Trao đổi về nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” trong BLTTHS năm 2013

(Pháp lý) – Hai cấp xét xử là một nguyên tắc xét xử đặc trưng chỉ được áp dụng trong hệ thống pháp luật các nước châu Âu lục địa. Còn các nước theo hệ thống thông luật như Anh, Hoa Kỳ không áp dụng nguyên tắc này mà áp dụng nguyên tắc chung thẩm.

Đối với hệ thống luật dân sự của các nước châu Âu lục địa, nguyên tắc đặc trưng lại là hai cấp xét xử.

Ở nước ta trước năm 2003, trong Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988 chưa chính thức ghi nhận nguyên tắc này, tuy nhiên trên thực tế những nội dung của nguyên tắc này cũng đã được áp dụng.

Việc quyết định và thực hiện hai cấp xét xử trong tố tụng hình sự đáp ứng những yêu cầu của nhà nước pháp quyền với việc bảo đảm các quyền và lợi ích chính đáng của công dân, đảm bảo dân chủ, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, áp dụng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, là sự thể hiện nhận thức khoa học về hoạt động xét xử của tòa án. Việc quyết định một vụ án hình sự có thể được xét xử ở hai cấp xét xử khác nhau là phù hợp quy luật của nhận thức nhằm đảm bảo tính đúng đắn, khách quan của hoạt động xét xử.

Nghiên cứu về nguyên tắc này chúng tôi có một số trao đổi, góp ý sau:

Khái niệm cấp xét xử nói trong pháp luật tố tụng hình sự theo chủ ý của Nhà làm luật là muốn đề cập đến trình tự xét xử một vụ án, cụ thể là đối với mỗi vụ án nhất thiết phải đưa ra xét xử ở cấp sơ thẩm (nếu đủ điều kiện mở phiên tòa), khi bị cáo và các bên có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc Viện kiểm sát không đồng ý với cách giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm thì có quyền kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại vụ án ở cấp phúc thẩm, chứ không phải muốn nói Tòa án cấp nào là cấp xét xử, Tòa án ở cấp nào không phải là cấp xét xử.

Tuy nhiên, hiện nay, trong chiến lược cải cách tư pháp, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương cơ cấu, tổ chức lại hệ thống Tòa án theo cấp xét xử, Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/7/2010, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ XI… đã đề ra nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Tòa án theo hướng: “Tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính gồm: Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Tòa án cấp cao được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm; Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm…”.

Chúng tôi cũng thấy rằng, chức năng của Tòa án là xét xử, do vậy, Tòa án dù được tổ chức ở cấp nào thì cũng phải có chức năng xét xử và có hoạt động xét xử. Tuy nhiên, thẩm quyền, phạm vi, giới hạn, quyền hạn khi xét xử là khác nhau, có cấp Tòa án thực hiện việc xét xử để giải quyết các quan hệ pháp luật về nội dung phát sinh do việc thực hiện tội phạm, có cấp Tòa án thực hiện việc xét xử không giải quyết các quan hệ pháp luật nói trên mà chỉ xem xét tính hợp pháp của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để chấp nhận nó hay không. Điều này cũng phù hợp quan điểm của Đảng ta trong chiến lược cải cách tư pháp và phù hợp các quy định của BLTTHS hiện hành (trong nhiều điều luật ở “Phần thứ sáu” – Xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có dùng thuật ngữ “xét xử” (tại các điều 277, 282) và thuật ngữ “phiên tòa” cũng được quy định tại các điều 280, 281, 282″. Như vậy, khái niệm “cấp xét xử” trong nguyên tắc “thực hiện chế độ hai cấp xét xử” và khái niệm “cấp xét xử” trong tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án trong tình hình mới hiện nay là không đồng nhất, điều này dẫn đến sự mâu thuẫn về các khái niệm trong các văn bản luật.

Trong BLTTHS, Nhà làm luật đã ghi nhận một trong số các nhiệm vụ của BLTTHS là: quy định trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng đối với mỗi vụ án hình sự, trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, trình tự thủ tục tố tụng hình sự đối với một vụ án bao gồm các giai đoạn sau: giai đoạn khởi tố, giai đoạn điều tra, giai đoạn truy tố, giai đoạn xét xử sơ thẩm, giai đoạn xét xử phúc thẩm, giai đoạn thi hành án hình sự; trong trường hợp khi bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện thấy có vi phạm nghiêm trọng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hay phát hiện tình tiết mới thì có thể bị kháng nghị để tiến hành giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

Với việc quy định như trên thì đối với mỗi vụ án hình sự, giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn tố tụng bắt buộc phải thực hiện, còn giai đoạn xét xử phúc thẩm chỉ phát sinh khi có kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm. Và như vậy, dù Luật có ghi nhận hay không ghi nhận nguyên tắc “Thực hiện chế độ hai cấp xét xử” thì trình tự, thủ tục tố tụng đó vẫn phải được thực hiện.

Một vấn đề nữa theo chúng tôi cần xem xét là giữa nguyên tắc “Thực hiện chế độ hai cấp xét xử” và quy định về quyền kháng cáo, trình tự, thủ tục kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của bị cáo và các đương sự trong BLTTHS có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Chúng tôi thấy rằng hai quy định trên đều bàn đến một quyền rất quan trọng là quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự; chúng tôi thấy rằng đây là một quyền rất quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể nói trên có thể có cơ hội bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của mình ở các cấp Tòa án khác nhau. Chính vì vậy, theo chúng tôi, cần ghi nhận trong Bộ luật tố tụng hình sự một nguyên tắc là “Bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự trong vụ án hình sự”.

Từ những vấn đề đã trình bày trên, chúng tôi đề nghị thay vì ghi nhận nguyên tắc “Thực hiện chế độ hai cấp xét xử” trong BLTTHS, nay ghi nhận nguyên tắc “Bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo và các đương sự trong vụ án hình sự”.

ThS. Hoàng Đình Thanh – CN. Lữ Vũ Lực
(Khoa Luật, Đại học Huế )

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *