Trung Quốc trả đũa Mỹ trước khi có ‘phán quyết’ của WTO, liệu có hiệu nghiệm?

(Pháp lý) – Như đã biết, việc gần đây Trung Quốc kiện Mỹ ra WTO không phải lần đầu. Theo như tiến trình tố tụng đối với vụ kiện gần nhất thì sẽ có phiên hòa giải giữa hai bên. Tuy nhiên theo một số nhà phân tích dự liệu, khả năng khó có thể có được sự đồng thuận giữa hai quốc gia này. Và các bên có thể phải trải qua một qui trình giải quyết tranh chap kéo dài.

Thực tế đã có nhiều lần WTO phân xử tranh chấp của hai cường quốc này. Tuy nhiên khi có phán quyết, thì không ít lần các nước chối từ việc thực thi phán quyết.

Thông thường, việc trả đũa trong quan hệ thương mại giữa hai quốc gia trong tổ chức WTO thường áp dụng sau khi có phán quyết vi phạm của DSB (Cơ quan giải quyết tranh chấp thuộc WTO). Nhưng lần này Trung Quốc đã áp dụng biện pháp trả đũa trước khi có khuyến nghị, phán quyết của WTO, vì sao vậy? Và biện pháp trả đũa của Trung Quốc có thật sự “hiệu nghiệm” với đối thủ là Mỹ?

Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO

Theo thông tin từ Trung tâm WTO và hội nhập của VCCI thì Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) chính thức ra đời kể từ ngày 1/1/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay (1986-1995) với tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947). WTO được coi như một thành công đặc biệt trong sự phát triển thương mại và pháp lý cuỗi thế kỷ XX với một hệ thống đồ sộ các hiệp định, thoả thuận, danh mục nhượng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ thương mại của các quốc gia thành viên.

Để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu to lớn của WTO, một cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức này đã được thiết lập. Cơ chế này là sự hiện thực hoá xu thế pháp lý hoá quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngày nay, dần dần thay thế các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này.

Mục tiêu căn bản của cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO là nhằm “đạt được một giải pháp tích cực cho tranh chấp”, và ưu tiên những “giải pháp được các bên tranh chấp cùng chấp thuận và phù hợp với các Hiệp định liên quan” . Xét ở mức độ rộng hơn, cơ chế này nhằm cung cấp các thủ tục đa phương giải quyết tranh chấp thay thế cho các hành động đơn phương của các quốc gia thành viên vốn tồn tại nhiều nguy cơ bất công, gây trì trệ và xáo trộn sự vận hành chung của các qui tắc thương mại quốc tế.

11

Theo đó, tranh chấp trong khuôn khổ WTO không nhất thiết phát sinh từ một hành vi vi phạm các qui định tại các Hiệp định của tổ chức này của một hoặc nhiều quốc gia thành viên (thông qua việc ban hành/thực thi một biện pháp thương mại vi phạm nghĩa vụ của quốc gia đó theo WTO). Tranh chấp có thể phát sinh từ một “tình huống” khác hoặc khi một biện pháp thương mại do một quốc gia thành viên ban hành tuy không vi phạm qui định của WTO nhưng gây thiệt hại cho một hoặc nhiều quốc gia thành viên khác.

Quá trình giải quyết tranh chấp tại WTO được áp dụng theo quy tắc DSU (- Văn bản quy định về quy trình, trình tự giải quyết tranh chấp tại WTO).

Đầu tiên đó là thủ tục Tham vấn, theo đó bên có khiếu nại trước hết phải đưa ra yêu cầu tham vấn Bên kia (Điều 4 DSU). Như trong vụ kiện của gần đây nhất thì Trung Quốc tiến hành tham vấn Mỹ.

Tiếp đó là thủ tục trung gian, hoà giải. Các hình thức này được tiến hành trên cơ sở tự nguyện, bí mật giữa các bên. Chức năng môi giới, trung gian, hoà giải do Tổng Thư ký WTO đảm nhiệm.

Tiếp đó để tiến hành giải quyết vụ việc, Ban Hội thẩm được thành lập. Trong văn bản yêu cầu thành lập Ban Hội thẩm phải nêu rõ quá trình tham vấn, xác định chính xác biện pháp thương mại bị khiếu kiện và tóm tắt các căn cứ pháp lý cho khiếu kiện.

Quá trình giải quyết tranh chấp, bất kỳ quốc gia thành viên nào có quyền lợi thực chất trong vấn đề tranh chấp đều có thể thông báo cho DSB về ý định tham gia vụ việc với tư cách là Bên thứ ba. Các Bên thứ ba này được tạo điều kiện để trình bày ý kiến bằng văn bản trước Ban Hội thẩm.

Ban Hội thẩm có chức năng xem xét vấn đề tranh chấp trên cơ sở các qui định trong các Hiệp định của WTO mà Bên nguyên đơn viện dẫn như là căn cứ cho đơn kiện của mình để giúp DSB đưa ra khuyến nghị/quyết nghị thích hợp cho các bên tranh chấp.

Sau khi có Báo cáo, nếu các bên không đồng ý với các vấn đề pháp lý trong báo cáo trên thì có thể kháng cáo theo trình tự Phúc thẩm. Cơ quan Phúc thẩm ra Báo cáo trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày kháng cáo (trường hợp có yêu cầu gia hạn thì có thể kéo dài thêm 30 ngày nữa nhưng phải thông báo lý do cho DSB biết). Báo cáo này có thể giữ nguyên, sửa đổi hoặc loại bỏ các vấn đề và kết luận pháp lý của Ban hội thẩm.

Báo cáo được thông qua xác định một biện pháp của một Bên là vi phạm qui định của WTO, cơ quan ra Báo cáo phải đưa ra khuyến nghị nhằm buộc Bên có biện pháp vi phạm phải tuân thủ qui định của WTO (yêu cầu bị đơn rút lại hoặc sửa đổi biện pháp liên quan) và có thể đưa ra các gợi ý (không bắt buộc) về cách thức thực hiện khuyến nghị đó.

Trong vụ Trung Quốc kiện Mỹ, nếu Trung Quốc đúng thì WTO có thể đưa ra các khuyến nghị phải sửa đổi các quy định về thuế quan. Báo cáo của DSB có thể đưa ra các biện pháp dàn xếp nhất định để thoả mãn các Bên liên quan ví dụ như về bồi thường.

Trong trường hợp Mỹ không vi phạm, Mỹ không phải rút lại biện pháp liên quan (vì không có vi phạm).

Ngoài ra các bên có thể áp dụng việc trả đũa song song, thực chất là việc Bên thắng kiện không phải thực hiện các nhân nhượng thuế quan đối với hàng hoá của Bên thua kiện trong cùng lĩnh vực mà Bên thắng kiện bị thiệt hại.

Trả đũa chéo là hình thức trả đũa nhằm vào lĩnh vực khác lĩnh vực bị thiệt hại trong trường hợp việc trả đũa song song không thể thực hiện được (có thể trả đũa chéo lĩnh vực – khác lĩnh vực nhưng trong cùng phạm vi điều chỉnh của một hiệp định; hoặc trả đũa chéo hiệp định – trả đũa trong một lĩnh vực thuộc phạm vi điều chỉnh của một hiệp định khác nếu việc trả đũa song song và trả đũa chéo lĩnh vực đều không thể thực hiện được).

Trả đũa liệu có thực sự hiệu quả với nước có quyền lực kinh tế mạnh hơn ?

Với tiến trình pháp lý trên và theo dõi dòng sự kiện hiện nay, chúng ta thấy, một mặt Trung Quốc đệ đơn kiện Mỹ, mặt khác vẫn sử dụng biện pháp trả đũa trước, trong và sau khi kiện.

Có ý kiến cho rằng, phải chăng vì đã có tiền lệ Mỹ không tuân thủ theo các khuyến nghị có trong phán quyết của WTO nên Trung Quốc không có sự tin tưởng?!

Thế nhưng việc trả đũa của Trung Quốc có thật sự có hiệu quả?

Luật sư Phạm Văn Thành từng bình luận về hiệu quả thực thi đối với phán quyết của cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO và biện pháp trả đũa: Khuyến nghị và phán quyết của DSB là ràng buộc, mang tính bắt buộc thi hành còn việc bồi thường thiệt hại và trả đũa là biện pháp mang tính khắc phục.

Tuy rằng các khuyến nghị và phán quyết của DSB là ràng buộc, bên thua kiện bắt buộc phải thực thi , nhưng việc thực thi này được thực hiện như thế nào là một vấn đề mà các bên trong tranh chấp rất quan tâm (trong vụ kiện Trung Mỹ, có rất nhiều quốc gia liên quan – PV).

Theo tìm hiểu của PV, các phán quyết và khuyến nghị của DSB không tự bản thân nó thực hiện, vì vậy việc thực hiện phụ thuộc vào bên thua kiện có hành động thích hợp ra sao. Bản thân các biện pháp khắc phục theo luật WTO không có qui định đối với bất kỳ sự khắc phục thiệt hại nào do việc không tuân thủ của một thành viên gây ra đối với thành viên khác.

Thực tế thì các nước có nền kinh tế lớn hơn thường có thói quen dựa theo các quy tắc có lợi cho mình theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé” hơn là tuân theo lẽ phải và sự công bằng. Đối với họ, biện pháp khắc phục tối ưu sẽ là một biện pháp đủ tốt để có thể chống lại các đối thủ nhưng không gây bất lợi cho mình. Đó là lý do tại sao các biện pháp khắc phục của WTO vẫn còn là một vấn đề tồn tại.

Theo cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, nếu một thành viên WTO vi phạm nghĩa vụ của mình theo các cam kết trong WTO và không tuân thủ phán quyết của WTO, thì các bên tranh chấp phải thương lượng đền bù và phải được cả hai bên tranh chấp đều chấp thuận. Tuy nhiên, việc bồi thường được thoả thuận bởi hai bên không bị ràng buộc bởi luật WTO và vì thế nó đã hiếm khi xảy ra.

Trong hoạt động kinh tế quốc tế, có nhiều lo ngại về hiệu quả của trả đũa và bị trả đũa lại từ các thành viên phát triển mạnh. Trả đũa được coi là một phản ứng của bên thắng kiện đối với bên thua trong tranh chấp khi bên thua kiện không tuân thủ phán quyết và khuyến nghị của DSB. Trả đũa cũng được coi là một công cụ được sử dụng bởi các thành viên cho rằng mình đã bị thiệt hại do việc không tuân thủ của các thành viên vi phạm, nhằm để buộc thành viên này thu hồi các biện pháp không phù hợp trong WTO. Tuy nhiên, biện pháp trả đũa chống lại các thành viên không thực hiện khuyến nghị và phán quyết của DSB là lựa chọn cuối cùng mà các thành viên khiếu kiện nên làm cho dù quyền trả đũa là một phương tiện quan trọng để làm các biện pháp vi phạm phù hợp theo các hiệp định của WTO…

Trả đũa không thực sự hiệu quả với những nước có quyền lực kinh tế mạnh hơn!

Phan Phan – Văn Chiến.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *