Chế độ hưu trí và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, quyền lợi thiết thực đối với NLĐ khi tham gia BHXH

(Pháp lý) - Chế độ hưu trí là quyền lợi quan trọng khi NLĐ tham gia BHXH đủ thời gian được hưởng, đặc biệt là về tuổi nghỉ hưu mới sau 60 tuổi được tính như thế nào? Và khoản trợ cấp một lần khi nghỉ hưu được tính ra sao luôn được nhiều bạn đọc quan tâm... để chia sẻ tới bạn đọc, các Luật gia sẽ tư vấn, hỗ trợ pháp lý và thông tin về chính sách BHXH mới nhất đã có hiệu lực pháp luật .
2-1639626364.jpg

Từ 1/1/2022 lao động nam nghỉ hưu khi đủ 60 tuổi 06 tháng, lao động nữ nghỉ hưu khi đủ 58 tuổi 08 tháng

Người lao động hỏi: Tôi tham gia BHXH đã hơn 35 năm và chuẩn bị làm thụ tục nghỉ hưởng chế độ hưu trí. Tôi muốn hỏi về tỷ lệ mức hưởng lương hưu và khoản trợ cấp một lần khi  nghỉ hưu được tính như thế nào? Phạm Hải Thanh(Hà Nội)

Luật gia giải đáp:

Chế độ hưu trí là chế độ bảo hiểm xã hội đảm bảo thu nhập cho người lao động đã hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật. Khi người lao động đã hết tuổi làm việc theo quy định của pháp luật sẽ được chi trả lương hưu nhằm đảm bảo họ có chi phí chi trả cho những nhu cầu sống cơ bản và chăm sóc sức khỏe. Đây là một trong những chế độ người lao động được hưởng khi tham gia bảo hiểm xã hội.

Ngoài lương hưu thì người lao động còn được nhận trợ cấp một lần. Có thể hiểu trợ cấp một lần khi nghỉ hưu là một khoản trợ cấp mà người lao động được hưởng duy nhất khi nghỉ hưu. Khoản trợ cấp này người lao động sẽ được nhận khi đáp ứng đủ số tuổi theo quy định của Điều 169 Bộ luật lao động năm 2019 và đủ các điều kiện hưởng lương hưu theo Điều 54 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014.

Điều kiện hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

Theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về điều kiện được hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu như sau:

“ Điều 58. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

1. Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.”

Theo đó, các điều kiện để người lao động được hưởng trợ cấp một lần khi nghỉ hưu bao người lao động phải có số năm đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng 75%. Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng đối tượng cụ thể mà số năm đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% là khác nhau.

Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần. Căn cứ theo quy định tại điều 75 Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định như sau:

“ Điều 75. Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu

1. Người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.

2. Mức trợ cấp một lần được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75%, cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân thu nhập tháng đóng bảo hiểm xã hội”.

Ngoài ra thời gian có tháng lẻ từ 1 đến 06 tháng được tính là nửa năm, từ 07 đến 11 tháng được tính là một năm.
Bên cạnh đó về cách tính lương hưu, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ căn cứ diễn biến thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội, tiền lương thực tế được ghi nhận tại sổ bảo hiểm xã hội để xem xét, giải quyết theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thực hiện.

Người lao động hỏi: Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường đã được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035. Vậy việckhi người lao động trên 60 tuổi có được đóng bảo hiểm xã hội không?  Nguyễn Thị San (Thái Nguyên)

Luật gia giải đáp:

Khoản 2 Điều 169 Bộ luật lao động 2019 quy định về độ tuổi nghỉ hưu như sau:

“ Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ”.

Khoản 4 Điều 169 Bộ luật lao động 2019 quy định như sau:

“ Người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Theo khoản 1 Điều 148 Bộ luật lao động thì Người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật này.

Do đó, người lao động khi đã đủ tuổi hưởng lương hưu vẫn có thể tiếp tục lao động tại các đơn vị sử dụng lao động.

Khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Khoản 9 Điều 123 Luật Bảo hiểm xã hội cũng quy định: Người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng mà đang giao kết hợp đồng lao động thì không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Do đó, người trên 60 tuổi, thậm chí là đã đủ tuổi hưởng hưu trí nhưng không thuộc trường hợp hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hàng tháng mà đang giao kết hợp đồng lao động thì vẫn tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bình thường.

Khoản 4 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định: “ Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này”. Như vậy, những người trên 60 tuổi và không thuộc đối tượng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội 2014 sẽ là đối tượng tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện.

BHXH bắt buộc được áp dụng đối với người lao động có quan hệ lao động (làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên); về cơ bản được thực hiện với 5 chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất; trách nhiệm đóng góp được quy định thuộc về cả người lao động và người sử dụng lao động.

Ngoài các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp mang tính chia sẻ giữa người khỏe mạnh với người bị ốm đau, tai nạn rủi ro; chế độ hưu trí trong chính sách BHXH đang được thiết kế rất có lợi cho người lao động với mức hưởng đang cao hơn nhiều so với mức đóng góp.Việc mức hưởng đang cao hơn gấp nhiều lần so với mức đóng, trong khi thời gian hưởng dài hơn so với thời gian đóng góp. Ngoài ra, người hưởng lương hưu còn được hưởng chính sách BHYT do Quỹ BHXH bảo đảm, khi qua đời thân nhân được hưởng chế độ mai táng và trợ cấp tuất. Như vậy, việc tham gia BHXH là hoàn toàn có lợi đối với người lao động.

Lợi ích của đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện

Chính sách BHXH tự nguyện được thực hiện đã đem lại lợi ích rất rõ, đó là cơ hội cho tất cả mọi người đều có thể tiếp cận được chính sách hưu trí – lương hưu khi về già. Đối với những người tham gia BHXH bắt buộc, khi đến tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ điều kiện về thời gian đóng góp thì thay vì chỉ được hưởng BHXH một lần như trước đây, có thể đóng tiếp BHXH tự nguyện và lựa chọn phương thức đóng một lần cho những năm còn thiếu để được hưởng ngay lương hưu.

Người tham gia BHXH tự nguyện có thể lựa chọn mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH phù hợp với điều kiện tài chính của mình. Người tham gia cũng có thể lựa chọn phương thức đóng rất linh hoạt: đóng hằng tháng, hằng quý, sáu tháng, hằng năm hoặc đóng một lần cho nhiều năm.

Ngoài các quyền lợi về lương hưu hằng tháng được xác định dựa trên mức đóng và thời gian tham gia của người lao động, mức lương hưu tiếp tục được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt, tăng trưởng kinh tế và khả năng cân đối của quỹ BHXH từng thời kỳ.

Từ ngày 01/01/2018, Nhà nước thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia BHXH tự nguyện theo tỷ lệ phần trăm (%) trên mức đóng BHXH hằng tháng theo mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn. Cụ thể, với ba mức hỗ trợ 30% đối với người tham gia BHXH tự nguyện thuộc hộ nghèo; 25% đối với hộ cận nghèo; và 10% đối với các đối tượng còn lại. Và căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế – xã hội và khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ sẽ xem xét điều chỉnh mức hỗ trợ tiền đóng cho người tham gia BHXH tự nguyện cho phù hợp.

Nhà nước bảo hộ quỹ BHXH và thực hiện các biện pháp để bảo toàn và tăng trưởng quỹ; bảo đảm mọi người tham gia đều được thụ hưởng đầy đủ các quyền lợi theo quy định của pháp luật.

Ban CS và PL
 

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin