Bài 2: Việt Nam cần ưu tiên hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư nước ngoài và nâng cao năng lực cán bộ

409 Views

(Pháp lý) – Để Chính Phủ và các Doanh nghiệp không gặp bất lợi trong quá trình thực hiện Hiệp định và phòng khi nếu có tranh chấp xảy ra, theo chuyên gia pháp lý, Việt Nam cần khẩn trương hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư nước ngoài; đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác thực thi pháp luật đầu tư…

6 nhóm việc Việt Nam cần lưu ý giải quyết!

Cụ thể, trước mắt Việt Nam có thể không cần phải sửa đổi, bổ sung ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật trong nước để thực thi Hiệp định. Tuy nhiên, theo bà Nguyễn Thị Nhung, Vụ Pháp luật Quốc tế, Bộ Tư pháp, vấn đề là Việt Nam cần khẩn trương nghiên cứu, hoàn thiện thể chế để đáp ứng các yêu cầu của cơ chế thực thi cam kết bảo hộ đầu tư của Hiệp định EVFTA và đặc biệt tập trung lưu ý giải quyết 6 nhóm việc sau:

Thứ nhất, việc thực thi các quy định pháp luật về đầu tư, trong đó có Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn cần phải được lưu ý, đảm bảo về quy trình thủ tục cũng như tính minh bạch trong việc cấp, thu hồi và quản lý dự án đầu tư. Ngoài ra chúng ta cần thận trọng khi đưa ra các cam kết cụ thể với nhà đầu tư, cũng như xác định chính xác các biện pháp rơi vào “vùng ngoại lệ” để giải phóng nghĩa vụ khỏi khiếu kiện của nhà đầu tư…

Ngoài ra, việc hiểu đúng, đủ và thực thi hiệu quả cam kết trong EVFTA và IPA, đòi hỏi cần khẩn trương đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao năng lực của cán bộ làm công tác đàm phán, thực thi pháp luật đầu tư từ cấp trung ương và địa phương và đội ngũ các chuyên gia pháp lý tham gia giải quyết tranh chấp đầu tư.

Thứ hai, để bổ nhiệm các thành viên vào Hội đồng tài phán và Hội đồng tài phán phúc thẩm của EVFTA và IPA, Việt Nam cần sớm ban hành quy chế về việc đánh giá và chọn, cử nhận sự thích hợp đảm nhiệm vai trò quan trọng nói trên. Để lựa chọn và chỉ định các cá nhân thích hợp làm việc với tư cách là thành viên của hệ thống Tòa án đầu tư quốc tế của EVFTA và IPA, Việt Nam cần sớm chuyển đổi các tiêu chí mềm trong EVFTA và IPA thành các điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể hơn nhằm tạo thuận lợi cho việc lựa chọn và xây dựng thủ tục lựa chọn và bổ nhiệm.

Trong trường hợp phát sinh xung đột về nghĩa vụ giữa trách nhiệm công bằng và độc lập trong hoạt động xét xử với nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc, luật pháp và chính sách của Việt Nam cần xác định rõ trách nhiệm của thành viên Việt Nam trong cơ chế tài phán của IPA, là đảm bảo tính công bằng và khách quan trong hoạt động xét xử, góp phần vào chức năng của Toà án đầu tư là nhằm bảo vệ công lý, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Các đại diện của Việt Nam khi làm việc tại cơ chế này phải được tạo điều kiện đặc biệt để loại trừ bất kỳ áp lực bên ngoài nào để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Thứ ba, để đối phó với áp lực về thời hạn tố tụng, Việt Nam cần tiến hành rà soát toàn diện Quy chế phối hợp giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế ban hành kèm theo Quyết định số 04/QĐ-TTg ngày 14/01/2014, để có có những điều chỉnh hoặc sửa đổi thích hợp, vì cơ chế phối hợp này vốn chỉ được thiết kế để giải quyết tranh chấp theo cơ chế trọng tài đầu tư quốc tế.

Thứ tư, để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ minh bạch hóa theo quy định của Hiệp định EVFTA và IPA mà tránh được nguy cơ Chính phủ Việt Nam bị các nhà đầu tư kiện theo hiệu ứng dây chuyền, Việt Nam cần nhanh chóng hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư nước ngoài, tăng cường minh bạch hóa trong việc các hoạt động quản lý nhà nước về đầu tư.

Ngoài ra, để tránh nguy cơ bị kiện “dây chuyền” khi thông tin về các vụ tranh chấp đầu tư được minh bạch hóa, Việt Nam cần tập trung nhiều hơn vào chiến lược phòng ngừa phát sinh tranh chấp thông qua giải pháp toàn diện đồng bộ từ trung ương đến địa phương để thực hiện đầu tư minh bạch Chính sách, việc thi hành luật pháp trong nước và cam kết quốc tế trong các hiệp định, hiệp định mà Việt Nam tham gia, trong đó có Hiệp định EVFTA và IPA.

Thứ năm, đối với các cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế, Việt Nam cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đào tạo bồi dưỡng chuyên gia và có các biện pháp thích hợp khác nhằm khuyến khích việc sử dụng các biện pháp như đàm phán và hòa giải trong giải quyết tranh chấp nói chung và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế nói riêng. Đối với việc cải cách pháp luật trong nước, Việt Nam cần sớm ban hành Nghị định về Hòa giải Thương mại cũng như khuyến khích thành lập các Trung tâm hòa giải thương mại để phổ biến việc sử dụng cơ chế này một cách nhanh chóng.

Thứ sáu, Việt Nam cần tham gia tích cực hơn vào các thảo luận sửa đổi ISDS trên diễn đàn quốc tế. Bên cạnh đó, phân tích của các chuyên gia, học giả hàng đầu trong lĩnh vực ISDS trên thế giới sẽ giúp Việt Nam có những lưu ý cần thiết khi thực thi cơ chế ISDS trong IPA/EVFTA và lưu ý các giải pháp điều chỉnh khi thấy cần thiết.

Kết mở

Việt Nam thông qua việc ký kết IPA/EVFTA đã cam kết cùng với EU thực thi một thiết chế ISDS có thể nói là khác biệt nhất từ trước đến nay. Những điểm khác biệt này trước đây đã được thảo luận và đề xuất ý tưởng bởi EU trong các diễn đàn về cải tổ ISDS. Có một đặc điểm cần lưu ý là hiện nay, chưa có tiếng nói ủng hộ rõ ràng cho mô hình ISDS do EU – Việt Nam, EU- Canada và EU- Singapore xây dựng. Cộng đồng quốc tế còn đang thảo luận rất tích cực và dường như việc đi đến tiếng nói thống nhất cuối cùng về một hế thông tòa đầu tư đa phương, hoặc những yếu tố cải tiến trong IPA/EVFTA sẽ còn khá xa với hiện thực.

Là một trong những quốc gia tiên phong trong việc thực thi cơ chế mới này, không chỉ Việt Nam, mà bản thân EU và các đối tác khác của họ như Canada và Singapore sẽ đối diện với rất nhiều cơ hội và thách thức. Việc tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức như thế nào sẽ đến những định hướng chiến lược và xây dựng kế hoạch thực thi hiệp định EVFTA, IPA một cách hiệu quả.

Theo PGS. TS. Trần Việt Dũng – trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống tòa án đầu tư của EVFTA so với các cơ chế ISDS truyền thống là một bước đột phá khi nó hướng tới bảo đảm sự công bằng và minh bạch cao hơn trong ISDS. EVFTA đã tích hợp nhiều thực tiễn tốt của các quốc gia trên thế giới đối với ISDS. Nhưng điểm nhấn quan trọng nhất trong mô hình tòa án đầu tư của EVFTA chính là cơ chế phúc thẩm của hệ thống tòa án đầu tư Quốc tế (ITS). Cơ chế này được kỳ vọng sẽ là bộ lọc quan trọng để hạn chế và khắc phục các lỗi giải thích luật và đánh giá về chứng cứ của hội đồng xét xử. Sự mô phỏng của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, cũng sẽ giúp cho các phán quyết của ITS mang tính hệ thống và dễ dự đoán hơn. Tuy nhiên, nhà nước cũng sẽ phải nghiên cứu đánh giá kỹ các tác động của cơ chế này, đối với các biện pháp, chính sách đầu tư của cơ quan quản lý nhà nước.

Nguyễn Nguyễn (lược ghi)

, , , ,