Khung pháp lý cho một số lĩnh vực đầu tư kinh doanh mới, tiềm năng: Từ thực tiễn của Việt Nam đến kinh nghiệm của một số quốc gia

04/05/2024 11:12

(Pháp lý) - Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động sâu sắc và làm thay đổi một cách căn bản những điều kiện cần thiết, khiến cho các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với hai thách thức lớn. Đó là, vừa phải thích ứng nhanh với sự thay đổi của các yếu tố ngoại cảnh, vừa phải chủ động ứng dụng mạnh mẽ, sâu rộng thành tựu khoa học công nghệ, khai thác giá trị sáng tạo trong hoạt động kinh doanh. Trong xu thế mới này, nhiều ngành nghề đầu tư kinh doanh đầy tiềm năng đã ra đời, song hành lang pháp lý trong nước chưa theo kịp, đòi hỏi phải được hoàn thiện, bổ sung.

1-1699257676.jpg

Phó Chủ tịch UBND TP. Hà Nội Nguyễn Mạnh Quyền chủ trì Toạ đàm về công nghiệp bán dẫn

Việt Nam cần khung pháp lý cho một số lĩnh vực đầu tư kinh doanh mới, tiềm năng

1. Khung pháp lý cho ngành công nghiệp hỗ trợ

Cùng với tiến trình hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, công nghiệp hỗ trợ (CNHT) ở Việt Nam đã có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng, cải thiện năng lực sản xuất và tham gia ngày càng sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu. Theo Cục Công nghiệp, Bộ Công thương, Việt Nam có khoảng 5.000 doanh nghiệp chế biến tham gia cung cấp linh kiện phụ tùng cho nhóm ngành hàng ô tô, cơ khí. Trong đó, 70% doanh nghiệp tham gia cung cấp cho các nhà sản xuất trong nước và 8% cung cấp cho nhà xuất khẩu và 17% là tham gia cung cấp cho cả hai. Như vậy, khoảng 30% doanh nghiệp CNHT đã tham gia chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu.

Mặc dù ngành CNHT đã có những bước tiến nhất định, song vẫn là ngành chậm phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất trong nước và các yêu cầu khắt khe của hội nhập quốc tế. Biểu hiện cụ thể là: (i) Tỷ lệ nội địa hóa của các sản phẩm CNHT trong nước vẫn còn thấp (chiếm từ 40-45%); (ii) Năng lực của doanh nghiệp CNHT của Việt Nam còn khá thấp, chưa có các doanh nghiệp đứng đầu chuỗi sản xuất tầm cỡ khu vực và quốc tế. Đáng chú ý, khoảng cách giữa yêu cầu của các tập đoàn đa quốc gia và năng lực đáp ứng của các doanh nghiệp sản xuất nội địa còn rất lớn (chỉ hơn 10% doanh nghiệp có sử dụng thiết bị tự động hóa và chưa đến 10% doanh nghiệp có sử dụng robot trong dây chuyền sản xuất); (iii) Thiếu liên kết giữa các doanh nghiệp CNHT, các doanh nghiệp trong nước chưa tham gia được sâu vào hệ sinh thái và chuỗi giá trị của các doanh nghiệp đầu chuỗi và doanh nghiệp nước ngoài…

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới sự hạn chế và bất cập trên, trong đó đến nay vẫn chưa có định hướng phát triển cụ thể với các ngành chế biến, chế tạo, ngành nào là mũi nhọn, kim chỉ nam để hướng nguồn lực nhà nước, tư nhân vào lĩnh vực đó. Vì vậy rất cần được hoàn thiện chính sách phát triển CNHT. Cụ thể, trước mắt, cần điều chỉnh, sửa đổi những quy định còn vướng mắc trong Nghị định số 111/2015/NĐ- CP, ngày 03/11/2015 của Chính phủ về phát triển CNHT liên quan đến phạm vi CNHT; làm rõ tiêu chí xác định đối tượng ưu đãi; rà soát, cập nhật và điều chỉnh danh mục các sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

2-1699257883.jpg

Ảnh minh họa

Đồng thời, nghiên cứu ban hành chính sách thúc đẩy một số ngành công nghiệp ưu tiên phát triển, như: cơ khí, ô-tô, dệt may, da - giày, điện tử; nghiên cứu chiến lược hỗ trợ xuất khẩu đối với các sản phẩm công nghiệp trọng điểm… nhằm tạo thị trường cho các ngành CNHT phát triển. Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, cần phải sớm xây dựng và ban hành Luật Công nghiệp hỗ trợ. Bởi chỉ có hành lang pháp lý cao nhất thì mới tạo lập công cụ phát triển ngành đồng bộ, để thu hút các doanh nghiệp đầu tư, phát triển sản xuất công nghiệp nói chung và CNHT nói riêng, thúc đẩy xây dựng nền công nghiệp tự chủ, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2. Khung pháp lý về tài sản số

Trong những năm gần đây, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế số đã thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Báo cáo Đổi mới sáng tạo và đầu tư công nghệ Việt Nam 2023 của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia Việt Nam (NIC) cho biết, năm 2022, bất chấp tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu bởi đại dịch Covid-19, vốn đầu tư mạo hiểm vào Việt Nam giảm tới 56% so với năm 2021, các lĩnh vực Fintech vẫn tiếp tục thu hút đầu tư với mức tăng mạnh mẽ 248%, chiếm 39% tổng giá trị đầu tư.

3-1699257687.jpg

Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia Việt Nam (NIC)

Thế nhưng, trước biến động gia tăng trong ngành công nghệ đang ảnh hưởng đáng kể đến tâm lý nhà đầu tư đối với các thị trường mới nổi, trong đó có Việt Nam. Hồi cuối tháng 6/2023, tại Hội thảo “Pháp luật về doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện”, Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ ra vướng mắc lớn nhất của các startup đổi mới sáng tạo. Đó là các Quỹ đầu tư mạo hiểm chưa mạnh dạn đầu tư, không dám giải ngân vào các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong nước vì sợ rủi ro do khung pháp lý chưa rõ ràng. Thực tế này cũng ảnh hưởng đến việc thu hút được vốn đầu tư nước ngoài. Trong khi đó nguồn vốn từ các Quỹ hỗ trợ, startup khó tiếp cận do không đáp ứng được điều kiện yêu cầu có tài sản đảm bảo; các Quỹ tư nhân thành lập gặp nhiều khó khăn ở khâu thủ tục thành lập và cấp phép hoạt động… Vậy nên, thời gian qua có không ít doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thành công của người Việt đã khởi nghiệp ở Singapore vì một số lý do, trong đó có khung pháp luật phù hợp hơn.

Vì vậy để phát triển môi trường startup tại Việt Nam, việc làm cần thiết và trước hết hiện nay là thúc đẩy xây dựng khung pháp lý cao nhất về tài sản số. Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo gắn liền với cái mới, sử dụng những giải pháp, mô hình chưa từng có. Do đó việc thiết kế khung pháp lý điều chỉnh cần phải hướng đến giảm thiểu các rủi ro pháp lý trong hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Trong đó đặc biệt chú ý đến các rủi ro pháp lý phát sinh từ 2 quan hệ phổ biến: (1) Đối với quan hệ hành chính, cần phải sửa đổi, bổ sung cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo và tố tụng hành chính theo hướng nhanh chóng, thuận tiện, minh bạch để doanh nghiệp có đủ niềm tin bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước các hành vi vi phạm (hành động hoặc không hành động) của công chức nhà nước; (2) Đối với quan hệ dân sự, cần có sửa đổi bổ sung cơ chế giải quyết tranh chấp linh hoạt, nhanh gọn, hiệu quả, tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên…

3. Ngành công nghiệp vi mạch, bán dẫn cần “cú hích” về cơ chế, chính sách

Tại Việt Nam ngành công nghiệp điện tử, vi mạch chiếm tỷ lệ 70% ngành công nghiệp hỗ trợ. Trong những năm gần đây đã phát triển thành ngành công nghiệp quan trọng của quốc gia, chiếm bằng 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh các công ty trong nước như Viettel và FPT, đã có hơn 30 công ty nước ngoài đầu tư tại Việt Nam đến từ Nhật, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan (thu hút gần 30 tỷ USD), cùng với đội ngũ nhân lực ước tính khoảng 5.000 kỹ sư thiết kế và đang có xu hướng tiếp tục tăng. Hiện Việt Nam đứng thứ 9 trên toàn cầu ở lĩnh vực xuất khẩu hàng điện tử. Đặc biệt, Việt Nam đã trở thành Top 10 thế giới về xuất khẩu computer và electronic, Top 2 mobile phones exports, Top 8 computer accessories, Top 11 computer device và Top 9 electronic circuit.

4-1699257687.jpg

Ảnh minh họa

Trong bối cảnh các nhà sản xuất chip trên thế giới đang có xu hướng dịch chuyển ra khỏi Đài Loan và Trung Quốc, Việt Nam trở thành “điểm sáng” thu hút sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư lớn; nhờ có hệ thống chính trị ổn định, cơ chế ưu đãi cao, vị trí địa lý thuận lợi, đặc biệt là cơ sở hạ tầng số ngày một phát triển (đã thành lập được Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia và 3 khu công nghệ cao tại TPHCM, Hòa Lạc và Đà Nẵng).

Mặc dù nắm giữ vai trò chủ chốt trong phát triển công nghiệp 4.0, nhưng ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn của Việt Nam nhìn chung vẫn còn non và chậm, hoạt động nghiên cứu chưa đồng bộ. Thách thức lớn nhất là nguồn nhân lực chỉ đáp ứng được dưới 20%. Các công ty thiết kế chip ở Việt Nam đóng vai trò như một chi nhánh cung cấp nguồn nhân lực cho bộ phận nghiên cứu phát triển của công ty mẹ có trụ sở ở nước ngoài. Do vậy Việt Nam chưa hình thành được đội ngũ có năng lực ở mức tổng công trình sư đủ khả năng làm chủ một sản phẩm hoàn chỉnh. Đóng gói và thử nghiệm chất bán dẫn, công đoạn mà Việt Nam tham gia nhiều nhất nhưng là công đoạn có tỷ suất lợi nhuận thấp nhất trong 4 công đoạn…

Từ thực trạng trên, muốn trở thành một trung tâm sản xuất vi mạch bán dẫn mới nổi hay nói cách khác trở thành ngành công nghiệp “tỷ USD”, Việt Nam cần có cách tiếp cận thống nhất mang tính quốc gia để giải quyết vấn đề chất bán dẫn. Trong đó ưu tiên hàng đầu là xây dựng nguồn nhân lực đang khát trầm trọng (từ nay đến năm 2030 cần có từ 50.000 – 100.000 người). Tuy nhiên cơ sở hạ tầng để đào tạo nguồn nhân lực ngành vi mạch và bán dẫn ở trường đại học đang thiếu hụt trầm trọng, cả về đội ngũ giảng dạy. Tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XV, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Kim Sơn nói “không thể tay không bắt chip”, nếu như không được đầu tư bài bản. Vì vậy rất cần có cơ chế và một khung pháp lý cao nhất được ban hành kịp thời. Mà trong đó những nội dung điều chỉnh cần ưu tiên hướng đến khai thông những trở ngại về đào tạo, đảm bảo bổ sung nguồn nhân lực cho ngành sản xuất vi mạch bán dẫn; đồng thời phải đủ tạo ra sự yên tâm về cạnh tranh bình đẳng và yên tâm đầu tư lâu dài đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

4. Khung pháp lý cho ngành năng lượng tái tạo

Xu thế phát triển hiện nay của các nền kinh tế trên thế giới là thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh, sạch, giảm phát thải nhằm hướng đến mục tiêu trung hòa các-bon. Năng lượng sạch đã giúp nhiều quốc gia khắc phục tình trạng thiếu điện, bảo đảm an ninh năng lượng, do đó, việc phát triển năng lượng sạch là một trong những ưu tiên hàng đầu trong mục tiêu cấp bách hành động chống biến đổi khí hậu của các nước.

Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 phê duyệt Quy hoạch điện VIII; trong đó phát triển mạnh các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất điện, đạt tỷ lệ khoảng 30,9-39,2% vào năm 2030, định hướng đến năm 2050 tỷ lệ năng lượng tái tạo lên đến 67,5-71,5%. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng, đây vẫn là câu chuyện dài khi nhiều rào cản còn ở phía trước.

5-1699257688.jpg

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển năng lượng tái tạo

Ông Nguyễn Anh Tuấn, đại diện Hiệp hội Năng lượng Việt Nam cho biết, có 3 thách thức lớn ảnh hưởng tới chuyển dịch năng lượng, gồm yếu tố giá bán điện trong tương lai có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu phụ tải, tiết kiệm điện, hệ số đàn hồi. Hiện Việt Nam chưa có những tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hệ thống điện mặt trời, điện gió. Đến thời điểm này vẫn chưa có các văn bản, quy định hướng dẫn cụ thể bước triển khai các dự án năng lượng tái tạo sau Quy hoạch Điện VIII được phê duyệt. Đặc điểm của đầu tư các dự án NLTT có nhu cầu về vốn lớn, rủi ro cao trong khi đó các cơ chế khuyến khích phát triển NLTT còn chưa thực sự rõ ràng, điều chỉnh trong ngắn hạn, nên các tổ chức tài chính, ngân hàng thương mại vẫn chưa sẵn sàng đồng hành. Tất cả những rào cản đó là lý do khiến cho sau thời điểm bùng nổ của điện mặt trời và điện gió, các dự án điện sạch gần như đã đình trệ…

Xây dựng hành lang pháp lý hoàn chỉnh, rõ ràng để kích hoạt phát triển năng lượng tái tạo, thúc đẩy sử dụng hiệu quả năng lượng, phát triển thị trường năng lượng mới và năng lượng tái tạo là mong mỏi của nhiều nhà đầu tư quan tâm. Các chính sách đưa ra phải đảm bảo các điều kiện tạo ra môi trường đầu tư ổn định và có thể dự đoán được, giúp vượt qua các rào cản và đảm bảo dự đoán được dòng doanh thu các dự án. Một mảnh ghép quan trọng còn thiếu của của ngành NLTT đó là cùng với sửa đổi, bổ sung Luật Điện lực, cần sớm nghiên cứu và ban hành Luật Năng lượng tái tạo chi tiết hóa, với vai trò chủ đạo cho việc chuyển dịch năng lượng của Việt Nam trong thời gian tới. Trong đó cần cụ thể hóa trong luật các cơ chế chính sách ưu đãi về giá, thuế suất, hỗ trợ nhà đầu tư trong việc vay vốn thực hiện các dự án NLTT…

Kinh nghiệm của một số quốc gia

Nhật Bản: Nhật Bản là một trong những cường quốc phát triển công nghiệp hỗ trợ hàng đầu thế giới. Để phát triển được ngành công nghệ hỗ trợ (CNHT) như bây giờ, Chính phủ Nhật Bản đã kiên trì thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nói kiên trì là bởi vì có những chính sách thành công, nhưng cũng có những chính sách thất bại. Khác với nhiều quốc gia, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra những định nghĩa rõ ràng về CNHT và chia thành 5 ngành, bao gồm: Cung cấp nguyên vật liệu; máy móc, khuôn mẫu; các công ty cung cấp linh kiện; công ty lắp ráp và các doanh nghiệp cung cấp phụ trợ. Đồng thời thành lập ra Trung tâm Công nghệ tại các địa phương. Các Trung tâm này thường đưa ra các chính sách phát triển CNHT cho từng địa phương và hỗ trợ các doanh nghiệp tại địa phương đó phát triển CNHT và được thực hiện rất nghiêm túc.

6-1699257687.jpg

Nhật Bản đã kiên trì thực hiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trung Quốc: Cũng như ở Việt Nam trong giai đoạn đầu CNHT cho ngành công nghiệp ô tô phát triển ở mức độ thấp, còn yếu kém cả về năng lực công nghệ, khả năng tài chính và nguồn nhân lực… Để tăng cường sức cạnh tranh cho ngành công nghiệp ô tô trong nước, Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi và ưu tiên thu hút FDI vào các lĩnh vực CNHT cho ngành công nghiệp ô tô. Đầu tiên là thiết lập các chính sách khuyến khích quá trình học hỏi công nghệ và chuyển từ liên kết ngang (theo chiều rộng) sang liên kết dọc (theo chiều sâu) trong chuỗi giá trị ngành công nghiệp ô tô nội địa. Ban hành chính sách ưu đãi về thuế, hỗ trợ tín dụng đối với các DN sản xuất và cung cấp linh kiện phục vụ ngành công nghiệp ô tô nội địa tại Trung Quốc; vừa có chính sách hạn chế nhập khẩu linh kiện ô tô sản xuất ở nước ngoài. Vì vậy, Trung Quốc đã thu hút được nhiều tập đoàn sản xuất ô tô nước ngoài đầu tư sản xuất linh kiện trực tiếp vào thị trường nội địa…

Đặc biệt đối với ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn, Trung Quốc đã vươn lên trở thành một trong những thị trường bán dẫn lớn nhất thế giới với tổng doanh thu năm 2022 đạt 180,3 tỷ USD, chiếm 32,5% thị phần toàn cầu; dự kiến năm 2023, quy mô thị trường mạch tích hợp của Trung Quốc sẽ đạt 1.203 tỷ Nhân dân tệ. Cho đến nay Trung Quốc đã cơ bản xây dựng được một hệ sinh thái sản xuất chip bán dẫn tương đối hoàn thiện ở trong nước. Để có được bước phát triển thần kỳ đó, Trung Quốc xác định “mạch bán dẫn tích hợp”, “nguyên liệu nền tảng” là một trong những lĩnh vực khoa học – công nghệ cốt lõi cần tập trung nguồn lực để làm chủ, đề ra một số giải pháp cụ thể để tạo đột phá về công nghệ. Theo đó, cùng với tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng trọng yếu; đẩy mạnh thu hút nhân tài xuất sắc trong và ngoài nước; Trung Quốc đẩy mạnh cải cách thể chế quản lý KHCN, trao quyền tự chủ lớn hơn về định hướng nghiên cứu và sử dụng kinh phí cho các nhà khoa học, ưu tiên ngân sách cho các lĩnh vực công nghệ then chốt, chiến lược; thực hiện nghiêm chế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, cải cách chế độ sở hữu và cơ chế phân bổ quyền lợi đối với quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền sở hữu tài sản và quyền thụ hưởng lợi ích từ đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp…

Mỹ: Bán dẫn là ngành xuất khẩu lớn thứ tư của Mỹ, đóng góp vào GDP hàng năm khoảng 277 tỷ USD. Mặc dù là quốc gia phát minh và đi đầu về công nghệ bán dẫn trong lịch sử và hiện vẫn dẫn đầu về quy mô thị trường (gần 50% thị trường toàn cầu) nhưng Mỹ đang đứng trước nguy cơ tụt hậu so với Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc do suốt thời gian dài để phát triển tự do. Trước thực trang đó, tháng 8/2022, Mỹ đã ban hành Đạo luật CHIPS và Khoa học hướng tới các mục tiêu khuyến khích xây dựng và tăng cường đầu tư vào các cơ sở sản xuất chip tại Mỹ, nâng cao năng lực tự cường của ngành bán dẫn trong nước… Để triển khai, Mỹ đã thành lập Hội đồng chỉ đạo thực hiện Đạo luật CHIPS gồm 50 thành viên; thành lập Quỹ CHIPS cho sáng tạo và an ninh công nghệ quốc tế (500 triệu USD) nhằm hỗ trợ các nước tham gia chuỗi cung ứng bán dẫn; áp đặt các biện pháp cấm xuất khẩu chip bán dẫn công nghệ cao đối với Trung Quốc.

Đài Loan: Chính phủ không ban hành chính sách ưu đãi phủ toàn bộ hệ sinh thái sản xuất chip bán dẫn mà tập trung hỗ trợ cho một vài doanh nghiệp có tiềm năng bằng nhiều chính sách đặc thù về vốn ưu đãi và đào tạo nhân lực; duy trì việc quản lý đầu tư ra nước ngoài và quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Đài Loan tại nước ngoài. Đặc biệt là ngành chíp bán dẫn được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) ưu đãi 10% trong suốt đời dự án.

Singapore: Là quốc gia được xếp hạng có hệ sinh thái khởi nghiệp số 1 ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vào năm 2022 và quốc gia sáng tạo nhất với các chỉ số thúc đẩy khởi nghiệp đứng đầu thế giới. Sự thành công của quốc gia này về KNĐMST chủ yếu là từ nền tảng giáo dục: (i) Các chương trình KNĐMST được tích hợp trong giáo trình trung học và tài liệu giảng dạy tại các trường học phổ thông (nhằm thúc thẩy tinh thần khởi nghiệp cho học sinh từ khi còn ngồi trong ghế nhà trường); (ii) Các trường đại học kết hợp mạnh mẽ với khu vực tư nhân, để thúc đẩy KNĐMST thông qua các cuộc thi kế hoạch kinh doanh; tổ chức cho sinh viên thực tập hoặc tham gia vào quá trình phát triển dự án khởi nghiệp; (iii) Chính phủ hỗ trợ phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp bằng Khung Quốc gia về Sáng tạo và Khởi nghiệp (NFIE), nhằm khuyến khích các trường đại học và trường đào tạo nghề kỹ thuật đưa nghiên cứu của họ trở thành các sản phẩm thương mại phục vụ thị trường, đồng thời hỗ trợ doanh nhân thành lập các công ty công nghệ…

7-1699257687.jpg

Singapore là quốc gia được xếp hạng có hệ sinh thái khởi nghiệp số 1 ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Đạo luật Thị trường Tài sản số (MiCA) quy định mới về tài sản số ở Hồng Kông; hay các quy định hỗ trợ doanh nghiệp của Singapore... đã và đang góp phần tạo ra hệ sinh thái startup ở nước sở tại là nguồn pháp lý quan trọng để các nhà lập pháp trong nước tham khảo và vận dụng phù hợp cho Việt Nam. Thực tế từ các quốc gia có hệ sinh thái startup phát triển, cho thấy không thể thiếu sự hỗ trợ của Nhà nước. Hay nói cách khác sự đầu tư của Nhà nước có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với mục tiêu hỗ trợ và khả năng cân đối nguồn lực sẽ là “liều thuốc bổ” kích hoạt, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo phát triển.

Kết mở

Những hoạt động đối ngoại tầm cao với các cường quốc trong thời gian qua của Đảng và Nhà nước không chỉ mở ra cơ hội cho Việt Nam trở thành trung tâm đối thoại hòa bình, mà quan trọng hơn đó là điểm đến của các dòng dịch chuyển về thương mại, đầu tư chất lượng cao. Với sự dịch chuyển ấy, không chỉ ngành công nghiệp hỗ trợ, bán dẫn mà các ngành thương mại, dịch vụ, an sinh, xã hội… đều được hưởng lợi.

Những hạn chế, bất cập, khuyết thiếu về cơ chế, chính sách, khung pháp lý đối với một số ngành nghề đầu tư kinh doanh mới, tiềm năng như đề cập trong bài viết rất cần được cơ quan chức năng quan tâm, bổ sung, hoàn thiện.

Một chuyên gia đã phát biểu rất tâm đắc, rằng để phát triển và phục hồi kinh tế đất nước, tiền bạc là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là thể chế. Thể chế tốt thì khai thông nguồn lực, giúp tiền đẻ ra tiền; thể chế tồi thì có tiền cũng không tiêu được. Trong bối cảnh hiện nay đòi hỏi cần đẩy mạnh cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính; có giải pháp bảo vệ cán bộ, doanh nhân dám nghĩ dám làm; góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển.

Vũ Lê Minh
Bạn đang đọc bài viết "Khung pháp lý cho một số lĩnh vực đầu tư kinh doanh mới, tiềm năng: Từ thực tiễn của Việt Nam đến kinh nghiệm của một số quốc gia" tại chuyên mục Kinh doanh - Quốc tế. Mọi chi tiết xin liên hệ số hotline (0915.999.467) hoặc gửi email về địa chỉ (toasoan@phaply.vn).

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin