Không trả sổ BHXH cho NLĐ là vi phạm pháp luật

17 Views

Người lao động hỏi: Tôi làm việc tại một doanh nghiệp sản xuất phụ tùng xe máy được hơn 5 năm, hàng tháng đều đóng BHXH. Vừa qua, tôi đã chấm dứt HĐLĐ nhưng doanh nghiệp không trả sổ BHXH cho tôi mà cứ lấy lý do để trì hoãn. Xin hỏi, việc doanh nghiệp không trả sổ BHXH cho tôi có bị xem là vi phạm không? Tôi có thể làm cách nào để nhận lại được sổ BHXH của mình, để tiếp tục tham gia ở nơi khác

Luật sư trả lời: Luật sư Trần Đại Ngọc Đoàn Luật sư Hà Nội tư vấn trường hợp doanh nghiệp không trả sổ BHXH cho người lao động cụ thể như sau:

Tại khoản 5 Điều 21 Luật BHXH hiện hành đã quy định: Người SDLĐ có trách nhiệm phối hợp với cơ quan BHXH trả sổ BHXH cho NLĐ, xác nhận thời gian đóng BHXH khi NLĐ chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.

Không trả sổ BHXH cho NLĐ là vi phạm pháp luật(Ảnh minh hoạ)

Khoản 3 Điều 47 Bộ Luật lao động năm 2012 cũng quy định về trách nhiệm của người SDLĐ khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau: Người SDLĐ có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ BHXH và những giấy tờ khác mà người SDLĐ đã giữ lại của NLĐ.

Theo các quy định của pháp luật nêu trên thì trường hợp bạn đã chấm dứt HĐLĐ mà công ty không trả sổ BHXH cho bạn là vi phạm pháp luật.

Điều 47 Bộ luật Lao động năm 2012 về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động như sau: Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

Như vậy thì khi chấm dứt hợp đồng lao động với bạn thì bên công ty có trách nhiệm trả sổ bảo hiểm xã hội cho bạn trong thời hạn 7 ngày, trường hợp đặc biệt có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày. Công ty đã vi phạm quy định tại Điều 47 Bộ luật Lao động. Trước hết, bạn có thể làm đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp đến Giám đốc Công ty. Trong trường hợp bạn không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của công ty hoặc trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý (hoặc 45 ngày đối với vị việc phức tạp) mà bên công ty không giải quyết cho bạn thì lúc này bạn có thể làm đơn khởi kiện đến Chánh Thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, nơi công ty đặt trụ sở. Bạn cần chú ý đến thời hiệu khiếu nại như sau:

Điều 7. Thời hiệu khiếu nại

1. Thời hiệu khiếu nại lần đầu là 180 ngày, kể từ ngày người khiếu nại nhận được hoặc biết được quyết định, hành vi của người sử dụng lao động, của tổ chức, cá nhân dạy nghề, của tổ chức, cá nhân đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng bị khiếu nại.

2. Thời hiệu khiếu nại lần hai là 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại Điều 19 Nghị định này hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý với quyết định đó.

3. Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại.

Ngoài ra, căn cứ Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền của tòa án thì trong trường hợp như bạn trình bày, bạn cũng có thể trực tiếp khởi kiện ra Tòa án quận/huyện nơi doanh nghiệp đặt trụ sở để xử lý theo quy định của pháp luật.

PV