Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân

(Pháp lý). Thực tiễn cho thấy, chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân có mối quan hệ chặt chẽ với sự lãnh đạo của Đảng. Sự lãnh đạo đúng đắn, khoa học và hiệu quả của Đảng không chỉ bảo đảm định hướng chính trị cho hoạt động giám sát mà còn tạo cơ sở để nâng cao chất lượng quyết sách, tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Trong điều kiện mới, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng.

Dưới đây, TCPL trân trọng đăng tải bài viết của GS.TS.Phan Trung Lý (nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội )

1-1783412679.jpg

Ban Chỉ đạo Xây dựng Đề án “Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân” tổ chức Phiên họp thứ nhất. (Nguồn: Quochoi.vn)

Đặt vấn đề: Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân có vị trí đặc biệt quan trọng nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước được thực hiện đúng Hiến pháp và pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân.

Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nghị quyết số 66-NQ/TW, Nghị quyết số 68-NQ/TW cùng nhiều nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đã xác định yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, tăng cường kiểm soát quyền lực, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan dân cử trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu đột phá về thể chế, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thực tiễn cho thấy, chất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân có mối quan hệ chặt chẽ với sự lãnh đạo của Đảng. Sự lãnh đạo đúng đắn, khoa học và hiệu quả của Đảng không chỉ bảo đảm định hướng chính trị cho hoạt động giám sát mà còn tạo cơ sở để nâng cao chất lượng quyết sách, tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trong điều kiện mới, việc nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng.

 1. Căn cứ lý luận và thực tiễn

 1.1. Cơ sở lý luận

 Ở nước ta Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, bảo đảm cho quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và được thực hiện vì lợi ích của Nhân dân. Hiến pháp năm 2013 khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời xác định nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giám sát là một trong những phương thức quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước. Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân không chỉ nhằm phát hiện, xử lý các vi phạm pháp luật mà còn đánh giá hiệu quả thực thi chính sách, pháp luật, bảo đảm việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát là yêu cầu khách quan nhằm bảo đảm tính đúng đắn về định hướng chính trị, thống nhất giữa đường lối của Đảng với hoạt động của các cơ quan dân cử, đồng thời phát huy đầy đủ vai trò của Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong kiểm soát quyền lực, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.

1.2. Trong nhiều bài phát biểu và chỉ đạo gần đây, Tô Lâm đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu đổi mới và tăng cường hiệu quả hoạt động của Quốc hội nhằm:

  - "Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế”;

 - Xây dựng bộ máy “kiến tạo phát triển”;

 - Chính quyền phải “vì dân, gần dân, sát dân”;

 - Lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của chính quyền”.

Điều đó đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân (HĐND) theo hướng thực chất, hiệu lực, hiệu quả, không hình thức, không né tránh, không “giám sát cho có”.

Bản chất của giám sát là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Ở đâu có quyền lực nhà nước thì ở đó phải có cơ chế kiểm soát quyền lực. Nếu thiếu giám sát hiệu quả, quyền lực rất dễ bị lạm dụng, tha hóa hoặc vận hành xa rời lợi ích Nhân dân.

Giám sát không đơn thuần là “kiểm tra sai phạm”, mà sâu xa hơn là:

 - Phát hiện bất cập của chính sách và pháp luật;    

 -  Phát hiện điểm nghẽn trong quản lý;

 - Phòng ngừa vi phạm;

 - Kiến nghị hoàn thiện thể chế;

 - Thúc đẩy hiệu quả quản trị địa phương.

 Do đó, giám sát hiện đại phải mang tính kiến tạo phát triển chứ không chỉ mang tính “bắt lỗi”.

 1.3. Cơ sở thực tiễn

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân đã có nhiều đổi mới quan trọng. Các cuộc giám sát chuyên đề ngày càng đi vào những vấn đề lớn, bức xúc của đất nước; hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn được đổi mới theo hướng dân chủ, công khai, thực chất; việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm và giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri được tăng cường.

Đặc biệt, nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực, lãng phí nghiêm trọng được phát hiện, xử lý; nhiều bất cập trong cơ chế, chính sách được nhận diện và kiến nghị hoàn thiện; trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước từng bước được nâng cao. Điều đó khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động giám sát trong kiểm soát quyền lực và thúc đẩy phát triển đất nước.

Tuy nhiên, bối cảnh phát triển mới với yêu cầu đột phá thể chế, phát triển kinh tế số, xã hội số, chính quyền số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo đang đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động giám sát cũng như sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động này.

2. Thực trạng và những vấn đề đặt ra 

2.1. Những kết quả đạt được và tồn tại, hạnh chế

2.1.1. Những kết quả đạt được

- Thứ nhất, nhận thức về vị trí, vai trò của giám sát trong kiểm soát quyền lực nhà nước ngày càng đầy đủ hơn.

- Thứ hai, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết quan trọng về xây dựng Nhà nước pháp quyền, kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, tiêu cực và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân.

- Thứ ba, nội dung giám sát ngày càng bám sát các vấn đề trọng tâm, chiến lược, các vấn đề được cử tri và Nhân dân quan tâm.

- Thứ tư, hiệu lực, hiệu quả giám sát từng bước được nâng cao; nhiều kiến nghị giám sát được tiếp thu, xử lý và thể chế hóa thành chính sách, pháp luật.

 2.1.2. Những hạn chế, bất cập

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát vẫn còn những hạn chế:

- Một là, ở một số nơi, việc quán triệt và thể chế hóa các chủ trương của Đảng về giám sát chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ.

- Hai là, chất lượng một số cuộc giám sát chưa đáp ứng yêu cầu; khả năng phát hiện những vấn đề mang tính chiến lược, những nguy cơ tiềm ẩn còn hạn chế.

- Ba là, việc theo dõi, đôn đốc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát chưa thật quyết liệt; tỷ lệ thực hiện đầy đủ các kiến nghị giám sát còn chưa cao.

- Bốn là, năng lực chuyên môn, kỹ năng giám sát của một bộ phận đại biểu dân cử chưa theo kịp yêu cầu quản trị hiện đại và chuyển đổi số.

- Năm là, việc ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong hoạt động giám sát còn chậm.

2.2. Những bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

Thực tiễn gần 40 năm đổi mới, đặc biệt qua quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và yêu cầu phát triển đất nước trong Kỷ nguyên phát triển mới đã khẳng định rằng, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân ngày càng thực chất, hiệu lực, hiệu quả, góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Từ thực tiễn đó, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cơ bản sau đây:

- Thứ nhất, phải luôn kiên định sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, đồng thời không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo đối với hoạt động giám sát.

Đây là bài học có ý nghĩa nền tảng, xuyên suốt. Thực tiễn cho thấy, ở bất kỳ giai đoạn nào, khi sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện đúng nguyên tắc, khoa học, tôn trọng chức năng, thẩm quyền của Quốc hội và Hội đồng nhân dân thì hoạt động giám sát đều có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia.

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, sự lãnh đạo của Đảng không phải là làm thay hoạt động của cơ quan dân cử, mà được thực hiện thông qua việc hoạch định đường lối, chủ trương, định hướng chiến lược; xây dựng đội ngũ cán bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Đảng; đồng thời tạo điều kiện để Quốc hội và Hội đồng nhân dân phát huy đầy đủ tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm trước Nhân dân.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng khoa học, hiện đại, kiến tạo phát triển, tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực, phát huy tính chủ động của các thiết chế trong hệ thống chính trị. Đây chính là định hướng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động giám sát trong giai đoạn mới.

- Thứ hai, phải đặt hoạt động giám sát trong tổng thể cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Một bài học quan trọng được đúc kết từ thực tiễn là hoạt động giám sát chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi trở thành một cấu phần hữu cơ trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước.

Nghị quyết số 27-NQ/TW đã xác định kiểm soát quyền lực là yêu cầu xuyên suốt trong tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước.   Theo đó, hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân không chỉ nhằm phát hiện vi phạm, xử lý sai phạm mà còn hướng tới phòng ngừa rủi ro thể chế, hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và bảo đảm mọi quyền lực nhà nước được thực hiện đúng Hiến pháp và pháp luật.

Trong Kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi đất nước bước vào giai đoạn chuyển đổi số toàn diện, phát triển kinh tế số, trung tâm tài chính quốc tế, trí tuệ nhân tạo và nhiều mô hình quản trị mới, đòi hỏi cơ chế giám sát phải theo kịp tốc độ phát triển.

- Thứ ba, phải lấy hiệu quả thực chất của hoạt động giám sát làm thước đo năng lực lãnh đạo của Đảng.

Thực tiễn cho thấy, giá trị của hoạt động giám sát không nằm ở số lượng cuộc giám sát, số lượng báo cáo hay phiên chất vấn được tổ chức, mà được thể hiện ở khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn, khắc phục hạn chế, hoàn thiện chính sách và tạo chuyển biến trong quản lý nhà nước.

Chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ hoạt động của Quốc hội theo hướng hành động, hiệu quả, thực chất, lấy kết quả cuối cùng phục vụ Nhân dân và phát triển đất nước làm tiêu chí đánh giá.

Luật số 121/2025/QH15 đã tiếp tục hoàn thiện cơ chế theo dõi, đôn đốc, đánh giá việc thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát, qua đó góp phần nâng cao tính ràng buộc pháp lý, tăng cường trách nhiệm giải trình và khắc phục tình trạng kết luận giám sát chậm được thực hiện hoặc thực hiện hình thức.

- Thứ tư, phải phát huy dân chủ, công khai, minh bạch, phát huy vai trò  giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và sự tham gia của Nhân dân

Một trong những kinh nghiệm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc là hoạt động giám sát càng gắn bó với Nhân dân thì càng phản ánh đúng yêu cầu của thực tiễn và càng tạo được sự đồng thuận xã hội.

Sự lãnh đạo của Đảng cần tiếp tục định hướng mở rộng các hình thức để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp, chuyên gia, nhà khoa học và Nhân dân tham gia vào quá trình xác định chuyên đề giám sát, cung cấp thông tin, phản biện, theo dõi việc thực hiện kết luận giám sát.

Đây vừa là yêu cầu của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, vừa là giải pháp quan trọng để nâng cao tính khách quan, công khai và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước.

- Thứ năm, phải đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học, công nghệ trong hoạt động giám sát.

Trong Kỷ nguyên phát triển mới, chuyển đổi số không còn là giải pháp kỹ thuật mà trở thành phương thức tổ chức hoạt động giám sát hiện đại.

Thực tiễn cho thấy việc khai thác cơ sở dữ liệu quốc gia, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, hệ thống phân tích dữ liệu và nền tảng số sẽ giúp cơ quan dân cử phát hiện sớm dấu hiệu bất thường, đánh giá chính xác hiệu quả thực hiện chính sách, nâng cao chất lượng dự báo và giảm đáng kể chi phí giám sát.

Đây cũng là điều kiện để chuyển từ phương thức giám sát chủ yếu dựa trên báo cáo sang giám sát dựa trên dữ liệu, bằng chứng và các chỉ số định lượng khách quan.

- Thứ sáu, phải xây dựng đội ngũ đại biểu dân cử và cán bộ tham mưu giám sát có bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn và tư duy đổi mới.

Hoạt động giám sát suy cho cùng được quyết định bởi chất lượng của con người thực hiện quyền giám sát.

Do đó, một bài học quan trọng là Đảng phải đặc biệt quan tâm công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, cán bộ các cơ quan của Quốc hội và Hội đồng nhân dân có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược, kiến thức pháp luật hiện đại, am hiểu kinh tế số, khoa học - công nghệ, tài chính, quản trị công và kỹ năng phân tích chính sách.

Trong bối cảnh xuất hiện nhiều lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo, tài sản số, tài chính số, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, đội ngũ thực hiện giám sát càng cần được đào tạo theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế.

Những bài học kinh nghiệm nêu trên là kết quả tổng kết thực tiễn quá trình lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong thời kỳ đổi mới, đồng thời phản ánh những yêu cầu mới của Kỷ nguyên phát triển mới. Các bài học này không chỉ có giá trị tổng kết lịch sử mà còn có ý nghĩa định hướng cho việc tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết số 27-NQ/TW và Luật số 121/2025/QH15, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam tinh gọn, hiện đại, liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động vì Nhân dân và vì mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.

2.3. Những vấn đề đặt ra

Giai đoạn phát triển mới của đất nước đang đặt ra nhiều yêu cầu mới:

- Yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

- Yêu cầu giám sát việc thực hiện các đột phá chiến lược về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực.

- Yêu cầu giám sát việc thực hiện các nghị quyết chiến lược của Đảng về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế tư nhân.

- Yêu cầu nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước trước Nhân dân.

- Yêu cầu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch và hiệu quả.

3.  Quan điểm, giải pháp và kiến ngh

3.1.Quan điểm

- Thứ nhất, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát phải bảo đảm sự thống nhất giữa nguyên tắc Đảng lãnh đạo với yêu cầu phát huy tính chủ động, trách nhiệm và quyền hạn hiến định của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

- Thứ hai, phải đặt hoạt động giám sát trong tổng thể cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW.

- Thứ ba, hoạt động giám sát phải hướng tới phục vụ phát triển đất nước nhanh và bền vững, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.

- Thứ tư, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng phải gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, đề cao trách nhiệm nêu gương, trách nhiệm giải trình và tính công khai, minh bạch.

3.2. Các giải pháp chủ yếu

- Một là, tiếp tục hoàn thiện nhận thức lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát

Cần làm rõ hơn nội hàm, phương thức và cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền quản trị hiện đại.

- Hai là, hoàn thiện thể chế về hoạt động giám sát

Tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về giám sát nhằm nâng cao tính thực chất, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động giám sát; hoàn thiện cơ chế theo dõi, đánh giá và xử lý trách nhiệm trong thực hiện kiến nghị giám sát.

- Ba là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng

Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết; bằng công tác cán bộ; bằng kiểm tra, giám sát và nêu gương; đồng thời tôn trọng tính độc lập tương đối và thẩm quyền theo Hiến pháp, pháp luật của Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

- Bốn là, nâng cao chất lượng đội ngũ đại biểu dân cử

Tăng cường đào tạo kiến thức pháp luật, kinh tế, công nghệ, kỹ năng giám sát, kỹ năng phân tích chính sách và sử dụng dữ liệu số cho đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

- Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động giám sát

Xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ giám sát; phát triển các nền tảng giám sát số; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và công nghệ phân tích dự báo nhằm nâng cao chất lượng giám sát.

- Sáu là, phát huy vai trò của Nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và báo chí

Tăng cường cơ chế tiếp nhận, xử lý thông tin từ Nhân dân; phát huy vai trò giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; mở rộng sự tham gia của chuyên gia, nhà khoa học vào hoạt động giám sát.

3.3. Kiến nghị tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

3.3.1. Kiến nghị chung

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại, phát triển nền kinh tế số, xã hội số và nền quản trị quốc gia hiện đại, hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân cần được tiếp tục đổi mới mạnh mẽ cả về tư duy, thể chế, phương thức tổ chức và điều kiện bảo đảm thực hiện. Đổi mới hoạt động giám sát phải được đặt trong tổng thể đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đồng thời phát huy đầy đủ tính chủ động, sáng tạo, trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan dân cử theo đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013.

Trên cơ sở đó, cần quán triệt thống nhất nhận thức rằng tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát không phải là tăng cường sự can thiệp vào hoạt động giám sát cụ thể, mà là tăng cường sự lãnh đạo bằng đường lối, chủ trương, chiến lược, công tác cán bộ, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và bằng việc xây dựng các điều kiện chính trị, pháp lý, tổ chức và nguồn lực để hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân thực sự hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch, khách quan và phục vụ sự phát triển đất nước.

Đồng thời, cần coi nâng cao hiệu quả thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát là khâu đột phá của đổi mới hoạt động giám sát; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong toàn bộ quy trình giám sát; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị nhằm hình thành cơ chế giám sát đồng bộ, liên thông, kịp thời và hiệu quả.

3.3.2. Kiến nghị với Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương và chiến lược

Đề nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư tiếp tục nghiên cứu ban hành hoặc chỉ đạo xây dựng các chủ trương, định hướng chiến lược về đổi mới toàn diện hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong điều kiện phát triển mới của đất nước. Trong đó cần xác định rõ nâng cao chất lượng hoạt động giám sát là một trong những giải pháp quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền quản trị quốc gia hiện đại và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững.

Cần chỉ đạo nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045, bảo đảm phù hợp với chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Chiến lược này cần xác định rõ mục tiêu đổi mới hoạt động  giám sát với yêu cầu " giám sát đến cùng" vơi phương thức hiện đại, chuyên nghiệp, dựa trên dữ liệu số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, kết nối đồng bộ với hệ thống dữ liệu quốc gia, từng bước hình thành mô hình "giám sát số", "giám sát thông minh", đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại.

Đề nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo đối với hoạt động giám sát theo hướng rõ chức năng, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng nhưng đồng thời tôn trọng đầy đủ nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan nhà nước theo Hiến pháp.

3.3.3. Kiến nghị với Quốc hội về hoàn thiện pháp luật và đổi mới hoạt động giám sát

Đề nghị Quốc hội tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về hoạt động giám sát theo hướng đồng bộ, hiện đại và phù hợp với yêu cầu chuyển đổi số quốc gia. Trọng tâm là nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và nâng cao hiệu lực thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát.

Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế pháp lý đủ mạnh để bảo đảm các kết luận giám sát được thực hiện nghiêm túc. Cần quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát; thiết lập cơ chế theo dõi, đánh giá việc thực hiện kiến nghị sau giám sát; quy định chế tài phù hợp đối với trường hợp chậm thực hiện, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các kết luận giám sát.

Quốc hội cũng cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động giám sát; xây dựng cơ sở dữ liệu giám sát thống nhất; phát triển các nền tảng số phục vụ thu thập thông tin, phân tích dữ liệu, cảnh báo sớm các vấn đề nổi cộm; tăng cường ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong hỗ trợ phân tích chính sách, đánh giá tác động và theo dõi việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội.

Đồng thời, cần tiếp tục đổi mới phương thức giám sát theo hướng lấy hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp làm thước đo quan trọng đánh giá chất lượng hoạt động giám sát.

3.3.4. Kiến nghị với Chính phủ về chương trình hành động và tổ chức thực hiện nghị quyết, kết luận giám sát

Đề nghị Chính phủ khẩn trương xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình hành động cụ thể nhằm triển khai đầy đủ các nghị quyết của Đảng, nghị quyết của Quốc hội và các kết luận giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc tổ chức thực hiện phải bảo đảm rõ mục tiêu, rõ nhiệm vụ, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương và gắn với cơ chế kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện.

Đồng thời, cần xây dựng cơ chế báo cáo điện tử thống nhất về việc thực hiện các kiến nghị sau giám sát; định kỳ cập nhật tiến độ thực hiện trên nền tảng số, tạo điều kiện để Quốc hội, Hội đồng nhân dân và cử tri theo dõi, đánh giá một cách công khai, minh bạch.

Chính phủ cần đẩy mạnh xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia phục vụ hoạt động giám sát; tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương; từng bước hình thành hệ sinh thái dữ liệu phục vụ công tác giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện chính sách và pháp luật.

Đề nghị Chính phủ chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ về phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số cho đội ngũ cán bộ tham mưu, phục vụ hoạt động giám sát; đầu tư đồng bộ hạ tầng công nghệ, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng, tạo nền tảng cho việc xây dựng mô hình giám sát hiện đại trong kỷ nguyên số.

Kết luận

Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân là yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Vai trò lãnh đạo đó cần tiếp tục được đổi mới theo hướng lãnh đạo bằng chủ trương, chiến lược, thể chế, công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát và định hướng phát triển, bảo đảm vừa giữ vững sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, vừa phát huy đầy đủ vị trí, vai trò, tính độc lập tương đối và trách nhiệm của các cơ quan dân cử theo Hiến pháp.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu hiện đại hóa nền quản trị quốc gia, hoạt động giám sát cần được đổi mới toàn diện trên cơ sở ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo; đồng thời phải lấy hiệu quả thực hiện các kết luận giám sát, mức độ tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước và sự hài lòng của Nhân dân làm tiêu chí đánh giá chất lượng giám sát. Đây không chỉ là yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, mà còn là điều kiện quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh và hùng cường trong kỷ nguyên phát triển mới.

GS.TS.Phan Trung Lý (Nguyên Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội)

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin