Hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá xuất khẩu: Yêu cầu pháp lý và giải pháp thực hiện

(Pháp lý). Hoàn thuế giá trị gia tăng có ý nghĩa trực tiếp đối với vốn lưu động và hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp. Việc giải quyết hoàn thuế phải đồng thời đáp ứng hai yêu cầu: kiểm soát gian lận và bảo đảm quyền của người nộp thuế.

Tóm tắt: Trên cơ sở phân tích pháp luật Việt Nam, tài liệu chính sách công khai và tham vấn kinh nghiệm của Singapore và Trung Quốc, bài viết xin tập trung làm rõ điều kiện hoàn thuế, thời hạn giải quyết và trách nhiệm của các bên. Từ đó, bài viết phân tích những vướng mắc trong xác minh giao dịch, việc kéo dài thời gian xử lý và ảnh hưởng đến khả năng duy trì đơn hàng xuất khẩu. Các giải pháp được đề xuất theo hai hướng: thực hiện đầy đủ những quy định đã có và tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát thời gian, trách nhiệm giải trình, xử lý hậu quả của việc chậm hoàn thuế. Quan điểm xuyên suốt của tác giả là việc kiểm tra chặt chẽ phải đi cùng với việc giải quyết đúng hạn; khoản thuế đủ điều kiện được hoàn phải được giải quyết trên cơ sở pháp luật, không phụ thuộc vào những lý do trì hoãn chung chung.

Từ khóa: hoàn thuế giá trị gia tăng; hàng hóa xuất khẩu; vốn lưu động; thời hạn giải quyết; quản lý rủi ro.

VALUE-ADDED TAX REFUNDS FOR EXPORTED GOODS: LEGAL REQUIREMENTS AND IMPLEMENTATION SOLUTIONS

Abstract: Value-added tax refunds have a direct bearing on enterprises’ working capital and export activities. The processing of tax refunds must meet two requirements simultaneously: preventing fraud and safeguarding taxpayers’ rights. Based on an analysis of Vietnamese law, publicly available policy documents, and relevant experience from Singapore and China, this article examines the conditions for VAT refunds, the applicable time limits for processing refund claims, and the responsibilities of the parties concerned. It then analyses difficulties arising from transaction verification, prolonged processing times, and their effects on enterprises’ ability to maintain export orders. The proposed solutions follow two main directions: ensuring the full and effective implementation of existing regulations; and further improving mechanisms for monitoring processing times, strengthening accountability, and addressing the consequences of delayed refunds. The author’s central argument is that rigorous verification must go hand in hand with timely resolution. Where a tax amount satisfies the statutory conditions for refund, it must be processed in accordance with the law and must not be delayed on the basis of vague or general reasons.

Keywords: value-added tax refund; exported goods; working capital; processing time limits; risk management.

1-1789548730.png

Ảnh minh hoạ

1. Đặt vấn đề

Trong Nhà nước pháp quyền, yêu cầu thượng tôn pháp luật luôn đặt ra đối với cả người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế. Doanh nghiệp phải kê khai trung thực, nộp thuế đúng, đủ và đúng hạn; cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm kiểm tra, xử lý vi phạm, đồng thời bảo đảm các quyền mà pháp luật dành cho doanh nghiệp, trong đó có quyền được hoàn thuế khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, hoàn thuế không chỉ là một thủ tục hành chính. Doanh nghiệp thường đã trả tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào khi mua hàng, trong khi hàng hóa xuất khẩu đủ điều kiện được áp dụng thuế suất 0%. Do đó, khoản thuế chưa được hoàn làm giảm số vốn có thể sử dụng cho đơn hàng tiếp theo. Nếu thời gian chờ kéo dài, doanh nghiệp vẫn phải thanh toán cho nhà cung cấp, trả lãi ngân hàng và thực hiện cam kết với đối tác nước ngoài.

Vì vậy, vấn đề không phải chỉ là lựa chọn giữa kiểm tra chặt chẽ và hoàn thuế kịp thời, mà cần tổ chức việc kiểm tra như thế nào để vừa ngăn chặn gian lận, vừa không làm đình trệ quyền lợi hợp pháp doanh nghiệp. Bài viết tiếp cận vấn đề từ mối liên hệ giữa quy định của pháp luật với việc giải quyết hồ sơ và chi phí vốn của doanh nghiệp.

Phạm vi nghiên cứu là hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa xuất khẩu, được đối chiếu với pháp luật hiện hành. Phần thực trạng sử dụng tài liệu chính sách công khai và tình huống khái quát, không dựa trên kết quả khảo sát đại diện. Các phân tích về thiệt hại kinh tế là phân tích khả năng tác động, không phải kết luận về thiệt hại của một doanh nghiệp cụ thể. Những sửa đổi, bổ sung của luật đã có hiệu lực được phân biệt với kiến nghị tiếp tục hoàn thiện pháp luật.

2. Cơ sở pháp lý của việc hoàn thuế đối với hàng hóa xuất khẩu

2.1. Hoàn thuế là quyền có điều kiện, không phải sự hỗ trợ tùy nghi

Theo hướng dẫn của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), thuế GTGT về nguyên tắc đánh vào tiêu dùng cuối cùng (người sử dụng sau cùng). Đối với thương mại quốc tế, thuế được thu theo nơi tiêu dùng. Khấu trừ và hoàn thuế đầu vào giúp hạn chế việc thuế trở thành chi phí của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, lưu thông.[1] Cơ sở giải thích tính trung lập của thuế chính là: thuế không nên tạo thêm gánh nặng cho hoạt động kinh doanh ngoài mục tiêu mà chính sách thuế đặt ra.

Tuy nhiên, nguyên tắc đó không đương nhiên thay thế các điều kiện của pháp luật Việt Nam. Cần phân biệt việc được áp dụng thuế suất 0%, việc được khấu trừ thuế đầu vào và việc được hoàn thuế. Ba vấn đề này có liên quan nhưng không đồng nhất, bởi có hoạt động xuất khẩu chưa có nghĩa mọi khoản thuế trên hóa đơn mua vào đều được hoàn ngay.

Theo Điều 9, Điều 14 và Điều 15 Luật Thuế GTGT, việc giải quyết phải xem xét cả tính chất hàng hóa, giao dịch xuất khẩu, hóa đơn, chứng từ thanh toán và các điều kiện khấu trừ, hoàn thuế. Khoản 1 Điều 15 quy định ngưỡng thuế đầu vào chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng đối với hoàn theo tháng, quý; đồng thời loại trừ hàng nhập khẩu sau đó xuất khẩu sang nước khác. Trường hợp vừa xuất khẩu vừa tiêu thụ trong nước thì phải xác định phần thuế đầu vào cho xuất khẩu, thực hiện bù trừ theo luật. Số thuế được hoàn không vượt quá 10% doanh thu xuất khẩu của kỳ hoàn; phần vượt giới hạn được chuyển sang kỳ sau theo quy định.[2]

Từ đó, chúng ta cần phân biệt khoản chưa đủ điều kiện hoàn do chính sách với khoản đã đủ điều kiện nhưng giải quyết chậm. Cả hai trường hợp đều có thể ảnh hưởng đến dòng vốn của doanh nghiệp, nhưng căn cứ pháp lý và giải pháp là khác nhau. Trường hợp thứ nhất đặt ra yêu cầu cần phải đánh giá chính sách; còn trường hợp thứ hai trước hết đặt ra yêu cầu thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Đối với doanh nghiệp thương mại mua hàng hóa thành phẩm trong nước để xuất khẩu, việc không trực tiếp sản xuất không tự nó làm mất đi quyền hoàn thuế. Cơ quan quản lý thuế cần xem xét giao dịch và điều kiện theo luật định, chứ không chỉ căn cứ vào loại hình kinh doanh. Ngược lại, doanh nghiệp phải chứng minh được giao dịch là có thực và đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định chứ không thể chỉ viện dẫn việc hàng hóa đã xuất khẩu để thay thế toàn bộ hồ sơ đầu vào.

2.2. Những sửa đổi, bổ sung quan trọng về điều kiện và cách giải quyết

Luật số 149/2025/QH15 đã bãi bỏ điểm c khoản 9 Điều 15 Luật Thuế GTGT về điều kiện người bán đã kê khai, nộp thuế đối với hóa đơn xuất cho cơ sở đề nghị hoàn.[3] Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 359/2025/NĐ-CP quy định cả trường hợp hồ sơ được tiếp nhận trước ngày 01/01/2026 nhưng chưa có quyết định hoàn thuế hoặc quyết định hoàn thuế kiêm bù trừ thu ngân sách nhà nước cũng không phải đáp ứng điều kiện này.[4]

Việc sửa đổi, bổ sung trên đã giúp làm rõ giới hạn trách nhiệm giữa người mua và người bán. Người mua phải chịu trách nhiệm về giao dịch, chứng từ và việc kê khai của mình, nhưng không có thẩm quyền buộc người bán thực hiện nghĩa vụ thuế. Vì thế, không thể tiếp tục lấy riêng việc người bán chưa kê khai, nộp thuế làm điều kiện từ chối hoàn thuế theo quy định đã bị bãi bỏ.

Điều đó không có nghĩa hóa đơn khống hoặc giao dịch thông đồng được chấp nhận. Khi có căn cứ nghi ngờ, cơ quan quản lý thuế vẫn phải kiểm tra, xác minh. Nhưng một điểm cần phải phân biệt là việc kiểm tra tính hợp pháp của giao dịch khác với yêu cầu người mua bảo đảm nghĩa vụ thuế thay cho người bán.

Về cách giải quyết, khoản 3 Điều 18 Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 cho phép phân loại hồ sơ hoặc số tiền hoàn thuế để áp dụng hoàn trước hoặc kiểm tra trước. Điều 30 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP và Điều 48, Điều 49 Thông tư số 89/2026/TT-BTC cụ thể hóa việc xử lý đối với một phần số tiền có rủi ro cao.[5] Như vậy, hoàn thuế từng phần không còn chỉ là một kiến nghị. Vấn đề hiện nay là thực hiện được quy định này trong từng hồ sơ.

Theo điểm b.2 khoản 1 Điều 49 Thông tư số 89/2026/TT-BTC, phần tiền có rủi ro cao được chuyển sang kiểm tra trước; phần còn lại tiếp tục được xử lý theo quy định. Việc tách phần tiền phải có căn cứ, không phải chia hồ sơ một cách máy móc. Nếu dấu hiệu vi phạm ảnh hưởng đến toàn bộ giao dịch, phạm vi kiểm tra có thể được mở rộng hơn. Nhưng nếu chỉ một số giao dịch cần xác minh thì cần xem xét riêng phần không bị ảnh hưởng, thay vì để toàn bộ khoản đề nghị hoàn thuế cùng phải chờ đợi.

2.3. Thời hạn giải quyết phải được tính đúng từ từng thời điểm

Điều 31 Nghị định số 252/2026/NĐ-CP quy định thời hạn thông báo tiếp nhận hoặc không tiếp nhận là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ. Đối với hồ sơ hoàn trước, thời hạn giải quyết chậm nhất là 06 ngày làm việc kể từ ngày thông báo tiếp nhận. Còn đối với hồ sơ kiểm tra trước, thời hạn chậm nhất 10 ngày làm việc được tính từ ngày ban hành kết luận hoặc quyết định xử lý vi phạm sau kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế, không phải từ ngày doanh nghiệp nộp hồ sơ.[6]

Giai đoạn kiểm tra cũng chịu sự điều chỉnh về thời gian. Điểm a khoản 7 Điều 88 Thông tư số 89/2026/TT-BTC quy định thời hạn ban hành quyết định kiểm tra đối với hồ sơ kiểm tra trước là chậm nhất 10 ngày làm việc kể từ thông báo tiếp nhận. Việc công bố, tiến hành, gia hạn, tạm dừng và kết thúc kiểm tra phải theo các quy định tương ứng.[7]

Do mốc thời gian bắt đầu là khác nhau, không thể so sánh trực tiếp thời hạn 10 ngày làm việc nêu trên với thời hạn 40 ngày của hồ sơ kiểm tra trước theo Điều 75 Luật Quản lý thuế năm 2019 để kết luận rằng toàn bộ quá trình đã rút ngắn tương ứng.[8] Muốn đánh giá đúng, phải xem thời gian từ lúc nhận hồ sơ đến khi có kết quả và thực hiện chi trả, đồng thời xác định rõ khoảng thời gian nào được loại trừ theo quy định của pháp luật.

Đối với hồ sơ chuyển tiếp, cần đối chiếu kỳ thuế, ngày tiếp nhận, quyết định kiểm tra và các văn bản đã ban hành với Điều 53 Luật Quản lý thuế năm 2025 và Điều 100 Thông tư số 89/2026/TT-BTC; không thể chỉ dựa vào ngày nộp hồ sơ để mặc nhiên áp dụng toàn bộ pháp luật cũ hoặc mới.

3. Những vướng mắc cần nhận diện trong thực tiễn

3.1. Chưa tách rõ nguyên nhân của từng khoản chờ hoàn thuế

Trong quá trình sửa đổi Luật Thuế GTGT cuối năm 2025, những khó khăn về điều kiện hoàn thuế và việc doanh nghiệp phải ứng tiền thuế đầu vào đã được nêu trong tài liệu chính sách công khai.[9] Việc điều kiện về nghĩa vụ thuế của người bán sau đó được bãi bỏ cho thấy bất cập không chỉ nằm ở thao tác xử lý hồ sơ mà còn có thể bắt nguồn từ chính quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, cần thận trọng khi mô tả thực trạng. Số thuế đầu vào doanh nghiệp đã trả không đồng nghĩa với số thuế đủ điều kiện hoàn; số tiền đang đề nghị hoàn cũng không đồng nghĩa với số tiền bị giải quyết quá hạn. Một đánh giá có căn cứ cần phải tách rõ: khoản chưa đủ điều kiện, khoản đang kiểm tra đúng quy định và khoản bị chậm giải quyết không có lý do chính đáng.

Luật quản lý thuế mới có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Vì thế, chưa đủ cơ sở để quy mọi tồn đọng trước đó cho cơ chế mới. Điều chúng ta cần làm là rà soát hồ sơ theo từng nguyên nhân, nhất là các hồ sơ còn bị vướng bởi một điều kiện đã được bãi bỏ hoặc chưa được xem xét tách phần đã đủ điều kiện.

3.2. Xác minh nhà cung cấp có thể làm kéo dài toàn bộ hồ sơ

Có thể xem xét một tình huống khái quát: doanh nghiệp mua hàng hóa thành phẩm có giá trị lớn từ nhiều nhà cung cấp trong nước, thanh toán qua ngân hàng, sau đó xuất khẩu. Khi giải quyết hoàn thuế, một nhà cung cấp hoặc một chủ thể ở khâu trước có sai lệch kê khai, thay đổi tình trạng hoạt động hoặc cần xác minh thêm. Câu hỏi đặt ra là thông tin đó ảnh hưởng đến những hóa đơn đầu vào nào và liên quan đến bao nhiêu tiền thuế của doanh nghiệp xuất khẩu.

Nếu chưa xác định được mối liên hệ mà đã để toàn bộ hồ sơ chờ kết quả, thì phần giao dịch không liên quan cũng có thể chịu chung tình trạng bị kéo dài theo. Ngược lại, nếu bỏ qua dấu hiệu hàng hóa không có thực, dòng tiền quay vòng hoặc có sự thông đồng thì ngân sách có nguy cơ bị chiếm đoạt. Do vậy, cách xử lý phù hợp là nên làm rõ mối liên hệ giữa dấu hiệu rủi ro với giao dịch cụ thể.

Đặc biệt, tình trạng của nhà cung cấp tại thời điểm kiểm tra cần được xem xét cùng tình trạng tại thời điểm mua bán. Việc nhà cung cấp ngừng hoạt động về sau là thông tin cần kiểm tra, nhưng tự nó chưa trả lời được hàng hóa trước đó có thực hay không, chứng từ có hợp pháp hay không. Một dấu hiệu nghi ngờ là lý do để xác minh, chưa phải kết luận cuối cùng để bác bỏ quyền hoàn thuế.

3.3. Thông tin chung chung khiến doanh nghiệp khó thực hiện quyền của mình

Khi được thông báo rõ chứng từ còn thiếu, nội dung chưa thống nhất và thời hạn trả lời, doanh nghiệp có thể bổ sung, giải trình hoặc trình bày ý kiến khác. Nhưng nếu chỉ nhận được câu trả lời miệng rằng hồ sơ đang “chờ xác minh”, doanh nghiệp khó biết mình cần làm gì và cơ quan nào đang chịu trách nhiệm giải quyết.

Thông tư số 89/2026/TT-BTC đã quy định thông báo giải trình, bổ sung và các hình thức thông báo kết quả xử lý. Luật Quản lý thuế cũng ghi nhận quyền được biết thời hạn giải quyết, số tiền không được hoàn và căn cứ pháp lý tương ứng. Vì vậy, giải pháp không chỉ là yêu cầu có văn bản, mà nội dung văn bản phải đủ cụ thể để người nộp thuế hiểu vướng mắc. Một thông báo bằng văn bản dù chỉ lặp lại lý do chung chung vẫn chưa giúp kiểm tra tính cần thiết của việc chờ đợi.

Việc trao đổi trực tiếp giữa công chức thuế và đại diện doanh nghiệp có thể hỗ trợ giải quyết công việc, nhưng không thể thay thế những thông báo, quyết định phải ban hành theo pháp luật. Đây cũng là yêu cầu bảo vệ công chức thuế vì hồ sơ thể hiện rõ nội dung xác minh, yêu cầu đã gửi và kết quả nhận được sẽ là căn cứ đánh giá trách nhiệm khách quan hơn lời giải thích sau này.

4. Ảnh hưởng đến vốn doanh nghiệp và hoạt động xuất khẩu

4.1. Chậm hoàn thuế làm tăng chi phí vốn và rủi ro thanh toán

Khoản thuế đang chờ hoàn không thể dùng ngay để trả tiền hàng, tiền lương hoặc nợ đến hạn. Doanh nghiệp có thể vẫn ghi nhận lợi nhuận nhưng thiếu tiền thanh toán. Để duy trì hoạt động, họ phải sử dụng thêm vốn tự có, vay ngân hàng, thậm chí huy động vốn phi chính thức, chậm thanh toán cho nhà cung cấp hoặc giảm mua hàng. Khả năng lựa chọn phương thức nào còn phụ thuộc vào hạn mức tín dụng, tài sản bảo đảm và sức chịu đựng tài chính của từng doanh nghiệp.

Ví dụ giả định: doanh nghiệp vay bổ sung 10 tỷ đồng để bù phần vốn tương ứng khoản thuế chờ hoàn, với lãi suất 9%/năm. Nếu phải duy trì khoản vay trong 180 ngày, tiền lãi đơn khoảng 443,8 triệu đồng; nếu trong 60 ngày, cũng khoảng 147,9 triệu đồng. Chênh lệch 120 ngày làm tăng chi phí gần 295,9 triệu đồng. Cách tính là dùng số tiền vay nhân lãi suất năm, nhân số ngày vay và chia cho 365 ngày. Ví dụ này chỉ minh họa chi phí vốn, chứ không xác định 60 hay 180 ngày là thời hạn được pháp luật cho phép.

Ngay cả khi được hoàn đủ sau đó, doanh nghiệp cũng vẫn đã chịu chi phí vay trong thời gian chờ. Với vốn tự có, tổn thất thể hiện ở việc không thể sử dụng số tiền ấy cho nhu cầu khác. Hoàn thuế vì vậy không tạo thêm lợi nhuận từ bản thân khoản được hoàn, mà giúp thu hồi vốn và giảm chi phí phát sinh.

Rủi ro sẽ lớn hơn nếu doanh nghiệp không dự kiến được thời điểm nhận tiền. Khoản vay có thể đến hạn trước khi tiền hoàn về tài khoản; nhà cung cấp có thể ngừng bán chịu; doanh nghiệp có thể phải thu hẹp đơn hàng hoặc chịu hậu quả do chậm thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, thiệt hại cụ thể còn phụ thuộc nguyên nhân chậm, khả năng thu xếp vốn và các cam kết thực tế, cần được chứng minh riêng.

4.2. Tác động có thể kéo dài sau khi tiền thuế đã được hoàn

Xuất khẩu đòi hỏi khả năng giao hàng ổn định. Khi thiếu vốn làm doanh nghiệp không nhận được đơn hàng mới hoặc không giao đúng tiến độ, đối tác có thể chuyển sang nhà cung cấp khác. Việc tìm lại khách hàng không đơn giản chỉ bằng nhận được khoản thuế hoàn muộn. Doanh nghiệp còn phải mất thời gian, chi phí để đàm phán và khôi phục sự tin cậy.

Chi phí vốn tăng cũng có thể làm giảm khả năng cạnh tranh về giá. Với đơn hàng có lợi nhuận thấp, một khoản lãi vay phát sinh đủ lớn có thể làm doanh nghiệp từ bỏ giao dịch. Doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp mới xuất khẩu thường chịu ảnh hưởng rõ hơn do ít nguồn vốn thay thế. Nếu tình trạng này kéo dài, việc tham gia và duy trì thị trường xuất khẩu có thể trở nên khó khăn hơn.

Ở phạm vi nền kinh tế, đơn hàng giảm có thể ảnh hưởng đến sản xuất trong nước, vận tải, việc làm và nguồn thu ngân sách trong tương lai. Đây là khả năng tác động cần được tính đến khi đánh giá chính sách, không phải căn cứ để khẳng định một mức giảm kim ngạch hay GDP cụ thể. Muốn lượng hóa, cần dữ liệu về số tiền, thời gian chờ, chi phí vay và thay đổi hoạt động của doanh nghiệp.

Từ góc độ ngân sách, nghiên cứu của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đã lưu ý rằng quản lý hoàn thuế không phù hợp có thể làm tích tụ nghĩa vụ tồn đọng và ảnh hưởng đến quản lý ngân quỹ; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phòng, chống gian lận.[10] Bảo đảm hoàn thuế hợp pháp và bảo vệ ngân sách vì thế cần được xem là hai nhiệm vụ gắn liền, không phải hai mục tiêu đối lập.

34-1789627382.jpg

Ảnh minh họa

5. Kinh nghiệm tham khảo từ Singapore và Trung Quốc

Singapore có cách công khai thời hạn hoàn và trường hợp trả lãi đáng tham khảo. Theo IRAS, đối với thuế hàng hóa và dịch vụ (GST) đầu vào vượt đầu ra, thời hạn thông thường là 01 tháng với kỳ kê khai tháng và 03 tháng với kỳ kê khai quý, tính từ ngày nhận tờ khai. Cơ chế trả lãi có ngoại lệ liên quan đến việc thiếu tờ khai, chưa cung cấp thông tin kiểm tra hoặc còn nợ thuế, tiền phạt. Khi có nghi ngờ hợp lý về gian lận, cơ quan thuế có thể thông báo giữ khoản hoàn; thời điểm trả lãi được xác định theo điều kiện riêng.[11]

Bài học không phải là mọi hồ sơ đều phải hoàn trong một tháng. Điều đáng chú ý là người nộp thuế được biết thời hạn, nghĩa vụ cung cấp thông tin và căn cứ chưa hoàn. Việt Nam có thể tham khảo cách công khai các nội dung này để doanh nghiệp chủ động kế hoạch vốn và để việc kiểm tra tiến độ có căn cứ rõ ràng.

Tại Trung Quốc, Điều 6 Quy chế quản lý hoàn, miễn thuế GTGT và thuế tiêu thụ đối với hoạt động xuất khẩu, ban hành kèm Thông báo số 5 năm 2026 của Tổng cục Thuế, yêu cầu thông báo một lần các nội dung cần bổ sung khi thông tin đăng ký hoặc tài liệu kèm theo chưa đáp ứng. Điều 52 quy định các trường hợp kiểm tra thực địa.[12] Hai quy định này cho thấy yêu cầu hướng dẫn rõ ngay từ đầu có thể đi cùng kiểm tra chặt chẽ khi phát sinh rủi ro.

Tuy nhiên, không nên đồng nhất chính sách hoàn thuế xuất khẩu của Trung Quốc với Việt Nam. Thông báo số 2 năm 2026 của Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế Trung Quốc điều chỉnh chính sách hoàn đối với một số sản phẩm quang điện, pin theo danh mục và thời điểm cụ thể.[13] Việc thay đổi mức, phạm vi được hoàn theo chính sách khác với việc chậm giải quyết một khoản đã đủ điều kiện.

Do đó, so sánh quốc tế nên tập trung vào cách tổ chức thủ tục như: hướng dẫn có đầy đủ không, việc xác minh có căn cứ không, trách nhiệm giải quyết có rõ không. Chứ không nên sao chép riêng một thời hạn hoặc một mức lãi khi điều kiện quản lý, dữ liệu và chính sách thuế giữa các nước còn khác nhau.

6. Giải pháp bảo đảm kiểm tra chặt chẽ và hoàn thuế kịp thời

6.1. Theo dõi đầy đủ thời gian giải quyết từng hồ sơ

Trước hết, cơ quan quản lý thuế cần theo dõi thống nhất các mốc thời gian: nhận hồ sơ, thông báo tiếp nhận, yêu cầu bổ sung, nhận giải trình, chuyển kiểm tra, kết luận, quyết định hoàn và chi trả. Thời gian không tính vào thời hạn giải quyết phải được ghi rõ căn cứ và ngày bắt đầu, kết thúc. Cần phân biệt thời gian doanh nghiệp bổ sung hồ sơ với thời gian các cơ quan phối hợp xác minh; không nên gộp tất cả thành một lý do chờ chung.

Trên cơ sở đó, người có thẩm quyền có thể nhận biết hồ sơ đang vướng ở đâu và đơn vị nào cần xử lý tiếp. Doanh nghiệp cũng cần tra cứu được tình trạng hồ sơ cùng thông tin phù hợp về tiến độ. Đây là giải pháp thực hiện các thời hạn đã có, không cần chờ một lần sửa luật mới.

Về lâu dài, chúng ta nên cân nhắc để đánh giá sự thống nhất giữa thời hạn giải quyết hoàn thuế với thời hạn kiểm tra, xác minh, tạm dừng và phối hợp giữa các cơ quan. Trên cơ sở đánh giá, có thể xem xét quy định rõ hơn thời gian giải quyết toàn bộ hồ sơ, các ngoại lệ và thẩm quyền cho phép kéo dài. Hết thời hạn không có nghĩa phải hoàn một khoản chưa đủ điều kiện, nhưng phải có xem xét, giải thích và trách nhiệm cụ thể, không nên để việc chờ đợi tự nó cứ tiếp tục mà không có lý do.

6.2. Giải quyết phần đủ điều kiện, xác minh đúng phần còn vướng mắc

Cần thực hiện đầy đủ quy định phân loại theo hồ sơ hoặc số tiền hoàn thuế. Với mỗi vấn đề cần xác minh, cần xác định giao dịch và khoản thuế bị ảnh hưởng. Nếu chưa thể tách phần đủ điều kiện, hồ sơ xử lý phải thể hiện rõ lý do. Khi kết quả xác minh đã làm rõ nghi vấn, cần cập nhật và tiếp tục giải quyết, không duy trì việc chờ chỉ vì hồ sơ từng bị đánh giá có rủi ro.

Doanh nghiệp phải có trách nhiệm tương ứng. Hóa đơn mua vào cần được đối chiếu với hợp đồng, thanh toán, giao nhận, chứng từ xuất khẩu và thu tiền. Việc sắp xếp theo từng giao dịch, nhà cung cấp và kỳ thuế giúp giải trình rõ hơn, đồng thời tạo căn cứ để xem xét riêng phần không có vướng mắc.

Cơ quan quản lý thuế cũng cần rà soát những hồ sơ còn bị yêu cầu đáp ứng điều kiện về kê khai, nộp thuế của người bán đã được bãi bỏ. Công tác kiểm tra để chống gian lận vẫn rất cần thiết, nhưng không được làm phát sinh trở lại một điều kiện mà pháp luật đã loại bỏ.

6.3. Thông báo rõ căn cứ và nâng cao chất lượng dữ liệu

Thông báo yêu cầu giải trình cần nêu vấn đề phải làm rõ, tài liệu cần cung cấp, căn cứ pháp lý và thời hạn trả lời. Nếu cần bổ sung lần tiếp theo, nên chỉ rõ nội dung trả lời trước chưa đáp ứng hoặc tình tiết mới phát sinh. Việc hướng dẫn đầy đủ từ đầu giúp giảm thời gian cho cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý thuế.

Yêu cầu minh bạch không đồng nghĩa phải công khai thông tin mật của chủ thể khác hay toàn bộ phương pháp phát hiện gian lận. Cần cung cấp đủ nội dung để doanh nghiệp có thể giải trình về giao dịch của mình, trong giới hạn pháp luật cho phép.

Đối với dữ liệu sai lệch, cần có đầu mối tiếp nhận, thời hạn kiểm tra và việc cập nhật kết quả giữa các đơn vị liên quan. Quyền yêu cầu tra soát, điều chỉnh thông tin theo điểm q khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế cần được thực hiện thuận tiện, thay vì để doanh nghiệp nhiều lần chứng minh cùng một vấn đề. Việc hoàn thuế tự động được Luật Quản lý thuế quy định tại khoản 4 Điều 18 chỉ phát huy hiệu quả khi dữ liệu đáng tin cậy và sai sót có thể được sửa kịp thời.

6.4. Xác định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp và người giải quyết

Doanh nghiệp nên lưu giữ đầy đủ hồ sơ và các thông báo, lập bảng theo dõi thời gian, trả lời đúng nội dung được yêu cầu. Nếu không đồng ý, cần nêu rõ căn cứ và gửi kiến nghị bằng văn bản. Quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định, hành vi hành chính được thực hiện theo quy định của pháp luật; việc lựa chọn thủ tục phải căn cứ tình trạng hồ sơ, thẩm quyền và thời hiệu, không chỉ chờ một văn bản từ chối hoàn thuế.

Đối với công chức thuế, cần đánh giá trách nhiệm dựa trên nhiệm vụ, chứng cứ và việc tuân thủ pháp luật tại thời điểm giải quyết. Việc sau đó phát hiện có sự gian lận không tự động chứng minh người đã giải quyết hoàn trước đó có lỗi. Ngược lại, hành vi bỏ qua dấu hiệu rõ ràng, thiếu trách nhiệm hoặc tiếp tay vi phạm phải được xử lý nghiêm. Tiêu chuẩn trách nhiệm rõ ràng sẽ vừa bảo vệ ngân sách, vừa hạn chế tâm lý kéo dài hồ sơ để tránh quyết định.

6.5. Đánh giá cả thời gian chờ và hậu quả tài chính

Hiệu quả quản lý không nên chỉ được phản ánh bằng số hồ sơ đã giải quyết. Cần thống kê thêm giá trị hồ sơ còn chờ, thời gian chờ theo từng nhóm nguyên nhân và thời gian thực tế đến khi chi trả. Một hồ sơ giá trị lớn kéo dài có thể ảnh hưởng đến vốn nhiều hơn nhiều hồ sơ nhỏ. Các chỉ tiêu phải phân biệt khoản chưa đủ điều kiện với khoản chậm xử lý, tránh tạo áp lực hoàn khi chưa có đủ căn cứ.

Về cơ chế bù đắp, khoản 3 Điều 75 Luật Quản lý thuế năm 2019 từng quy định trả lãi khi chậm ban hành quyết định hoàn do lỗi của cơ quan thuế.[14] Khi nghiên cứu hoàn thiện pháp luật hiện nay, cần rà soát nhất quán căn cứ, thời gian tính, nguồn chi và thủ tục yêu cầu; không dẫn quy định cũ như một quyền tự động áp dụng cho mọi hồ sơ sau khi luật mới đã có hiệu lực. Khoản trả do chậm hoàn theo quy định riêng cũng cần được phân biệt với yêu cầu bồi thường thiệt hại kinh doanh, vốn phải đáp ứng các điều kiện pháp lý và chứng minh riêng.

Cuối cùng, dự toán và quản lý ngân quỹ cần tính đến nghĩa vụ hoàn thuế hợp pháp. Việc phòng, chống thất thu phải dựa vào kiểm tra, xử lý vi phạm và thu hồi khoản hoàn sai, không nên làm phát sinh sức ép trì hoãn khoản hoàn đúng. Bảo đảm vốn cho hoạt động hợp pháp cũng là góp phần duy trì cơ sở tạo nguồn thu lâu dài.

7. Kết luận

Hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa xuất khẩu cần được xem xét đồng thời từ pháp luật thuế, trách nhiệm hành chính và hoạt động kinh doanh. Kiểm tra đúng đối tượng, đúng nội dung giúp bảo vệ ngân sách. Giải quyết đúng căn cứ, đúng thời hạn giúp bảo vệ vốn và khả năng thực hiện đơn hàng của doanh nghiệp. Hai yêu cầu này không đối lập mà bổ sung, hỗ trợ cho nhau.

Những sửa đổi, bổ sung pháp luật về thuế giai đoạn 2025–2026 đã tháo gỡ một số điều kiện và tạo cơ sở xử lý linh hoạt hơn theo mức độ rủi ro. Nhiệm vụ trước mắt là thực hiện đầy đủ các quy định đó, nhất là đối với hồ sơ còn vướng mắc và phần tiền có thể giải quyết riêng. Việc tiếp tục sửa đổi, bổ sung luật cần tập trung vào những nội dung chưa rõ về thời gian, phối hợp và trách nhiệm, trên cơ sở tổng kết thực tiễn thi hành.

Trong Nhà nước pháp quyền, quyền hoàn thuế không thể chỉ được ghi nhận trong văn bản mà phải được bảo đảm bằng việc giải quyết cụ thể. Doanh nghiệp có nghĩa vụ chứng minh điều kiện được hoàn; cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm xem xét và trả lời trên cơ sở pháp luật. Khi đã đủ điều kiện, việc hoàn thuế phải được thực hiện kịp thời. Đó là yêu cầu của kỷ cương tài chính, đồng thời là điều kiện để doanh nghiệp yên tâm duy trì xuất khẩu và đầu tư lâu dài, góp phần vào sự tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.

-------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế Trung Quốc. “Thông báo số 2 năm 2026 về điều chỉnh chính sách hoàn thuế xuất khẩu đối với sản phẩm quang điện và một số sản phẩm khác.” 08/01/2026. https://fgk.chinatax.gov.cn/zcfgk/c102416/c5246745/content.html.

2. Chính phủ. Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế. 2026. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=218690&pageid=27160.

3. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. “Đề xuất bỏ quy định về điều kiện hoàn thuế giá trị gia tăng.” 08/12/2025. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/de-xuat-bo-quy-dinh-ve-dieu-kien-hoan-thue-gia-tri-gia-tang-119251205133211734.htm.

4. Inland Revenue Authority of Singapore. “Tax Refunds.” Cập nhật ngày 03/8/2026. https://www.iras.gov.sg/quick-links/refunds.

5. OECD. International VAT/GST Guidelines. OECD Publishing, 2017. https://doi.org/10.1787/9789264271401-en.

6. Pessoa, M., A. Okello, A. Swistak, M. Muyangwa, V. Alonso-Albarran, and V. de P. Koukpaizan. How to Manage Value-Added Tax Refunds. IMF How-To Note No. 2021/004. International Monetary Fund, 2021. https://doi.org/10.5089/9781513577043.061.


[1] OECD, International VAT/GST Guidelines (OECD Publishing, 2017), https://doi.org/10.1787/9789264271401-en.

[2] Văn phòng Quốc hội, Văn bản hợp nhất số 114/VBHN-VPQH ngày 20/5/2026 hợp nhất Luật Thuế giá trị gia tăng (2026), Điều 9, Điều 14 và Điều 15, https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/van-ban-hop-nhat-so-114-vbhn-vpqh-469597.htm.

[3] Quốc hội, Luật số 149/2025/QH15 ngày 11/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (2025).

[4] Chính phủ, Nghị định số 359/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP (2025), khoản 2 Điều 2

[5] Quốc hội, Luật Quản lý thuế số 108/2025/QH15 ngày 10/12/2025 (2025), khoản 3 Điều 18; Chính phủ, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 (2026), Điều 30; Bộ Tài chính, Thông tư số 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 (2026), Điều 48 và Điều 49.

[6] Chính phủ, Nghị định số 252/2026/NĐ-CP ngày 30/6/2026 (2026), Điều 31.

[7] Bộ Tài chính, Thông tư số 89/2026/TT-BTC ngày 30/6/2026 (2026), điểm a khoản 7 Điều 88.

[8] Quốc hội, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 (2019), Điều 75.

[9] Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, “Đề xuất bỏ quy định về điều kiện hoàn thuế giá trị gia tăng,” 08/12/2025, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/de-xuat-bo-quy-dinh-ve-dieu-kien-hoan-thue-gia-tri-gia-tang-119251205133211734.htm.

[10] M. Pessoa, A. Okello, A. Swistak, M. Muyangwa, V. Alonso-Albarran, and V. de P. Koukpaizan, How to Manage Value-Added Tax Refunds, IMF How-To Note No. 2021/004 (International Monetary Fund, 2021), https://doi.org/10.5089/9781513577043.061.

[11] Inland Revenue Authority of Singapore, “Tax Refunds,” cập nhật ngày 03/8/2026, https://www.iras.gov.sg/quick-links/refunds.

[12] Tổng cục Thuế Trung Quốc, “Thông báo số 5 năm 2026 ban hành Quy chế quản lý hoàn, miễn thuế GTGT và thuế tiêu thụ đối với hoạt động xuất khẩu,” 30/01/2026, Điều 6 và Điều 52.

[13] Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế Trung Quốc, “Thông báo số 2 năm 2026 về điều chỉnh chính sách hoàn thuế xuất khẩu đối với sản phẩm quang điện và một số sản phẩm khác,” 08/01/2026.

[14] Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14, 2019, khoản 3 Điều 75.

Luật sư Phan Khắc Nghiêm (Công ty Luật TNHH NPK Quốc tế; Email: nghiempk@gmail.com)

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin