Nhà nước với vấn đề bảo vệ quyền con người

(Pháp lý) - Quyền con người, quyền công dân đã và đang là một trong những vấn đề được cả nhân loại quan tâm và nghiên cứu. Ở Việt Nam, Hiến pháp 2013 ra đời đã khẳng định cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc Hiến pháp 2013 xác định các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của các thiết chế, đặc biệt là Nhà nước trong việc thiết lập, tổ chức thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Vai trò của Hiến pháp trên phương diện bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

 Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định chi tiết tại chương 2 Hiến pháp năm 2013
Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định chi tiết tại chương 2 Hiến pháp năm 2013)

Hiến pháp là văn bản pháp lý có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với đời sống xã hội; là văn bản giới hạn quyền lực nhà nước, thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân, Hiến pháp ra đời đã ghi nhận thành quả đấu tranh của Nhân dân nhằm thiết lập lên một chế độ mới. Trên phương diện bảo vệ quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp có những vai trò như: Hiến pháp là văn bản chứa đựng những giá trị xã hội cao quý nhất về dân chủ, nhân đạo, công bằng, văn minh, bình đẳng, bác ái của mỗi quốc gia; Với mục tiêu là bảo vệ con người, Hiến pháp có hai vấn đề cần phải quy định; đó là quy định về quyền con người, quyền công dân bao gồm những quy định bảo đảm các quyền đó không bị xâm hại và quy định về chế độ làm việc của Nhà nước. Việc quy định về thiết chế Nhà nước một cách chặt chẽ trong một bản văn có hiệu lực tối cao so với các văn bản khác là một trong những bảo đảm quan trọng nhất cho quyền con người, quyền công dân không bị vi phạm, trước hết là từ phía Nhà nước; Hiến pháp là văn bản duy nhất xác định đầy đủ nhất, sâu sắc nhất quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao chủ quyền Nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và đảm bảo tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội, đồng thời Hiến pháp làm rõ hơn và sâu sắc hơn bản chất tiên phong, bản chất Nhân dân của Đảng.

Mặc dù, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là mục tiêu thiết yếu của Hiến pháp, tuy nhiên, với vai trò là đạo luật cơ bản, Hiến pháp chỉ có thể quy định những vấn đề chung nhất, cơ bản nhất để bảo đảm quyền con người, quyền công dân luôn được thực hiện, còn việc quy định chi tiết, cụ thể sẽ được quy định tại các văn bản pháp luật khác.

Nhà nước với vấn đề bảo vệ quyền con người

Hiến pháp năm 2013 đã được Quốc Hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2014. Chế định quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được đưa lên vị trí trang trọng, chương 2 của Hiến pháp, thể hiện nhận thức mới, đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Hiến pháp 2013 đã bổ sung, điều chỉnh thêm rất nhiều nội dung quan trọng nhằm tăng cường hơn nữa vai trò của các chủ thể có liên quan đến việc thực thi quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam.

Học tập là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân  (ảnh minh họa)
Học tập là một trong những quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
(ảnh minh họa))

Hiến pháp năm 2013 khẳng định nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở nước ta: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (khoản 3 Điều 2). Hiến định việc kiểm soát quyền lực, kiểm soát giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp chính là tạo ra cơ chế ngăn ngừa chuyên quyền, lộng quyền, lạm quyền, quan liêu, tham nhũng trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước. Quyền con người, quyền công dân chỉ được bảo đảm, bảo vệ hiệu quả khi ngăn ngừa, kiểm soát được chuyên quyền, lộng quyền, quan liêu, tham nhũng.

Điều 3 Chương I quy định về Chế độ Chính trị đã ghi nhận quan điểm, chính sách của Nhà nước Việt Nam là “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân”. Từ đây, đặt ra nghĩa vụ của tất cả mọi chủ thể ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặc biệt là các cơ quan Nhà nước, công chức, viên chức Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội phải công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Ngoài ra, quy định mới này còn phản ánh sự thay đổi tư duy, trước đây quyền con người, quyền công dân được coi là những thứ Nhà nước “ban phát” cho người dân, sang nhận thức chung của cộng đồng quốc tế trong đó xem quyền con người, quyền công dân là những giá trị tự nhiên, vốn có của con người mà Nhà nước có nghĩa vụ ghi nhận và bảo đảm.

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến pháp Việt Nam quy định về nguyên tắc giới hạn quyền tại khoản 2 Điều 14 “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Quy định trên cho thấy rõ quyết tâm của Nhà nước không chỉ trong việc thừa nhận, mà còn bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân trong thực tế.

Có thể nói, Hiến pháp năm 2013 đã có một sự đổi mới sâu sắc về nhận thức, đặc biệt là nhận thức về nhân quyền. Thông qua Hiến pháp, các cơ quan Nhà nước thực hiện trách nhiệm bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội, chịu trách nhiệm pháp lý về những vi phạm của mình trong quan hệ với Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân.

1. Cơ quan quyền lực Nhà nước

Cơ quan quyền lực Nhà nước bao gồm Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp. Chế định Quốc hội trong Hiến pháp 2013 đã kế thừa nhiều nội dung của Hiến pháp 1992, tuy nhiên có sửa đổi, bổ sung một số quy định nhằm làm rõ hơn vai trò của Quốc hội trong các vấn đề về quyền con người, quyền công dân.

Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ, quyền lực nhà nước bắt nguồn từ Nhân dân, nhưng Nhân dân không thực hiện quyền lực nhà nước trực tiếp mà quyền lực lại được ủy thác tập trung thống nhất ở Quốc hội. Kế thừa quy định của Điều 83 Hiến pháp 1992, Điều 69 của Hiến pháp 2013 khẳng định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”. Hiến pháp 2013 có sự phân biệt giữa quyền lập hiến và quyền lập pháp: “Thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp” mà không quy định như Hiến pháp 1992 là “cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”(lập hiến và lập pháp là một quyền theo Hiến pháp 1992). Nhân dân sử dụng quyền lập hiến để thiết lập quyền lực nhà nước, trong đó có quyền lập pháp. Bằng quyền lập hiến của mình, Nhân dân giao cho Quốc hội thực hiện một số quyền cụ thể như quyết định việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp; thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp; thảo luận và thông qua Hiến pháp (Điều 120). Vì chỉ có con đường luật hóa thì quyền con người, quyền công dân mới được bảo đảm và do vậy, hoạt động lập hiến và lập pháp là cơ sở ban đầu, tiền đề cho các hoạt động đảm bảo quyền con người, quyền công dân tiếp theo của các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước.

Bầu cử là quyền chính trị cơ bản, thiêng liêng nhất của công dân  (ảnh minh họa)
Bầu cử là quyền chính trị cơ bản, thiêng liêng nhất của công dân
(ảnh minh họa))

Nhìn dưới phương diện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, Quốc hội là yếu tố trung tâm của cơ chế bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Một mặt, mỗi công dân bằng việc bầu cử phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín bầu ra các đại biểu quốc hội, để thông qua đó, thực hiện quyền lực Nhà nước của mình (Điều 7). Mặt khác, Quốc hội là cơ quan có vị trí pháp lý cao nhất trong bộ máy Nhà nước bảo vệ, bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan đại diện cao nhất của công dân.

Trong hệ thống cơ quan quyền lực Nhà nước, Hội đồng Nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước tại địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân đại phương và cơ quan Nhà nước cấp trên.

2. Cơ quan hành chính Nhà nước

Cơ quan hành chính Nhà nước bao gồm Chính phủ và Ủy ban Nhân dân các cấp. Các nội dung quy định về chế định này đã có sự kế thừa những nội dung của các bản Hiến pháp trước, đồng thời cũng bổ sung thêm những nội dung mới sao cho phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi của thực tế.

Với quy định “Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp…” (Điều 94) cho thấy hoạt động của Chính phủ có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến việc đảm bảo, thúc đẩy và phát triển quyền tự do dân chủ của công dân. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến ở nước ta, Hiến pháp quy định trực tiếp nhiệm vụ của Chính phủ trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân – một nhiệm vụ hiến định: “Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội” (Khoản 6 Điều 96). Từ đây, xã hội, Nhân dân, có quyền đặt ra yêu cầu ngày càng cao hơn đối với Chính phủ trong việc thực hiện bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Về mối quan hệ phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa Chính phủ với Tòa án nhân dân, Hiến pháp năm 2013 không có quy định trực tiếp về cơ chế phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa Chính phủ với Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, vì là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất nên Chính phủ có trách nhiệm quản lý về tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước và chế độ công vụ, công chức. Đồng thời, phối hợp với Tòa án nhân dân trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước.

Ngoài ra, Hiến pháp 2013 còn quy định về Ủy ban Nhân dân các cấp tại Điều 114 với nhiệm vụ là tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng Nhân dân và thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan Nhà nước cấp trên giao.

3. Tòa án Nhân dân

Hiến pháp 2013 khẳng định Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện chức năng thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý. Quyền tư pháp là quyền xét xử, tức là quyền áp dụng pháp luật để ra phán quyết về các vi phạm pháp luật và các tranh chấp xảy ra trong xã hội. Vì vậy, xử lý các vi phạm pháp luật, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực nhà nước đều thuộc thẩm quyền của Tòa án. Điều đó thể hiện vị trí trung tâm của Tòa án trong hệ thống tư pháp, vị trí trọng tâm của hoạt động xét xử trong hoạt động tư pháp.

Nếu như Hiến pháp 1992 quy định chung về nhiệm vụ của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân thì trong Hiến pháp 2013 quy định riêng về nhiệm vụ của hai cơ quan này, trong đó nhấn mạnh việc bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân là những nhiệm vụ đầu tiên của Tòa án. Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý khi quyền, lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm hại; khi công dân yêu cầu Toà án giải quyết mọi tranh chấp thì Toà án có trách nhiệm thụ lý giải quyết mà không có quyền từ chối. Do vậy, nếu Tòa án không trở thành nơi thực hiện quyền tư pháp bảo vệ công lý, thì những quy định về nhân quyền của Hiến pháp có nguy cơ trở thành những tuyên bố chung chung hình thức, không có hiệu lực thực thi.

4. Viện kiểm sát Nhân dân

Cùng với việc tiếp tục khẳng định Viện kiểm sát nhân dân là hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy Nhà nước, có chức năng thực hiện quyền công tố, kiểm soát hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất, Hiến pháp 2013 còn quy định tại khoản 3 Điều 107 “Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân” và Điều 119 “Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp”. Các quy định mới này của Hiến pháp khẳng định Viện kiểm sát nhân dân là một thiết chế bảo vệ Hiến pháp, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ nền dân chủ, khẳng định nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp 2013 tiếp tục quy định Viện kiểm sát nhân dân có chức năng kiểm soát hoạt động tư pháp, theo đó trao cho Viện kiểm sát nhân dân quyền pháp lý quan trọng trong kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp, bảo đảm hoạt động của các cơ quan tư pháp được tiến hành nghiêm chỉnh, kịp thời theo quy định; góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh; bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ Nhân dân, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta.

Qua việc nghiên cứu chế định quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp 2013 đã thể hiện được sự phối hợp ngày càng nhịp nhàng giữa các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội và chính các cá nhân, công dân. Cùng với việc bổ sung, điều chỉnh thêm rất nhiều nội dung mới sao cho phù hợp với yêu cầu của thực tế thì Hiến pháp 2013 còn quy định chặt chẽ hơn, rõ ràng hơn trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước đối với các vấn đề nhân quyền. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam hiện nay.

ThS Nguyễn Thị Yến – Học viện Chính trị Quốc gia HCM

 

Bạn đọc đặt tạp chí Pháp lý dài hạn vui lòng để lại thông tin