Đối tượng, điều kiện hưởng chế độ thai sản áp dụng từ 1 tháng 7 năm 2019

56 Views

Người lao động hỏi: Tôi là nữ công nhân may đã tham gia bảo hiểm xã hội 5 năm liên tục và dự sinh vào giữa tháng 7/2019, xin hỏi về chế độ trợ cấp 1 lần và chế độ hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe đối với người lao động.

Luật sư trả lời: Luật sư Trần Đại Ngọc Đoàn luật sư Hà Nội tư vấn pháp luật BHXH về điều kiện hưởng trợ cấp 1 lần đối với người lao động sinh con và dưỡng sức phục hồi sức khỏe cụ thể như sau:

Từ ngày 1/7, vợ sinh con, chồng được hưởng trợ cấp và nghỉ chế độ thai sản

Từ ngày 01/7/2019 theo Nghị quyết 70/2018/QH14 sẽ tăng mức hưởng đối với một số chế độ thai sản dành cho lao động nữ có tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc để phù hợp với việc tăng mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2019 (từ 1.390.000 đồng/tháng lên thành 1.490.000 đồng/tháng).

1. Tăng trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi

Điều kiện hưởng trợ cấp một lần: Lao động nữ sinh con hoặc người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 02 lần mức lương cơ sở tại tháng lao động nữ sinh con hoặc tháng người lao động nhận nuôi con nuôi.

a, Đối với trường hợp chỉ có cha tham gia bảo hiểm xã hội thì cha phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con;

b, Đối với người chồng của người mẹ nhờ mang thai hộ phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm nhận con.

Căn cứ: Điều 9 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH

Mức hưởng trợ cấp: 02 lần tháng lương cơ sở: Tăng từ 2.780.000 đồng/ngày (hiện hành) lên thành 2.980.000 đồng/ngày (từ 01/7/2019).

2. Tăng mức hưởng dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau

Tăng từ 417.000 đồng/ngày (hiện hành) lên thành 447.000 đồng/ngày (từ 01/7/2019) (Luật BHXH 2014)

Điều 41. Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản

… 3. Mức hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản một ngày bằng 30% mức lương cơ sở.

Lao động nữ ngay sau thời gian hưởng chế độ thai sản quy định tại Điều 33, khoản 1 hoặc khoản 3 Điều 34 của Luật này, trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khỏe chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10 ngày.

– Số ngày nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe quy định tại khoản 1 Điều này do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở quyết định, trường hợp đơn vị sử dụng lao động chưa thành lập công đoàn cơ sở thì do người sử dụng lao động quyết định. Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe được quy định như sau:

a) Tối đa 10 ngày đối với lao động nữ sinh một lần từ hai con trở lên;
b) Tối đa 07 ngày đối với lao động nữ sinh con phải phẫu thuật;
c) Tối đa 05 ngày đối với các trường hợp khác.

Lưu ý: Thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe bao gồm cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần. Trường hợp có thời gian nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ cuối năm trước chuyển tiếp sang đầu năm sau thì thời gian nghỉ đó được tính cho năm trước.

3. Đối tượng áp dụng chế độ thai sản

Đối tượng áp dụng chế độ thai sản là NLĐ thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

– Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

– Cán bộ, công chức, viên chức;

– Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;

– Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;

– Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương.

4. Điều kiện hưởng chế độ thai sản

NLĐ được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Lao động nữ mang thai;

– Lao động nữ sinh con;

– Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

– NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

– Lao động nữ đặt vòng tránh thai, NLĐ thực hiện biện pháp triệt sản;

– Lao động nam đang đóng BHXH có vợ sinh con.

– Lao động nữ sinh con, lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ, NLĐ nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải đóng BHXH từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

Thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được xác định như sau:

a) Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi trước ngày 15 của tháng, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi không tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

b) Trường hợp sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi từ ngày 15 trở đi của tháng và tháng đó có đóng bảo hiểm xã hội, thì tháng sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi được tính vào thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Trường hợp tháng đó không đóng bảo hiểm xã hội thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản này.

PV