Hoàn thiện chính sách pháp luật liên quan đầu tư nước ngoài trong bối cảnh mới

(Pháp lý) - Việc tăng cường mối quan hệ hợp tác với các quốc gia, đặc biệt là quốc gia phát triển như Hoa Kỳ sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho Việt Nam, trong đó phải kể đến việc tăng cường vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mở rộng thương mại, chuyển giao công nghệ, đa dạng hóa chuỗi cung ứng... Để tận dụng tốt hơn mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, sẵn sàng đón dòng vốn FDI, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, khẩn trương rà soát sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các chính sách pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài.
1-1695878071.jpg

Việt Nam cần khẩn trương hoàn thiện thể chế chính sách để tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh mới.

Xung lực mới tạo đà bứt phá

Số liệu mới được Cục Đầu tư nước ngoài công bố, tính đến ngày 20-9-2023, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 20,21 tỷ USD, tăng 7,7% so với cùng kỳ. Trong đó, có 2.254 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, với hơn 10,23 tỷ USD, tăng 66,3% về số dự án và tăng 43,6% về số vốn so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, kết quả giải ngân vốn đầu tư nước ngoài cũng đạt 13,1 tỷ USD, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2022. Nói cách khác, kết quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài gây ấn tượng trong bối cảnh suy giảm hoạt động đầu tư quốc tế trong nhiều tháng gần đây.

Dự báo, kết quả thu hút, giải ngân vốn đầu tư nước ngoài sẽ tiếp đà tăng trưởng trong những tháng tới và chắc chắn sẽ là nguồn lực bổ sung quan trọng, bù đắp cho những hạn chế của lĩnh vực khác. Việt Nam hướng tới thu hút những dự án công nghệ cao, công nghệ mới, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa tích cực, kết nối chuỗi sản xuất với cung ứng toàn cầu.

Đặc biệt là ngay sau sự kiện Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden thăm Việt Nam, các nhà lãnh đạo Việt Nam - Hoa Kỳ đã thống nhất nâng cấp quan hệ thành đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.

2-1695878078.jpg

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden hôm 10/9.

Các chuyên gia đánh giá cao việc nâng cấp mối quan hệ này và cho rằng nền kinh tế Việt Nam sẽ được hưởng lợi, đón làn sóng đầu tư mới từ Hoa Kỳ với  dự án lớn, ứng dụng công nghệ cao của Hoa Kỳ, cũng như Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc. Đây là xung lực mới, hứa hẹn tạo nên bứt phá, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại ở Việt Nam.

Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính ngân hàng, Hoa Kỳ nhiều năm là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu và là một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với tỷ trọng chiếm gần 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Về đầu tư, tính đến nay, Hoa Kỳ đứng thứ 11 về quốc gia đầu tư trực tiếp tại Việt Nam, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 11,8 tỷ USD, riêng trong 8 tháng đầu năm nay, Hoa Kỳ đứng vị trí thứ 8. Nhìn chung, các nhà đầu tư Hoa Kỳ vẫn chưa đầu tư nhiều vào Việt Nam.

Do đó, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, việc nâng cấp quan hệ sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam. Đơn cử như các doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ đầu tư vào Việt Nam nhiều hơn, nhất là các công ty về công nghệ cao như chất bán dẫn hay lĩnh vực về trí tuệ nhân tạo AI. Ngoài ra, lĩnh vực môi trường cũng sẽ thu hút đầu tư từ Hoa Kỳ, những công nghệ sẽ giúp cho chúng ta đạt mục tiêu Net Zero vào năm 2050 như Chính phủ đã cam kết. Ở chiều ngược lại, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ…

Hiện, đã xuất hiện nhiều chỉ dấu cho thấy hoạt động đầu tư nước ngoài đặc biệt là các doanh nghiệp từ Hoa Kỳ sẽ trở nên sôi động, gia tăng về lượng và chất. Điển hình như tại buổi làm việc với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại New York, Hoa Kỳ hôm 20/9/2023 mới đây, hàng loạt các tập đoàn hàng đầu thế giới của Hoa Kỳ gồm: SpaceX, Coca-Cola, Pacifico Energy… đều bày tỏ mong muốn mở rộng đầu tư vào Việt Nam.

Trước đó, vào tháng 3/2023, có hơn 50 doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ như Apple, Microsoft, Boeing, Meta, Google... đã sang Việt Nam tìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh với trọng tâm hợp tác đặt vào lĩnh vực kinh tế số, kinh tế sáng tạo và chuyển đổi năng lượng xanh.

Chuyên gia kinh tế, TS. Đinh Thế Hiển cho biết, trên thế giới có 3 thị trường lớn là Hoa Kỳ, châu Âu và Trung Quốc. Thực tế, Việt Nam đang xuất khẩu rất lớn vào thị trường Hoa Kỳ và Trung Quốc, đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ là xuất siêu.

Thị trường Hoa Kỳ rất khó tính khi các mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu qua thị trường này đều mất rất nhiều thời gian. Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp của Hoa Kỳ khi đầu tư vào nước nào đó cũng rất thận trọng và phải được Chính phủ nước này đảm bảo. Không phải Việt Nam không hấp dẫn mà doanh nghiệp Hoa Kỳ họ thận trọng. Hiện, Việt Nam là điểm đến của nhiều doanh nghiệp lớn nhưng các doanh nghiệp lớn từ Hoa Kỳ là chưa nhiều, cũng mới chỉ có Intel.

Vì vậy, việc nâng cấp quan hệ lần này sẽ đưa kinh tế 2 chiều tăng lên rất mạnh. Thứ nhất, Việt Nam sẽ thuận lợi hơn nhiều trong xuất khẩu, đặc biệt là các doanh nghiệp đã, đang xuất khẩu vào thị trường này cùng các mặt hàng mới có giá trị gia tăng. Thứ hai, Việt Nam rất cần các doanh nghiệp lớn từ Hoa Kỳ và trên thế giới đầu tư. Bởi các doanh nghiệp FDI lớn sẽ tạo ra nhiều giá trị, chuyển giao công nghệ và tạo nên sự kết nối với doanh nghiệp trong nước trong chuỗi cung ứng…

Để tận dụng tốt hơn mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, sẵn sàng đón dòng vốn FDI, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh,  khẩn trương rà soát sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các chính sách pháp luật liên quan đến đầu tư nước ngoài.

Những “rào cản” về chính sách pháp luật cần sớm tháo gỡ

Những năm gần đây, cùng với sự thay đổi trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm có sự thay đổi chiến lược về hệ thống pháp luật và chính sách để nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư FDI vào Việt Nam. Các quy định pháp luật về đầu tư nói chung và việc thu hút FDI ở Việt Nam hiện đang dần được bổ sung hoàn thiện, tuy nhiên nhiều quy định vẫn còn chồng chéo, chưa thực sự hoàn thiện... đang tạo những rào cản đối với thu hút FDI.

Luật Đầu tư (sửa đổi năm 2020) tuy đã có nhiều quy định mới về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư cho nhà đầu tư trong nước và nước ngoài, tận dụng nguồn lực từ trong nước cũng như thúc đẩy việc thu hút nguồn vốn FDI vào Việt Nam như: bổ sung một số ngành, nghề ưu đãi đầu tư (hoạt động đổi mới sáng tạo; sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ tham gia chuỗi giá trị, cụm liên kết ngành); bổ sung quy định về nguyên tắc, điều kiện áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư để bảo đảm hiệu quả, chất lượng của việc thực hiện chính sách này (như: áp dụng ưu đãi có thời hạn, theo kết quả thực hiện dự án; nhà đầu tư phải bảo đảm đáp ứng điều kiện ưu đãi trong thời gian được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật). Đặc biệt, Luật Đầu tư (sửa đổi 2020) cũng đã bổ sung quy định cho phép Thủ tướng Chính phủ áp dụng ưu đãi đặc biệt để tạo cơ chế, chính sách đủ sức hấp dẫn, kịp thời thu hút dòng vốn FDI đang dịch chuyển nhanh chóng trong bối cảnh hiện nay…

Tuy nhiên, quá trình thực thi Luật Đầu tư 2020 đã phát sinh những vướng mắc, bất cập, ảnh hưởng trực tiếp đến đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và công tác quản lý nhà nước về đầu tư. Cụ thể như: Luật Đầu tư và Luật Đất đai chưa có quy định thống nhất trong việc quyết định chủ trương thực hiện dự án (đối với dự án ngoài ngân sách) với kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện; Vướng mắc về thủ tục đầu tư liên quan tại khoản 4 điều 29 Luật Đầu tư quy định và điều 62 (Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng) và điều 63 (Căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng) của Luật Đất đai 2013, Luật Đấu thầu; Vướng mắc giữa Luật Đầu tư 2020 và Luật Nhà ở liên quan đến chấp thuận chủ trương đầu tư dự án nhà ở; Quy định vướng mắc giữa Luật Đầu tư 2020 và Luật Lâm nghiệp liên quan đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng…

3-1695878078.jpg

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính trao đổi với các nhà đầu tư, các doanh nghiệp bên lề Hội nghị Thủ tướng Chính phủ gặp mặt các nhà đầu tư nước ngoài tháng 4/2023

Hay như những rào cản về thủ tục hành chính, quy định về phòng cháy chữa cháy, môi trường, hải quan… mà đại diện các nhà đầu tư nước ngoài đã chỉ ra và kiến nghị đến Thủ tướng tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ gặp mặt các nhà đầu tư nước ngoài hồi tháng 4/2023.

Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam (Kocham) Ông Hong Sun đã kiến nghị Thủ tướng xem xét tháo gỡ khó khăn về lao động, phòng cháy chữa cháy. Theo Ông Hong Sun các doanh nghiệp Hàn Quốc mới vào đầu tư tại Việt Nam đang gặp một số khó khăn liên quan đến cơ chế cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài và phê duyệt hạ tầng phòng cháy chữa cháy.

Trong khi đó, Ông Masayoshi Fujimoto, chủ tịch Ủy ban Kinh doanh Nhật Bản - Việt Nam tại Liên đoàn Doanh nghiệp Nhật Bản (Keidanren) cho rằng, môi trường đầu tư ở Việt Nam đang diễn ra sự chậm trễ trong việc phê duyệt các dự án. Nếu vấn đề này được giải quyết trong thời gian tới sẽ rất hữu ích và hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp…

Theo các DN, trong thời gian gần đây, các văn bản quy phạm pháp luật và quy chuẩn PCCC liên tục được ban hành, sửa đổi nhằm mục đích phòng tránh rủi ro, bảo vệ quyền lợi và tài sản của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong quá trình thi hành, áp dụng thực tiễn đã phát sinh nhiều khó khăn, bất cập, làm gia tăng gấp nhiều lần thời gian, chi phí, và tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh chung của Việt Nam.

Đáng chú ý, liên quan đến chính sách thuế đối với FDI, một số chuyên gia chỉ rằng chính sách thuế hiện tại ở Việt Nam là một trong những công cụ đắc lực thu hút nguồn vốn FDI. Tuy nhiên, trong bối cảnh EU, Hàn Quốc, Nhật Bản và nhiều quốc gia khác đang nhanh chóng nội luật hóa quy tắc thuế tối thiểu toàn cầu với mục đích thu thuế bổ sung ngay từ đầu năm 2024.

Nhiều quốc gia cạnh tranh với Việt Nam như Ấn Độ, Thái Lan… đã và đang thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động của thuế suất tối thiểu toàn cầu thông qua hình thức ưu đãi, trợ cấp…  Điều này tác động không nhỏ đến sức hút môi trường đầu tư Việt Nam, đòi hỏi Việt Nam cần khẩn trương xây dựng các chính sách ưu đãi phù hợp, cạnh tranh để thu hút đầu tư, đặc biệt là trước quy định thuế tối thiểu toàn cầu sắp được áp dụng.

Hoàn thiện chính sách pháp luật, đón sóng đầu tư FDI

Mặc dù, thời gian qua, các cơ quan chức năng không ngừng nỗ lực để hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách để nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư FDI vào Việt Nam. Các quy định pháp luật về đầu tư nói chung và việc thu hút FDI ở Việt Nam đã và đang dần được bổ sung hoàn thiện. Tuy nhiên nhiều quy định vẫn còn chồng chéo, chưa theo kịp yêu cầu phát triển...

Sự kiện nâng tầm quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện; hay trước đó là mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện giữa Việt Nam - Hàn Quốc được thiết lập cuối năm 2022… Chắc chắn nền kinh tế Việt Nam sẽ được hưởng lợi. Tuy nhiên, để hiện thực hóa các mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam cũng còn nhiều việc phải làm. Trong đó, đặc biệt là hoàn thiện hành lang pháp lý để thu hút các nhà đầu tư.

4-1695878079.png

Do đó, chúng tôi cho rằng, để tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút FDI, đón làn sóng đầu tư mới từ Hoa Kỳ cũng như từ nhiều quốc gia phát triển khác, các cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật minh bạch, đơn giản, tránh chồng chéo giữa các văn bản luật gây khó khăn cho nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Trong đó:

Thứ nhất, cần sớm hoá giải các quy định xung đột, chồng chéo lớn trong các văn bản luật như: Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Đấu thầu; Luật Nhà ở... Hiện các cơ quan chức năng đang nghiên cứu sửa đổi bổ sung Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở, Luật Tài nguyên nước…  Do đó cần đặc biệt lưu ý nghiên cứu sửa đổi bổ sung các quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư, quy định về tiếp cận tài nguyên đất đai, tài chính… liên quan đến hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài.

Thứ hai, tập trung rà soát và kịp thời tháo gỡ những rào cản về thủ tục hành chính, quy định về phòng cháy chữa cháy, môi trường, hải quan; các quy định về chuẩn, tiêu chuẩn phù hợp với thông lệ quốc tế… để môi trường đầu tư kinh doanh thực sự trở nên thông thoáng hơn hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, bao gồm nhà đầu tư Hoa Kỳ.

Đặc biệt, cần sớm nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thuế TNDN để giải tỏa nỗi lo lắng khi thuế tối thiểu toàn cầu có hiệu lực vào năm 2024 sẽ ảnh hưởng đến chiến lược đầu tư và hiệu quả của dự án của cộng đồng doanh nghiệp FDI. Mặc dù hiện nay, Chính phủ và các bộ ngành đã và đang tích cực nghiên cứu nhằm đưa ra chính sách ứng phó, chính sách hỗ trợ nhà đầu tư trước tác động của thuế tối thiểu toàn cầu… Tuy nhiên, về lâu dài, các cơ quan chức năng cần sớm nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật Thuế TNDN.

Trong đó, cần bổ sung quy định về thuế suất tối thiểu toàn cầu; quy định về quyền đánh thuế bổ sung phần thuế chênh lệch đối với các DN Việt Nam đầu tư ra nước ngoài.

Việc sửa đổi, bổ sung chính sách thuế TNDN cần được việc được thực hiện theo nguyên tắc: i) Mở rộng cơ sở tính thuế thông, thu hẹp diện miễn, giảm thuế TNDN, trong đó, có tính đến ảnh hưởng của Trụ cột 2 về thuế tối thiểu toàn cầu trong việc rà soát, sửa đổi bổ sung chính sách ưu đãi thuế TNDN; ii) Áp dụng chính sách thuế TNDN không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, đảm bảo duy trì được sự cạnh tranh về thuế so với các nước trong khu vực; iii) Có các biện pháp phù hợp để chống xói mòn nguồn thu do sự xuất hiện của các “mô hình kinh doanh mới” và sự gia tăng của các hoạt động giao dịch thương mại điện tử xuyên biên giới. Đồng thời, coi trọng “tính trung lập” của thuế TNDN, không gắn cho thuế TNDN các chức năng mà bản thân sắc thuế này không thể đảm nhận hoặc đảm nhận không hiệu quả.

Cùng với đó, để đảm bảo tính hấp dẫn trong thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài trong bối cảnh thực hiện Trụ cột 2 (về thuế tối thiểu toàn cầu) cần cân nhắc xây dựng các hình thức hỗ trợ phù hợp ngoài thuế nhằm bù đắp cho các nhà đầu tư bị ảnh hưởng. Nói cách khác, cần nghiên cứu để có những chính sách hỗ trợ thay thế cho những ưu đãi về thuế TNDN đã bị giảm tác dụng do quy định của Trụ cột 2.

Đồng thời, cũng cần phải sửa đổi đồng bộ các luật thuế có liên quan như Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt, Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Thuế Tài nguyên, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất nông nghiệp.....

Đinh Chiến – Thái Dương

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin