Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2: Sai phạm và khắc phục

198 Views

( Pháp lý). Thanh tra Chính phủ đã công bố kết luận thanh tra một số nội dung đối với Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2… Sai phạm đã được làm rõ, vấn đề là khắc phục thế nào để Nhà máy không thành đống sắt vụn đang được đặt ra.

Biến hóa số tiền đầu tư

Dự án nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 (NĐTB2) được Thủ tướng giao Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) làm đầu mối đầu tư năm 2008. Đến năm 2010, PVN phê duyệt dự án này theo mặt bằng giá lúc đó với tổng mức đầu tư (TMĐT) là trên 31.500 tỷ đồng.

Chủ đầu tư dự án lúc đó là Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PVPower). Đến tháng 3/ 2011, PVN quyết định chuyển chủ đầu từ PVPower sang PVN. Tổng công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam, được chi định làm Tổng thầu EPC. Thời điểm đó PVC do Trịnh Xuân Thanh làm Chủ tịch HĐQT, với trị giá hợp đồng trọn gói 1,2 tỉ USD. Theo TTCP, việc chỉ định thầu cho PVC là sai quy định pháp luật về đấu thầu, mặt khác tại thời điểm được chỉ định thầu, PVC chỉ thực hiện xây dựng công trình dân dụng, hạ tầng, tuyến ống dẫn khí… và thi công một số hạng mục của một số nhà máy nhiệt điện… chưa làm tổng thầu các dự án lớn tương tự. Trên thực tế, sau khi ký kết hợp đồng tổng thầu, PVC đã thực hiện không đúng cam kết là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến dự án chậm tiến độ, phát sinh tăng chi phí, trong đó có chi phí trả lãi tiền vay từ năm 2016 – 2019 là 81,8 triệu USD.

Tại thời điểm phê duyệt TMĐT quy mô 31.505 tỉ đồng thì dự án NMNĐ Thái Bình 2 phải do Quốc hội ra quyết định đầu tư (những dự án có vốn đầu tư trên 20.000 tỉ đồng). Từ đầu năm 2010, PVN trong quá trình chuẩn bị dự án cũng đã tính toán mức đầu tư phải trên dưới 30.000 tỉ đồng. Tuy nhiên, tháng 3/2010, Bộ Công thương có Văn bản số 2952 báo cáo Thủ tướng Chính phủ với nội dung “nếu dự toán được lập quanh thời điểm 2006 thì sẽ nhỏ hơn 20.000 tỉ đồng” và đề nghị “xử lý theo hướng Chính phủ không phải trình ra Quốc hội”.

Ngày 28/4/2010, Văn phòng Chính phủ có văn bản thông báo ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải với nội dung Bộ Công thương hướng dẫn PVN tính toán quy đổi dự án về mặt bằng giá năm 2006. Đến tháng 5/2010, Bộ Công thương có Văn bản số 4658 gửi Thủ tướng Chính phủ về kết quả tính toán TMĐT dự án là 18.459 tỉ đồng. Ngày 18/5, Phó Thủ tướng có Văn bản số 800 gửi Bộ Công thương và PVN với nội dung Thủ tướng đồng ý cho PVN phê duyệt dự án đầu tư theo mặt bằng giá tại thời điểm phê duyệt.

Kết luận TTCP nêu rõ “Việc PVN và Bộ Công thương đề xuất Thủ tướng Chính phủ quy đổi TMĐT dự án về mặt bằng giá năm 2006 là 18.495,5 tỉ đồng để không trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao Hội đồng quản trị PVN quyết định đầu tư dự án là không đúng Nghị quyết của Quốc hội”.

Dự án đã hai lần điều chỉnh tăng TMĐT. Ngày 26/5/2011, Hội đồng thành viên PVN điều chỉnh TMĐT thành 34.295 tỉ đồng. Đến tháng 10/2016, tiếp tục điều chỉnh lên 41.799 tỉ đồng. Theo TTCP, cả hai lần điều chỉnh này đều có sai phạm. Lần 1, PVN tự ý điều chỉnh mà không báo cáo Thủ tướng. Lần 2, PVN điều chỉnh căn cứ theo văn bản đồng ý của Phó Thủ tướng nhưng việc điều chỉnh này trái pháp luật.

Vì sao phải tính toán để không báo cáo Quốc hội, cố tình làm trái Nghị quyết của Quốc hội? Điều này kéo theo hệ lụy là PVN căn cứ vào văn bản do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải ký và hồ sơ thẩm định để phê duyệt quyết định đầu tư không đúng với Nghị định 12/2009, Luật Xây dựng 2003. Những ai phải chịu trách nhiệm trong quá trình triển khai dự án, điều chỉnh vốn trái quy định của pháp luật đó?

Liên quan những sai phạm tại dự án này, năm 2018, ông Đinh La Thăng, nguyên Chủ tịch HĐTV PVN, đã bị Tòa án tuyên phạt 13 năm tù về tội cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng; ông Trịnh Xuân Thanh bị tuyên án tù chung thân về tội cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và tham ô tài sản.

Không để Nhà máy thành đống sắt vụn

TTCP đã chuyển kết luận thanh tra đến Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng để xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với tổ chức, cá nhân có liên quan đến khuyết điểm, vi phạm được nêu tại kết luận. Ngoài việc chuyển hồ sơ cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét, xử lý theo thẩm quyền, Thanh tra Chính phủ cũng kiến nghị Chính phủ tiếp tục tạo điều kiện, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để dự án NĐTB2 sớm hoàn thiện, đi vào khai thác.

Dự án nhiệt điện Thái Bình 2 có quy mô công suất 1.200 MW thuộc Trung tâm điện lực Thái Bình, theo kế hoạch ban đầu sẽ vận hành tổ máy số 1 vào năm 2017 và tổ máy 2 vào năm 2018. Tuy nhiên đến nay, 2 tổ máy vẫn chưa thể hoàn thành.

Không thể để dự án thành đống sắt vụn

Thời gian thi công kéo dài nên các thiết bị hết thời hạn bảo hành, làm ảnh hưởng đến hoạt động của thiết bị trong thời gian vận hành sau này.

Theo nguồn tin Tạp chí Năng lượng Việt Nam, tính đến đầu tháng 4/2020, giá trị giải ngân lũy kế của dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 (2 x 600 MW) là trên 33 nghìn tỷ VNĐ (tương ứng khoảng 80% giá trị tổng mức đầu tư). Hiện nay đại diện chủ đầu tư đang thực hiện công tác mua sắm vật tư, nhiên liệu, thiết bị, tập trung nhân lực phục vụ chạy thử và hoàn thiện nhà máy. Tại thời điểm này, một số hệ thống, thiết bị đã hoàn thành công tác chạy thử và đáp ứng yêu cầu như: Hệ thống cung cấp nước ngọt (đã hoàn thành lắp đặt, chạy thử cấp nước nhà máy); Hệ thống xử lý nước, nước thải (đã hoàn thành lắp đặt, chạy thử hệ thống sản xuất nước khử khoáng đạt yêu cầu); Sân phân phối 220 kV (đã nhận điện và cấp điện chạy thử nhà máy); Hệ thống PCCC, HVAC, điện trung thế, hạ thế, lò hơi phụ, khí nén (đã hoàn thiện lắp đặt và đang tiến hành chạy thử…).

Cách đây 1 năm, theo VNN, ông Bùi Sơn Trường, Giám đốc ban điều hành dự án – đại diện tổng thầu PVC, cho hay: Nếu giải quyết được vấn đề tiền và cơ chế thì chúng ta không bị lãng phí 32 nghìn tỷ đã bỏ ra. Còn nếu tiền về chậm, chứ chưa nói đến chuyện không bỏ tiền nữa, thì chậm ngày nào phát sinh thêm chi phí ngày đó.

Theo tính toán của ông Trường về các chi phí cần thiết thực hiện dự án, dự án cần 1.000 tỷ để tiến vào giai đoạn đốt dầu và khoảng hơn 2.500 tỷ nữa để tiến vào giai đoạn đốt than. Ông Trường nói: “Dự án này là tài sản, là của nhân dân, của đất nước. Nếu để nó thành đống sắt vụn thì đau xót vô cùng”.

Ông Đinh Văn Sơn, thành viên Hội đồng thành viên PVN, cho rằng: Nếu dừng dự án nhiệt điện Thái Bình 2 thì tất cả chi phí chúng ta bỏ ra không thu hồi được. Hơn 30 ngàn tỷ đã giải ngân là giá trị sổ sách. Còn tính giá trị thực tế khi đang dở dang, là đống sắt vụn thì giá trị giảm… Đó là chưa nói lấy nguồn thu nào để trả nợ vay dự án. “Dự án đó dù chậm, nhưng nếu không đi vào vận hành được thì trước tình hình cả nước sau 2020 thiếu điện, nguồn nào thay thế 1.200 MW đó. Đó là câu hỏi phải suy nghĩ”, ông Đinh Văn Sơn nói.

Ngoài ra, ông Đinh Văn Sơn cũng lo ngại các vấn đề về an ninh trật tự, xã hội khi dự án dừng lại. Bởi các nhà thầu phụ bị nợ tiền thi công sẽ có những phản ứng gay gắt.

Do đó, Thanh tra Chính phủ kiến nghị Chính phủ tiếp tục tạo điều kiện, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để dự án NĐTB2 sớm hoàn thiện, đi vào khai thác là kiến nghị rất cần thiết.

Theo kết luận của TTCP, nhà đất tại số 69 Nguyễn Du, Q.Hai Bà Trưng, TP.Hà Nội có diện tích nhà 655,6 m2, đất 596,7 m2 vốn là tài sản thuộc sở hữu nhà nước, cho PVN thuê làm văn phòng làm việc và không liên quan đến PVC. Tuy nhiên, năm 2008, PVC, PVN, UBND TP.Hà Nội có văn bản gửi Bộ Tài chính trình Phó thủ tướng Chính phủ cho phép UBND TP.Hà Nội bán chỉ định cơ sở nhà, đất tại số 69 Nguyễn Du cho PVC với mức giá gần 40 tỉ đồng. Sau đó, PVC đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Công ty cổ phần đầu tư và khoáng sản Hợp Thành với giá trị gần 100 tỉ đồng.

TTCP xác định việc chuyển nhượng này là trái pháp luật về đất đai, đấu giá và kiến nghị thu hồi và xử lý các vấn đề phát sinh; đến thời điểm 31/10/2020 chưa thực hiện được việc thu hồi thì chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.

AN HẠ