Sửa đổi Luật Công đoàn: Cần cơ chế bảo đảm tốt hơn quyền lợi NLĐ và minh bạch, hiệu quả nguồn kinh phí công đoàn

255 Views

(Pháp Lý) – Thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam khi tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, trong đó có hiệp định EVFTA, một trong những yêu cầu đặt ra là các qui định của pháp luật về lao động, công đoàn phải bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất và đảm bảo tương thích với các qui định của Hiệp định.

Bộ Luật Lao động hiện đã được sửa đổi để phục vụ hội nhập, theo đó NLĐ sẽ chính thức được thành lập các tổ chức đại diện cho mình, thay vì chỉ được lựa chọn tham gia vào tổ chức Công đoàn như lâu nay. Đây được xem là quy định đột phá trong Bộ Luật Lao động sửa đổi năm 2019 và thực hiện đúng cam kết của Việt Nam trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đã ký kết .

Vấn đề đặt ra là cần thiết phải sửa đổi, bổ sung Luật Công đoàn nhằm bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích NLĐ và đảm bảo việc sử dụng hiệu quả, công khai, minh bạch nguồn kinh phí công đoàn đang có nhiều ý kiến phản biện hiện nay.

Kinh phí công đoàn phải được dùng để chăm lo đời sống cho người lao động

Hiệp hội Da giày – Túi xách Việt Nam (LEFASO) đóng góp ý kiến Dự thảo Luật Công đoàn sửa đổi

Vừa qua, trong kiến nghị gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cùng nhiều cơ quan, 8 Hiệp hội Doanh nghiệp gồm Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), Hiệp hội Chè Việt Nam (VITAS), Hiệp hội DN Hàn Quốc tại Việt Nam (KORCHAM), Hiệp hội DN Điện tử Việt Nam (VEIA), Hiệp hội Da giày – Túi xách Việt Nam (LEFASO), Hội Lương thực Thực phẩm TP.Hồ Chí Minh (FFA) và Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam (JCCI) đã đồng loạt ký tên vào công văn 06102020/HHDN gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Ủy ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội; Văn phòng Chính phủ, theo đó kiến nghị sửa đổi một số nội dung trong Dự thảo Luật công đoàn.

Đáng chú ý, các hiệp hội đều thống nhất kiến nghị về việc giảm kinh phí công đoàn hàng năm xuống còn tối đa 1% quỹ lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội, và dùng toàn bộ kinh phí công đoàn chăm lo tốt hơn nữa cho người lao động.

Theo ý kiến các Hiệp hội cho rằng: Hiện nay không có sự đồng nhất giữa Luật Ngân sách nhà nước và Luật Công đoàn về kinh phí hoạt động của Tổng Liên đoàn. Tổng Liên đoàn là tổ chức chính trị – xã hội, do vậy, kinh phí hoạt động của hệ thống công đoàn thuộc trách nhiệm của ngân sách nhà nước. Trong khi đó, Luật Công đoàn lại yêu cầu người sử dụng lao động đóng phí công đoàn. Ngay việc trích nộp “kinh phí công đoàn” đã cho thấy đây là trách nhiệm của Ngân sách nhà nước chứ không phải là trách nhiệm của người sử dụng lao động, các hiệp hội doanh nghiệp lập luận.

Vì vậy, quan điểm của các Hiệp hội cho rằng, việc DN đóng thuế, tức là đã gián tiếp đóng góp kinh phí công đoàn thông qua ngân sách nhà nước, nếu phải trích nộp thêm kinh phí công đoàn, nghĩa là DN phải đóng thêm 2% thuế trên quỹ lương làm căn cứ đóng BHXH của doanh nghiệp.

Về việc sử dụng toàn bộ kinh phí công đoàn để chăm lo tốt hơn nữa cho NLĐ, theo các hiệp hội, hiện tại, mức phân bổ kinh phí công đoàn đang được phân bổ là 69% tổng số thu kinh phí công đoàn do công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp sử dụng; 31% tổng số thu kinh phí công đoàn nộp công đoàn cấp trên.

Từ đó các hiệp hội kiến nghị “Luật công đoàn sửa đổi cần quy định mức nộp kinh phí công đoàn tối đa 1% trên quỹ tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội. Chính phủ có quyền quyết định tỉ lệ đóng này theo từng thời kỳ, tùy theo tình hình kinh tế xã hội. Điều này nhằm đảm bảo quy định có tính chất linh hoạt và phù hợp với tình hình biến động kinh tế, xã hội của Việt Nam, khu vực và thế giới qua từng thời kỳ. Cách thức quy định này đã từng được áp dụng trong một số luật, ví dụ quy định về tỉ lệ đóng bảo hiểm y tế theo quy định hiện hành”.

Theo Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước về việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công năm 2019 của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, đang tồn tại những vấn đề về, đó là nhu cầu chi ở cấp cơ sở cao, kinh phí chưa đủ đáp ứng, và không có thu khác từ tổ chức công đoàn tích lũy, trong khi các cơ quan công đoàn cấp trên, nhu cầu sử dụng thấp, dẫn đến thừa nguồn, tăng tích lũy cuối kỳ, do đó, công đoàn cấp dưới bị hạn chế các khoản chi chăm lo trực tiếp cho người lao động. Trong khi chi lương, phụ cấp và quản lý hành chính chiếm tới 20.200 tỷ đồng, gần 26,3% tổng chi công đoàn, đồng nghĩa với việc cứ chi cho NLĐ 1 đồng lại mất 0,5 đồng chi lương và hành chính. So sánh với cùng cơ quan quản lý hành chính thì định mức chi cho cán bộ công đoàn cao hơn rất nhiều so với định mức chi hành chính của biên chế nhà nước khác (chỉ từ 43,7 – 60,7 triệu đồng).

Vì vậy, các hiệp hội kiến nghị, kinh phí công đoàn phải được dùng để chăm lo đời sống cho người lao động, đầu tư vào các hoạt động cho người lao động; không được dùng kinh phí công đoàn làm kinh phí hoạt động của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, bởi việc đảm bảo kinh phí hoạt động này thuộc về ngân sách nhà nước, đã được quy định rõ trong Luật Ngân sách nhà nước. Khoản tiền này cũng không nên được tiếp tục gọi là kinh phí công đoàn vì nó sẽ tạo ra sự nhầm lẫn và mâu thuẫn về mục đích ý nghĩa của khoản thu như đã nêu trên.

Liên quan đến cơ chế tài chính công đoàn, đại diện Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cho biết, dự thảo Luật đã bổ sung khoản 5 Điều 26, quy định về miễn, giảm kinh phí công đoàn trong các trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh phải tạm dừng sản xuất, kinh doanh dẫn đến không có khả năng đóng kinh phí công đoàn. Tại khoản 2 Điều 27 quy định việc trích kinh phí công đoàn cho các cấp công đoàn và cho tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp sẽ do công đoàn cấp trên quản lý, sử dụng 25%; phân phối 75% cho công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp.

Ngoài ra nội dung chi từ nguồn kinh phí công đoàn (2%) cũng cần được tách bạch rõ. Theo đó, kinh phí công đoàn được sử dụng cho các nhiệm vụ: chăm lo cho đoàn viên và người lao động; tổ chức hoạt động xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động, hoạt động về giới và bình đẳng giới; tổ chức phong trào thi đua, hoạt động văn hóa, thể thao do công đoàn phát động; chi quản lý hành chính tại các cơ quan công đoàn; chi đầu tư các thiết chế phúc lợi cho đoàn viên và NLĐ. Dự thảo Luật cũng quy định, đoàn phí công đoàn và các khoản thu khác được chi theo Điều lệ Công đoàn Việt Nam; ngân sách nhà nước chi theo nội dung Nhà nước cấp hỗ trợ.

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công đoàn 2012 tập trung vào 3 nhóm nội dung chính: Hoàn thiện quy định về tổ chức bộ máy Công đoàn và cơ chế quản lý cán bộ công đoàn; Hoàn thiện cơ chế tài chính công đoàn trong bối cảnh mới; Hoàn thiện các quy định của pháp luật công đoàn để phù hợp với Hiến pháp và hệ thống pháp luật, nhất là Bộ luật Lao động 2019.

Tổ chức đại diện NLĐ và những yêu cầu đặt ra trong tình hình mới

Ngày 1/1/2021 Bộ Luật Lao động năm 2019 có hiệu lực, NLĐ sẽ chính thức được thành lập các tổ chức đại diện cho mình, thay vì chỉ được lựa chọn tham gia vào tổ chức Công đoàn như lâu nay. Đây được xem là quy định đột phá trong Bộ Luật Lao động và thực hiện đúng cam kết của Việt Nam trong các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới đã ký kết, gồm: FTA với Liên minh châu Âu (EVFTA) và CP-TPP.

Để thực hiện tốt các cam kết về lao động trong Hiệp định EVFTA, một yêu cầu cấp bách hiện nay là chúng ta cần sửa đổi, bổ sung, hệ thống hóa lại các quy phạm pháp luật, đặc biệt là các quy định của Luật Công đoàn…

EVFTA là một trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam ký kết có các cam kết về lao động. Cũng như các hiệp định thương mại tự do mà Liên minh châu Âu đã ký kết cùng các đối tác khác, các cam kết về lao động trong EVFTA là một trong những yêu cầu bắt buộc Việt nam phải tuân thủ thực hiện. Ngoài tiêu chuẩn lao động cốt lõi, điều khoản liên quan đến lao động của EVFTA còn đề cập tới cách thức thực hiện các cam kết và các tiêu chuẩn phải bổ sung cho phù hợp với các cam kết về lao động và công đoàn khi tham gia EVFTA.

Theo luật sư Trần Đại Thắng, Đoàn Luật sư Hà Nội, Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (FTAs) đều đề cập đến quyền tự do công đoàn như một quyền cơ bản của người lao động. Như vậy, khi thừa nhận điều này, pháp luật cần có các quy định rõ để đảm bảo cho các tổ chức đại diện người lao động khác ngoài Công đoàn Việt Nam hoạt động thực tế và có hiệu quả.

Điều 170 Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực từ 1/1/2021 quy định về quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở: Người lao động có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động công đoàn theo quy định của Luật Công đoàn; Người lao động trong doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và tham gia hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp theo quy định tại các điều 172, 173 và 174 của Bộ luật này; Các tổ chức đại diện người lao động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong việc đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động.

Luật sư Trần Đại Thắng cho rằng nội dung và phương thức hoạt động của tổ chức đại diện cho người lao động phù hợp và theo sát quyền và lợi ích chính đáng của người lao động. Vì vậy việc tiếp thu nguyện vọng của người lao động để hoạt động thương lượng tập thể được thực hiện một cách thực chất và có chất lượng cao nhất về quyền lợi cho NLĐ theo hướng phù hợp với tình hình mới. Công đoàn cấp trên phải tạo điều kiện cho công đoàn cấp cơ sở được chủ động trong việc thực hiện các nhiệm vụ và chức năng của mình. Do vậy, công đoàn cấp trên cần chuyển hướng từ việc chỉ đạo là chủ yếu sang hướng hỗ trợ, hợp tác, tạo điều kiện cho công đoàn cấp cơ sở hoạt động. Bên cạnh đó, Luật Công đoàn sửa đổi cũng cần ghi nhận việc các bên trong thương lượng tập thể đều có quyền ủy quyền cho người khác tham gia đàm phán để thương lượng tập thể đạt hiệu quả hơn.

Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động năm 2019 đã đưa đối tượng lao động phi chính thức vào phạm vi điều chỉnh nên cần thể hiện rõ quan điểm NLĐ sẽ được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp. Do đó Luật Công đoàn sửa đổi không chỉ đặt ra vấn đề tiếp cận tới đối tượng là đoàn viên công đoàn, mà cần mở rộng tới NLĐ trong mọi lĩnh vực thấy được lợi ích được chăm lo, bảo vệ khi tham gia tổ chức công đoàn.

Luật Công đoàn sửa đổi phải minh bạch, hiệu quả, thiết thực

Vừa qua, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã họp cho ý kiến về Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công đoàn. Trong đó, vấn đề cần công khai, minh bạch trong sử dụng 2% quỹ công đoàn đã được nhiều đại biểu quan tâm đề nghị làm rõ. Có ý kiến đề nghị điều chỉnh mức thu nộp kinh phí công đoàn một cách phù hợp, vẫn bảo đảm điều kiện hoạt động cho tổ chức công đoàn nhưng không tạo gánh nặng cho DN, NLĐ, có thể là quy định mức tối đa không quá 2% do quỹ công đoàn vừa qua còn kết dư khá cao.

Theo ông Bùi Sỹ Lợi, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, đây là “linh hồn trong sửa đổi luật lần này”. 2% không phải là riêng đoàn viên công đoàn đóng mà kể cả người lao động làm việc trong DN. Bản thân DN không có tổ chức công đoàn cũng phải đóng 2%. Vấn đề quan trọng là tổng quỹ công đoàn đó được chi như thế nào và cần công khai minh bạch để người lao động và chủ sử dụng lao động biết việc sử dụng của 2% quỹ đó.

“Tôi tham gia trong DN, và DN đóng 2% cho công đoàn. Nhưng tôi đã ra khỏi tổ chức DN này thì tiền này để lại để chi cho người khác vào khi có tổ chức công đoàn thành lập thì rất là phi lý. Chúng ta phải tính hệ quả pháp lý chỗ này khi nguyên tắc 2% là ai đóng thì người đó hưởng lợi, nó giống như quỹ Bảo hiểm xã hội vậy”- ông Lợi nêu vấn đề và cho rằng hiện nay có rất nhiều ý kiến khi kiểm toán đã chỉ ra còn kết dư 29 nghìn tỷ đồng chưa chi. 29 nghìn tỷ đồng này tồn tại từ công đoàn cơ sở đến công đoàn huyện, công đoàn tỉnh, công đoàn ngành và Công đoàn Việt Nam cho nên đây là vấn đề quan trọng.

Bà Đỗ Thị Lan, Ủy viên thường trực Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đề nghị, nếu đảm bảo được mức đóng kinh phí công đoàn như 2% như hiện nay phải có những giải pháp đổi mới hoạt động công đoàn. Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể để đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, xác định được sự cần thiết phải sử dụng nguồn kinh phí công đoàn 2%. “Cần phải bổ sung nội dung mới, nhiệm vụ chi mới. Ví dụ có thể hỗ trợ cho DN khi họ gặp khó khăn để đảm bảo sản xuất kinh doanh. Hay như để đảm bảo việc làm cho người lao động thì có thể hỗ trợ từ nguồn này cho DN song phải quy định rõ điều kiện để có thể sử dụng nguồn kinh phí này”- bà Lan đề nghị.

Góp ý vào Luật công đoàn sửa đổi, Luật sư Trương Thị Hòa, Đoàn Luật sư TP, Hồ Chí Minh cho rằng, kinh phí công đoàn là nguồn đảm bảo hoạt động của công đoàn. Tuy nhiên, quản lý và sử dụng nguồn tài chính công đoàn phải đảm bảo công khai, minh bạch thiết thực đối với NLĐ. Ngoài ra, đối với trường hợp các doanh nghiệp không có công đoàn cơ sở thì việc đóng 2% kinh phí này sẽ được thực hiện ra sao, công đoàn cấp trên trực tiếp phải bảo vệ quyền lợi của người lao động như thế nào?

Trước việc các Hội cho rằng việc trích nộp 2% kinh phí công đoàn trên quỹ lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội như hiện nay là quá cao, nhất là trong bối cảnh khó khăn do bị ảnh hưởng bởi dịch Covid 19, doanh nghiệp vừa phải gồng mình sản xuất vừa phải chăm lo cho NLĐ cũng đặt ra những khó khăn nhất định cho doanh nghiệp.

Như vậy, cùng với lộ trình cam kết khi Việt Nam trở thành thành viên của EVFTA thì việc sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Công đoàn 2012 , nhất là trong bối cảnh luật pháp cho phép thành lập tổ chức đại diện của người lao động tại doanh nghiệp cũng cần đặt ra vai trò thực hiện chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích thiết thực hơn cho người lao động ở công đoàn cơ sở. Trong đó kinh phí công đoàn cũng phải thể hiện rõ tính minh bạch, hiệu quả với đúng vai trò trách nhiệm của tổ chức đại diện NLĐ, chăm lo tốt hơn quyền, lợi ích cho NLĐ tại doanh nghiệp.

Thành Nguyễn