Hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng trong thiết chế quyền lực nhà nước ở Việt Nam

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và nhận diện những điểm nghẽn trong xây dựng và vận hành cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng của thiết chế quyền lực nhà nước, cần tìm kiếm và đề xuất một số giải pháp phòng, chống tham nhũng từ sớm, từ xa, xử lý cả “ngọn” lẫn “gốc”, không có ngoại lệ, không có vùng cấm.

Kỳ 2: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian tới

Trên cơ sở đánh giá thực trạng và nhận diện những điểm nghẽn trong xây dựng và vận hành cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng của thiết chế quyền lực nhà nước, cần tìm kiếm và đề xuất một số giải pháp phòng, chống tham nhũng từ sớm, từ xa, xử lý cả “ngọn” lẫn “gốc”, không có ngoại lệ, không có vùng cấm.

Tham nhũng là một hiện tượng xuất hiện gắn liền với sự ra đời của nhà nước, nảy sinh khi những người được trao quyền tìm mọi cách lạm dụng quyền lực để biến nguồn lực, tài sản công thành tài sản riêng, làm giàu bất hợp pháp. Đây là một vấn nạn không chỉ làm tổn hại đến lợi ích chung của toàn xã hội, làm thất thoát tài sản công và làm suy giảm niềm tin của người dân vào chế độ chính trị, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia. Do đó, việc thiết lập các cơ chế phòng ngừa và ngăn chặn tham nhũng là nhiệm vụ tất yếu của mọi thể chế, ở mọi quốc gia.

1-1703565312.jpg

Lãnh đạo Ban Nội chính Trung ương thông báo kết quả Cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Những năm qua, với quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị, công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta theo đúng tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Bên cạnh những kết quả đạt được, thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng còn bộc lộ không ít khó khăn, hạn chế và điểm nghẽn. Mặc dù đã bị đẩy lùi một bước, song vấn nạn tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và tệ quan liêu vẫn đang hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn(1), tinh vi, phức tạp hơn, nếu không được ngăn chặn kịp thời, sẽ làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, về lâu dài có thể đe dọa đến sự tồn vong của chế độ và sự phát triển của đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức…; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong một số cơ quan, đơn vị khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội”(2).

Thực tế cho thấy, việc phát hiện, xử lý có hiệu quả các vụ, việc tham nhũng là công việc rất cần thiết, nhưng quan trọng hơn chính là việc hoàn thiện, tổ chức vận hành có hiệu quả các cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng để những người được giao quyền không thể tham nhũng, không dám tham nhũng và không cần tham nhũng. Từ góc độ thực thi quyền lực nhà nước, để làm được điều này, cần dựa trên những yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, thực tiễn công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta thời gian qua, đồng thời cần đáp ứng yêu cầu của các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng..., theo đó, tập trung thực hiện tốt một số giải pháp chính sau:

Một là, hoàn thiện chính sách, pháp luật để “không thể” và “không dám” tham nhũng.

Từ góc độ thực thi quyền lực nhà nước, để phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng, việc đẩy nhanh xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, khắc phục những sơ hở, bất cập trong các quy định về quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng là giải pháp căn bản, quan trọng hàng đầu trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến những lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, như quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản; cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; thu, chi ngân sách; đầu tư xây dựng; tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan; các chế độ, định mức, tiêu chuẩn... Xóa bỏ cơ chế xin - cho trong quản lý kinh tế - xã hội, hoàn thiện các quy định về quản lý tài sản công, đấu thầu các dự án, đấu giá tài sản công bảo đảm công khai, minh bạch, chặt chẽ và đồng bộ; khắc phục những hạn chế, lường trước và “bịt kín” các “lỗ hổng” có khả năng làm phát sinh tham nhũng, “tham nhũng vặt”, “sách nhiễu”, “vòi vĩnh” trong việc thực hiện thủ tục hành chính.

Hoàn thiện các quy định về kiểm soát quyền lực, trách nhiệm của người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động công vụ; về kiểm soát tài sản, thu nhập và xử lý tài sản không rõ nguồn gốc của cán bộ, công chức, viên chức; về cơ chế khuyến khích và bảo vệ cán bộ có dũng khí đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; về xác định giá trị thiệt hại, giá trị tài sản phải thu hồi, phải bồi thường trong các vụ án tham nhũng, kinh tế... Quy định các giao dịch có giá trị lớn của cán bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn phải được thực hiện thông qua ngân hàng để kiểm soát, ngăn ngừa giao dịch bất hợp pháp, rửa tiền, tham nhũng.

Tăng nặng các chế tài pháp lý, từ xử lý kỷ luật, xử lý hành chính cho đến xử lý hình sự, bảo đảm tính nghiêm khắc và khả năng răn đe mạnh mẽ hơn đối với các vi phạm liên quan đến tham nhũng. Đồng thời, có cơ chế giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm đủ mạnh để xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm, lợi dụng, lạm dụng quyền lực để tham nhũng.

Chú trọng kiểm soát chặt chẽ để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ” vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật, làm “méo mó”, giảm hiệu lực và hiệu quả của các cơ chế, chính sách, pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật; khắc phục tình trạng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước không thiếu, nhưng thực hiện không nghiêm, không hiệu quả.

Vừa qua, Bộ Chính trị ban hành 3 văn bản rất quan trọng về phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng là: Quy định số 114-QĐ/TW, Quy định số 131-QĐ/TW, Quy định số 132-QĐ/TW. Theo đó, việc thể chế hóa nội dung của các quy định này là rất quan trọng trong việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng.

Hai là, đẩy mạnh phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Để công tác phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng có hiệu quả và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng trong chính công tác cán bộ có ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt. Theo đó, cần chú trọng xây dựng, sửa đổi, hoàn thiện các quy định về công tác cán bộ, nhất là xây dựng chính sách tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc. Sửa đổi, bổ sung và thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ... theo hướng công khai, minh bạch hóa tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự; cung cấp thông tin và giải trình khi có yêu cầu. Xác minh, xử lý kịp thời, hiệu quả, hợp lý thông tin phản ánh từ các tổ chức, cá nhân và phương tiện thông tin đại chúng về phẩm chất đạo đức, năng lực và uy tín của cán bộ. Cụ thể hóa các nội dung và triển khai thực hiện nghiêm túc Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22/9/2021, của Bộ Chính trị, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung", Nghị định số 73/2023/NĐ-CP, ngày 29/9/2023, của Chính phủ, “Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”.

Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ theo hướng: Quy định chế tài xử lý thật nghiêm đối với các đối tượng có biểu hiện, hành vi chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển... Thể chế hóa và tổ chức thực hiện có hiệu quả Quy định số 114-QĐ/TW của Bộ Chính trị.

Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát công tác tổ chức và cán bộ, kiên quyết chống chạy chức, chạy quyền. Chú trọng kiểm tra, giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp và cán bộ được quy hoạch vào các vị trí lãnh đạo, quản lý; cán bộ, công chức, viên chức có biểu hiện tham nhũng, có nhiều đơn, thư phản ánh, tố cáo tham nhũng. Không để lọt những người không xứng đáng, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhưng cũng không để sót những cán bộ thực sự có đức, có tài. Kịp thời xử lý, điều chuyển, thay thế cán bộ lãnh đạo, quản lý khi có biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, uy tín thấp; xử lý nghiêm những cán bộ có sai phạm, kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu, cũng như những cán bộ nhũng nhiễu, vòi vĩnh, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Kiên quyết hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, có hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Thực hiện có hiệu quả chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện không phải là người địa phương.

Đấu tranh chống tham nhũng phải gắn liền với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với mục đích “trị bệnh cứu người”, cảnh tỉnh, răn đe. Do đó, phải quán triệt phương châm: Phòng ngừa chặt chẽ, ngăn chặn từ gốc, phát hiện sớm, xử lý từ đầu, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn.

Thể chế hóa, cụ thể hóa các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về mở rộng dân chủ, thực hiện có hiệu quả cơ chế dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát công tác cán bộ, trong xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ. Phát huy vai trò giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử; tăng cường cơ chế chất vấn, giải trình trong công tác cán bộ. Nghiên cứu mở rộng các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị một cách phù hợp. 

Tiếp tục hoàn thiện các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; kiểm soát xung đột lợi ích trong công tác cán bộ; xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm của cán bộ, công chức, viên chức khi không giải trình được một cách hợp lý nguồn gốc tài sản, thu nhập. Cùng với đó, cần sớm có đề án cụ thể và triển khai xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác nội chính - tư pháp có bản lĩnh vững vàng, liêm chính, trung thực, có kiến thức, kỹ năng chuyên sâu, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ba là, củng cố tổ chức bộ máy và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thiết chế thanh tra, kiểm toán.

Để phát huy có hiệu quả thiết chế thanh tra trong phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng ở Việt Nam, cần nghiên cứu sửa đổi Luật Thanh tra theo hướng làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của cơ quan thanh tra; tăng cường tính chủ động, độc lập và tự chịu trách nhiệm của các cơ quan thanh tra trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Đồng thời, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về phòng ngừa tham nhũng trong hoạt động thanh tra, như: Phòng ngừa các hành vi can thiệp trái pháp luật vào giai đoạn chuẩn bị thanh tra (sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra; cung cấp thông tin không đúng phạm vi nhiệm vụ được giao; loại bỏ một số đối tượng, nội dung cần thanh tra ra khỏi diện phải tiến hành thanh tra vì mục đích cá nhân); giai đoạn tiến hành thanh tra (thanh tra vượt quá phạm vi, nội dung của quyết định thanh tra; lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra để xử lý công việc cá nhân; kéo dài thời gian thanh tra; làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình thanh tra; bỏ qua sai phạm của đối tượng thanh tra); giai đoạn kết thúc thanh tra (báo cáo kết quả thanh tra thiếu khách quan, trung thực; tiết lộ nội dung báo cáo kết quả thanh tra khi chưa được người có thẩm quyền cho phép...).

Hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động thanh tra, nhất là đối với hoạt động thanh tra hành chính và việc công khai kết luận thanh tra, kết quả xử lý sau thanh tra. Sửa đổi quy định về quy tắc ứng xử, phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng trong ngành thanh tra nhằm kiểm soát chặt chẽ xung đột lợi ích trong hoạt động thanh tra. Xây dựng các tiêu chí, điều kiện, tiêu chuẩn và công cụ thanh tra; coi trọng công tác giám sát, kiểm tra nội bộ, không để xảy ra tình trạng dễ dãi, nể nang, né tránh khi xử lý các vấn đề vi phạm của nội bộ trong hoạt động thanh tra.

Tiếp tục đổi mới cơ chế giám sát hoạt động của đoàn thanh tra, bảo đảm hoạt động của đoàn thanh tra đúng pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi tiêu cực, sách nhiễu trong hoạt động thanh tra, tránh lạm quyền gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra. Hoàn thiện các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì hoạt động thanh tra hoặc quản lý trực tiếp công chức tham gia đoàn thanh tra trong từng khâu của quy trình, quy chế thanh tra (từ khi chuẩn bị cho đến khi kết thúc hoạt động thanh tra). Đặc biệt, cần chú trọng cụ thể hóa nội dung và thực hiện nghiêm các quy định mới của Đảng về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động thanh tra, kiểm toán và trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án (Quy định số 131-QĐ/TW và Quy định số 132-QĐ/TW của Bộ Chính trị).

Cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên cần chú trọng hơn đến việc xem xét, đánh giá những kết luận thanh tra của cơ quan thanh tra nhà nước cấp dưới để kịp thời phát hiện, tổ chức thanh tra lại nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật, không để bỏ lọt hành vi vi phạm hoặc kiến nghị xử lý không nghiêm, không tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm. Hoàn thiện các quy định, quy chế phối hợp giữa cơ quan thanh tra với các cơ quan kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử trong phát hiện, xử lý tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng.

Đối với thiết chế kiểm toán nhà nước, cần xác định hoạt động kiểm toán là khâu điều tra cơ bản, làm rõ giá trị thiệt hại về tài sản do hành vi tham nhũng gây ra; qua đó, cung cấp kịp thời, đầy đủ hồ sơ cho các cơ quan điều tra xem xét, xử lý khi nhận thấy đối tượng kiểm toán có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Theo đó, cần xây dựng, hoàn thiện các quy trình, nghiệp vụ kiểm toán chặt chẽ, nhất là quy trình kiểm toán điều tra, kiểm toán trách nhiệm kinh tế, hạn chế tối đa việc can thiệp vào kết quả kiểm toán của các cuộc kiểm toán nhằm phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng trong hoạt động này. Hoàn thiện pháp luật về kiểm toán theo hướng xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, quan hệ phối hợp của cơ quan kiểm toán với cơ quan điều tra, kiểm sát để phòng ngừa việc lạm dụng quyền lực, bỏ lọt tội phạm do không chuyển vụ việc có dấu hiệu tham nhũng hoặc không khởi tố các hành vi tham nhũng (nếu có).

Tiếp tục thực hiện nghiêm Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018; các quy trình, chuẩn mực, quy tắc đạo đức nghề nghiệp kiểm toán và các văn bản chỉ đạo của ngành để tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động kiểm toán. Thực hiện công khai rộng rãi kết quả kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.

Tăng cường thanh tra, kiểm soát việc thực hiện đạo đức nghề nghiệp và văn hóa ứng xử của kiểm toán viên nhà nước; chú trọng công tác kiểm tra đột xuất đối với kiểm toán viên khi thực hiện kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán. Có chế độ xử phạt nghiêm khắc đối với kiểm toán viên có hành vi tham nhũng, bảo đảm kiểm toán viên không dám tham nhũng. Kiên quyết xử lý những kiểm toán viên có vi phạm đạo đức nghề nghiệp, lạm dụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi khi thi hành công vụ bằng các hình thức, như: tước thẻ ngành, sa thải khỏi ngành, truy cứu trách nhiệm hình sự...

Bốn là, nâng cao hiệu quả giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử trong phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng.

Để phát huy hiệu lực, hiệu quả giám sát của các cơ quan dân cử trong phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng, trước hết, cần tăng cường tính đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả của các hình thức giám sát của Quốc hội, như giám sát chuyên đề, chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm... Đổi mới nội dung, phương thức tổ chức hoạt động giám sát để bảo đảm hoạt động giám sát có hiệu lực, hiệu quả và thực sự là một kênh quan trọng để Quốc hội đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, của chính sách, pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng. Việc giám sát công tác phòng, chống tham nhũng của Quốc hội cần được tiến hành theo kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm. Trong quá trình này, cùng với việc xem xét các báo cáo của các cơ quan nhà nước, cần chú ý tới các nguồn thông tin khác để phục vụ hoạt động giám sát, nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Quy định rõ hơn về trách nhiệm của đối tượng giám sát và các chế tài đối với việc thực hiện kết luận, kiến nghị giám sát. Trong hoạt động chất vấn, cần tiếp tục quan tâm hơn tới việc ban hành nghị quyết sau chất vấn, việc đánh giá báo cáo kết quả thực hiện các nghị quyết sau chất vấn tại kỳ họp Quốc hội...

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp theo hướng tăng cường giám sát giải quyết các vụ khiếu nại, tố cáo cụ thể về hoạt động tư pháp; giám sát việc chấp hành pháp luật của các chức danh tư pháp; giám sát công tác phòng, chống tham nhũng trong hoạt động tư pháp; giám sát các vụ án cụ thể, những vấn đề lớn, bức xúc trong đời sống kinh tế - xã hội có liên quan tới phòng, chống tham nhũng.

 Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách là thành viên các ủy ban của Quốc hội và tăng cường bộ máy giúp việc của Quốc hội. Bảo đảm về kinh phí, cơ sở vật chất cho cơ quan dân cử, đại biểu dân cử trong hoạt động giám sát. Có cơ chế huy động các nhà khoa học, các chuyên gia tham gia vào việc phản biện, tư vấn, đóng góp ý kiến cho hoạt động giám sát của Quốc hội cũng như của hội đồng nhân dân các cấp.

     (1) Xem: Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””  

    (2)  Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 92 - 93

TS Lê Khánh Ly - Đàm Văn Lợi 

(Tạp chí Cộng sản - Tổng Biên tập Tạp chí Nội chính, Ban Nội chính Trung ương)

Theo tapchicongsan.org.vn

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin