Có gì đáng chú ý trong kiến nghị của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân và Báo cáo của Viện Nghiên cứu & Đào tạo BIDV

239 Views

(Pháp lý) – Diễn biến phức tạp của dịch covid -19 đã và đang để lại những hậu quả thiệt hại nặng nề về kinh tế cho cả Thế giới, trong đó có Việt Nam. Trước những khó khăn , thách thức rất lớn mà doanh nghiệp phải đối mặt trong tình hình hiện nay và những tháng tới, mới đây, Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) thuộc Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính tiếp tục đề xuất Chính phủ trình Quốc hội giảm thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 30% cho các doanh nghiệp năm 2020 thay vì chỉ áp dụng với doanh nghiệp có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỷ đồng; đồng thời kiến nghị giảm thuế VAT; giảm các khoản phải đóng góp của DN và tăng hỗ trợ người lao động.

Còn theo báo cáo vừa công bố ngày 13/9 của TS. Cấn Văn Lực và các tác giả Viện Nghiên cứu & Đào tạo BIDV, về chính sách tiền tệ – tín dụng, Chính phủ, NHTW các nước thực hiện các chính sách nới lỏng tiền tệ một cách mạnh mẽ, chưa từng có tiền lệ (như chương trình mua trái phiếu doanh nghiệp của Fed hay cho vay lãi suất 0% hỗ trợ trả lương của Ngân hàng TW Trung Quốc – PBoC). Những thông tin quí trong Báo cáo này, chúng ta có thể tham khảo và nghiên cứu vận dụng phù hợp tình hình của VN ….

Kiến nghị giảm thuế cho tất cả các loại hình DN

Cơ sở cho đề xuất của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) thuộc Hội đồng Tư vấn cải cách thủ tục hành chính là trước đó Ban IV đã tiến hành khảo sát lần 3 với gần 400 doanh nghiệp và 15 hiệp hội về những khó khăn mà các doanh nghiệp đang phải gánh chịu kể từ đợt dịch covid bùng phát lại vào tháng 7/2020. Kết quả: 20% doanh nghiệp đã phải dừng hoạt động, 76% doanh nghiệp không cân đối được thu chi và 2% doanh nghiệp đã giải thể, chỉ có 2% doanh nghiệp tạm thời chưa bị ảnh hưởng do đại dịch.

Những khó khăn lớn nhất doanh nghiệp phải đối mặt trong tình hình hiện nay và những tháng tới là: Không có khách hàng, đơn hàng, hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ (chiếm 81% câu trả lời); đảm bảo tiền trả lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn (chiếm 72%); trả tiền vay ngân hàng cả gốc và lãi (chiếm 53%); trả tiền điện nước – nhiên liệu đầu vào (chiếm 45%) và trả tiền thuê kho bãi, nhà xưởng, văn phòng, thiết bị (chiếm 42%).

Đề xuất giảm thuế, giảm các khoản đóng góp của DN và tăng hỗ trợ người lao động.

Trong bối cảnh dịch bệnh diễn biến phức tạp như hiện nay, một số hiệp hội doanh nghiệp phản ánh: Tiền thuê đất phải trả năm 2020 tăng đột biến bởi một số điều chỉnh chính sách, cách tính giá thuê đất… buộc những doanh nghiệp sử dụng quỹ đất lớn, như doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, nhà xưởng, thuê đất đầu tư nhà máy, cơ sở chế biến hoặc kinh doanh khách sạn phải nộp tiền thuê tăng từ vài chục phần trăm tới mấy trăm phần trăm.

Dịch COVID-19 cũng đã làm nhiều chuỗi cung ứng bị đứt gãy, đẩy nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng không có khả năng thanh toán hoặc phải chậm thanh toán. Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới dòng tiền vào của doanh nghiệp sản xuất, cung ứng và cung cấp dịch vụ.

Thực trạng khó khăn này hơn 47% doanh nghiệp tham gia khảo sát phải cắt giảm lao động. Tỷ lệ doanh nghiệp cắt giảm trên 50% lao động chiếm tới 1/3 số doanh nghiệp trả lời. Hiệp hội Du lịch Việt Nam (VITA) có 20% doanh nghiệp tạm dừng hoạt động và 10% doanh nghiệp giải thể. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ làm dịch vụ đại lý tour, bán vé sa thải 100% lao động, doanh nghiệp lữ hành quốc tế sa thải khoảng 80% lao động…Ngoài ra đề xuất giảm tối thiểu 50% các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp năm 2020, thậm chí kéo dài sang năm 2021 và gia hạn thời gian đóng so với quy định hiện hành…

Để kích cầu tiêu dùng, đối với thuế giá trị gia tăng (VAT), Ban IV đề xuất giảm mức thuế suất từ 10% xuống 5% nhằm giảm chi phí cho người tiêu dùng để kích cầu cho các ngành trong và ngay sau dịch.

Về chính sách tín dụng, Ban IV đề xuất ngân hàng mở rộng hình thức vay tín chấp, tiếp tục ưu đãi lãi suất với các khoản vay đầu tư, giảm lãi suất các khoản vay hiện tại, khoanh nợ và giãn thời gian trả nợ…Doanh nghiệp du lịch và doanh nghiệp logistics (một phần của quản trị chuỗi cung ứng) mong muốn được áp dụng mức giá điện như ngành sản xuất thay vì giá điện dịch vụ như hiện nay trong điều kiện ngành điện chưa ban hành khung giá điện mới, hỗ trợ doanh nghiệp chống chọi vượt qua đại dịch COVID-19.

“Cùng với chống dịch, chống suy thoái doanh nghiệp, Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh đầu tư công, triển khai các biện pháp quyết liệt thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư nước ngoài FDI và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước tận dụng tốt hơn các cơ hội từ dòng vốn này. Doanh nghiệp được giải phóng khỏi những khó khăn chồng chất, nền kinh tế sẽ không phải hứng chịu nhiều hậu quả khó khắc phục trong những năm tới, gián tiếp kích thích tăng trưởng kinh tế”, đại diện Ban IV khẳng định.

Và giảm khoản đóng góp của doanh nghiệp

Theo Ban IV, các quyết sách và cơ chế thực thi chính sách tháo gỡ khó khăn cần phải nhanh, minh bạch, thuận tiện, chú trọng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, bên cạnh áp dụng chế tài mạnh với các khâu thực thi đi ngược chủ trương “tạo thuận lợi” của Chính phủ để gia tăng hiệu quả chính sách. Đặc biệt là khâu rà soát các chính sách đã ban hành trong gói hỗ trợ lần 1 để điều chỉnh, giảm tải các quy định, điều kiện, thủ tục còn rườm rà, bất hợp lý.

Báo cáo tình hình hình kinh tế – xã hội tháng 8/2020 mới đây của Tổng cục Thống kê, đà phục hồi của sản xuất công nghiệp trong tháng 8 đã chững lại, khi dịch COVID-19 vẫn phức tạp trên toàn cầu làm chuỗi cung ứng bị gián đoạn. Tính chung 8 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 2,2%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng của cùng kỳ năm ngoái là 9,5%; đây cũng là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua.

Do sự bùng phát trở lại của dịch tại thị trường nội địa, hoạt động thương mại và dịch vụ tháng 8/2020 cũng có xu hướng giảm với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 2,7% so với tháng trước. Tính chung 8 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm nhẹ 0,02%.

Theo các chuyên gia kinh tế, ưu tiên hàng đầu hiện nay là chống dịch nhưng không để đứt gãy nền kinh tế, giữ vững cân đối vĩ mô. Nỗ lực tăng trưởng ở mức cao nhất có thể là rất quan trọng vì nó không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn liên quan đến công ăn việc làm, thu nhập người lao động và đời sống người dân. “Lúc này cần đưa ra những giải pháp hợp lý nhất, cân bằng, đủ quyết liệt, gọn gàng trong cách chống dịch nhưng nền kinh tế không bị tê liệt”, TS Võ Trí Thành – thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng nói.

Để nền kinh tế không đứt gãy, không tê liệt, một gói hỗ trợ và kích thích kinh tế mới cũng đã được bàn đến. Các chuyên gia kinh tế nhấn mạnh, gói kích thích hỗ trợ nền kinh tế thứ 2 (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có công văn gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất gói hỗ trợ lần 2 dành cho doanh nghiệp và người lao động gặp khó khăn) cần được triển khai nhanh và quy mô đủ lớn, có điểm nhấn, đúng đối tượng mới có thể hỗ trợ được nền kinh tế vượt qua khó khăn hiện nay.

Theo ông Đinh Tuấn Minh, Giám đốc nghiên cứu Trung tâm Nghiên cứu giải pháp thị trường cho các vấn đề kinh tế và xã hội (MASSEI), gói hỗ trợ tiếp theo vẫn nên chú trọng từ chính sách tài khóa, tức là tiếp tục giảm các khoản đóng góp của doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước và tăng hỗ trợ cho người lao động chịu ảnh hưởng.

Tuy nhiên, cách tiếp cận nhóm đối tượng theo các tiêu chí cụ thể trước đây về doanh thu, số lao động gây khó và làm chậm việc thụ hưởng chính sách. Vì thế, trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp yếu chưa kịp nhận hỗ trợ thì đã dừng hoạt động. Từ kinh nghiệm đó, có thể thay đổi cách tiếp cận theo hướng rộng hơn, chẳng hạn hỗ trợ các doanh nghiệp trong một hoặc một số lĩnh vực nào đó chịu ảnh hưởng tiêu cực do dịch COVID-19.

Còn về chính sách tiền tệ, theo ông Đinh Tuấn Minh, không nên và cũng không thể can thiệp vào hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần bởi họ là những doanh nghiệp cũng chịu tác động của dịch COVID-19. “Trong mọi hoàn cảnh, doanh nghiệp là nguồn sống của ngân hàng nên các ngân hàng sẽ tìm cách chọn lọc và hỗ trợ khách hàng của họ một cách phù hợp nhất”, ông Minh nhấn mạnh.

Theo TS Võ Trí Thành, nếu có chính sách bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương gồm khu vực phi chính thức, doanh nghiệp nhỏ và vừa, một số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bị tác động nghiêm trọng bởi COVID-19… thì kinh tế về cơ bản sẽ duy trì được tăng trưởng thấp, nhưng cũng sẽ không đến mức suy thoái. Dự kiến tăng trưởng GDP năm nay sẽ ở khoảng 2%.

“Tăng trưởng GDP năm nay loanh quanh ở ngưỡng 2%”, song TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho rằng: Chính sách hỗ trợ cần phải bài bản, dài hạn với 2 định hướng: Một là hỗ trợ những đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch, đi kèm với đó là miễn, giảm thuế; hai là các chính sách hướng tới thúc đẩy, phục hồi tăng trưởng kinh tế trong những năm tiếp theo. “Chính sách hỗ trợ phải tính đến việc tận dụng cơ hội mới thúc đẩy, phục hồi tăng trưởng kinh tế trong những năm tiếp theo. Trong khi nguồn lực có hạn không thể hỗ trợ tất cả, thì gói hỗ trợ lần này nên ưu tiên tới người lao động và nhóm người bị tổn thương, hỗ trợ những doanh nghiệp ở bên thắng cuộc khi dịch bệnh qua đi”, TS. Nguyễn Đình Cung nói.

Các nước thực hiện các chính sách nới lỏng tiền tệ một cách mạnh mẽ, chưa từng có tiền lệ

Theo báo cáo vừa công bố ngày 13/9 của TS. Cấn Văn Lực và các tác giả Viện Nghiên cứu & Đào tạo BIDV, về chính sách tiền tệ – tín dụng, Chính phủ, NHTW các nước thực hiện các chính sách nới lỏng tiền tệ một cách mạnh mẽ, chưa từng có tiền lệ (như chương trình mua trái phiếu doanh nghiệp của Fed hay cho vay lãi suất 0% hỗ trợ trả lương của Ngân hàng TW Trung Quốc – PBoC). Các chính sách này có thể tổng hợp gồm 7 giải pháp chính.

Một là: Hạ lãi suất điều hành tạo định hướng lãi suất và giảm lãi suất cho các tổ chức tín dụng (qua kênh cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu) để các tổ chức tín dụng (TCTD) có thể hạ lãi suất cho vay (đa số các nước, trong đó có cả Việt Nam);

Hai là: hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc để các TCTD có thêm nguồn vốn cho vay, qua đó gián tiếp bơm thêm tiền vào nền kinh tế (như Mỹ, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia);

Ba là; hỗ trợ thanh khoản thị trường thông qua cam kết mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) và chứng khoán thế chấp bằng nhà ở (như Mỹ có gói nới lỏng định lượng trị giá 700 tỷ USD để mua lại các khoản vay, trái phiếu; EU có chương trình mua trái phiếu khẩn cấp (PEPP) trị giá 1.350 tỷ EUR đến giữa năm 2021, bổ sung 120 tỷ EUR cho chương trình mua tài sản năm 2020, Nhật Bản tăng hạn mức mua trái phiếu, thương phiếu doanh nghiệp lên 7.400 tỷ Yên (70 tỷ USD); Trung Quốc mua lại các khoản cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ nhằm tăng thanh khoản và nguồn vốn rẻ cho các NHTM;

Bốn là: cho các NHTM vay lãi suất thấp để có thể cho doanh nghiệp vay với lãi suất ưu đãi hơn (một dạng hỗ trợ lãi suất như Anh, Nhật, Thái Lan);

Năm là: cung cấp gói tín dụng ưu đãi để hỗ trợ thanh khoản và trả lương (Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh, Việt Nam);

Sáu là: cho phép giãn, hoãn nợ, giữ nguyên nhóm nợ và cho vay mới với lãi suất ưu đãi hơn (Việt Nam, Trung Quốc, Anh);

Và bảy là: tăng cường các biện ổn định tỷ giá và thanh khoản của hệ thống tài chính thông qua việc thực hiện thỏa thuận hoán đổi tiền tệ (Mỹ, Canada, Nhật Bản, Châu Âu, Thụy Sỹ).

Theo báo cáo vừa công bố ngày 13/9 của TS. Cấn Văn Lực và các tác giả Viện Nghiên cứu & Đào tạo BIDV, về chính sách tiền tệ – tín dụng, Chính phủ, NHTW các nước thực hiện các chính sách nới lỏng tiền tệ một cách mạnh mẽ, chưa từng có tiền lệ (như chương trình mua trái phiếu doanh nghiệp của Fed hay cho vay lãi suất 0% hỗ trợ trả lương của Ngân hàng TW Trung Quốc – PboC).

Theo các chuyên gia của Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV, các chính sách tài chính – tiền tệ là các chính sách được áp dụng trong bối cảnh hết sức đặc biệt, với mức độ nới lỏng khác nhau, tùy thuộc vào thể chế và mức độ thiệt hại do dịch gây ra. Tuy nhiên, dư địa của chính sách tiền tệ dần bị thu hẹp vì lãi suất đã ở mức rất thấp và thường chỉ mang tính thời điểm, khẩn cấp; do đó, các nước tập trung nhiều hơn vào chính sách tài khóa.

Thống kê của nhóm tác giả cho biết, chính phủ các nước đã công bố và triển khai các gói tài khóa với quy mô khác nhau, tùy thuộc vào thể chế, khả năng ngân sách và mức độ thiệt hại do dịch gây ra. Các nền kinh tế lớn như Đức, Nhật Bản, Anh, Mỹ, Canada…v.v. đều liên tiếp công bố các gói hỗ trợ với quy mô trung bình tương đương 18% GDP (đặc biệt Đức công bố các gói hỗ trợ lên tới 33% GDP và Nhật Bản 21% GDP). Tại Châu Á, các quốc gia cũng đã có các gói hỗ trợ với quy mô nhỏ hơn như Ấn Độ, Thái Lan, Singapore, Malaysia khoảng 10-14% GDP; Trung Quốc (6,5% GDP); Việt Nam, Phillippines, Indonesia có quy mô chỉ ở mức từ 1,5-6% GDP (theo IMF, McKinsey và tác giả tổng hợp).

Các gói tài khóa nhìn chung tập trung vào 9 mục đích chính: (i) đầu tư nghiên cứu, sản xuất vaccine và thiết bị y tế (như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Ấn Độ, Philippines…); (ii) trợ cấp người lao động phải tạm nghỉ việc hoặc thất nghiệp (như Mỹ trợ cấp 3.000 USD/người lớn, Đức trợ cấp mỗi gia đình 300 Euro/trẻ em, Anh trả 80% lương cho người thất nghiệp tối đa 2.500 Bảng/tháng, Hàn Quốc hỗ trợ mỗi lao động khoảng 407 USD/tháng trong 3 tháng,Việt Nam hỗ trợ 1 triệu đồng/ tháng trong 3 tháng….;

(iii) chia tiền mặt cho người dân thu nhập trung bình và thấp (Úc hỗ trợ người thu nhập thấp 750 AUD/người…), (iv) cho vay lãi suất thấp đối với DNNVV và DN kiệt quệ tài chính, khó khăn thanh khoản (Mỹ dành 510 tỷ USD để cung cấp các khoản vay, bảo lãnh nhằm ngăn doanh nghiệp phá sản, trong đó dùng 25 tỷ USD cho vay hỗ trợ các doanh nghiệp hàng không, Đức cung cấp gói 100 tỷ EUR và Singapore với gói 4 tỷ USD hỗ trợ DN gặp khó khăn tài chính…);

(v) cho vay, bão lãnh vay vốn hoặc mua lại cổ phần các công ty (Đức có gói bảo lãnh cho vay DN trị giá 400 tỷ EUR, Anh có gói bảo lãnh 80% giá trị các khoản vay của các DN bị ảnh hưởng…), (vi) cho phép giãn, hoãn nộp thuế thu nhập DN, thuế thu nhập cá nhân, tiền thuê đất, BHXH (như Mỹ, EU, Pháp, Trung Quốc, Việt Nam…); (vii) giảm thuế thu nhập DN và thuế thu nhập cá nhân (Trung Quốc giảm thuế thu nhập DN trị giá 200 tỷ NDT, Singapore giảm 25% thuế thu nhập DN và Việt Nam giảm thuế 30% đối với DN nhỏ, hộ gia đình và HTX trong năm 2020…v.v.);

(viii) kích cầu tiêu dùng, du lịch và hỗ trợ xuất khẩu (Thái Lan có gói kích thích du lịch nội địa trị giá 5 tỷ Bath tương đương 160 triệu USD, Malaysia miễn thuế dịch vụ cho lĩnh vực khách sạn, Indonesia với gói 10,3 nghìn tỷ Rupiah tương đương 725 triệu USD để kích cầu tiêu dùng và du lịch, Philippines với gói tài khóa 14 tỷ Peso để tài trợ các dự án du lịch…);

và (ix) có riêng gói an sinh xã hội (Indonesia với gói 171 nghìn tỷ Rupiah tương đương 11,7 tỷ USD để tăng cường hỗ trợ hệ thống an sinh xã hội, Thái Lan phát tiền mặt cho người lao động không có BHXH, Việt Nam với gói hỗ trợ 62 ngàn tỷ VND, Mỹ hỗ trợ chi trả bảo hiểm thất nghiệp …).

Hà Trang

(Tổng hợp và trích từ nguồn Báo cáo của Ban Nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV) và Báo cáo của Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV)

Trả lời