định tội và càng không thể trở thành chỗ dựa để bị can, bị cáo lọt lưới pháp luật. Những vận dụng bất thường đó khiến người dân và dư luận bất bình.
Một bất thường khác là trên dư luận có tin: Liên ngành tư pháp Trung ương quyết định không xem xét TNHS 5 cán bộ trong vụ vỡ đường ống nước sông Đà. Phân tích về bất thường này, Luật sư Bùi Đình Ứng cho rằng: Nếu có việc đó thì quyết định của liên ngành tư pháp không đúng theo quy định của luật tố tụng hình sự. Ba ngành (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án) có chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Đáng ra họ phải độc lập xem xét vụ án thì họ lại "ngồi cùng nhau” đưa ra kết luận miễn TNHS cho các cá nhân liên quan đến vụ việc. Đó là bất thường cần làm rõ.
Luật sư Bùi Đình Ứng cho rằng: Cần xem xét trách nhiệm của Liên ngành tư pháp (nếu có) trong việc đưa ra quyết định liên quan đến vụ án nghiêm trọng này. Các cá nhân đã ngồi cùng nhau và đưa đến quyết định không xử lý TNHS của các cán bộ trong vụ vỡ đường ống nước sông Đà phải được nêu tên và nêu trách nhiệm cụ thể.
Có ý kiến cho rằng, việc không xử lý hình sự quan chức trong một số vụ việc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng là “tiêu biểu” cho tình trạng bất công trong thực thi pháp luật hiện nay. Việc lớn cần xử lý nghiêm thì bị trì hoãn, chậm trễ hoặc tha, miễn, trong khi nhiều việc nhỏ lại bị xử lý nghiêm khắc quá mức (như vụ án cướp bánh mì, vụ ông bố đập hộp sữa…) khiến dư luận bất bình.
Tình trạng này kéo dài sẽ làm người dân mất niềm tin vào pháp luật, vào công lý. Những tiền lệ này nếu không sớm được ngăn chặn, sẽ gây hiểu lầm là pháp luật để bảo vệ người giàu, bảo vệ quan chức. Và việc các cơ quan tố tụng vận dụng pháp luật bừa bãi, vận dụng sai cũng không bị xử lý sẽ tạo tiền lệ xấu trong thực thi pháp luật và có nguy cơ nối dài thêm những vụ thực thi pháp luật bất công.
Phan Tĩnh (ghi)