Trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân dưới góc nhìn của các chuyên gia pháp luật

(Pháp lý) – “Phạt như phủi bụi” là cái cách mà dư luận vẫn bất bình thốt lên về cách xử lý của các cơ quan nhà nước mỗi khi pháp nhân có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng gây bức xúc dư luận. Tuy nhiên trong thực tế, quyết định của cơ quan nhà nước không sai mà do nhiều quy định của pháp luật còn thiếu và yếu trong việc buộc pháp nhân chịu trách nhiệm pháp lý với hành vi mà pháp nhân gây ra…

>>Sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Bộ luật Hình sự: Những đề xuất mới tiếp tục gây tranh luận

Trong quá trình sửa đổi Bộ luật Hình sự (BLHS) hiện nay, có nhiều ý kiến tranh luận xung quanh chế định trách nhiệm hình sự (TNHS) của pháp nhân.

Hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của nhiều pháp nhân

Tháng 9/2008, Công ty Vedan bị cảnh sát môi trường phát hiện xả nước thải chui ra sông Thị Vải trong nhiều năm gây bức xúc trong dư luận. Kết quả khảo sát của Viện Môi trường và Tài nguyên TP HCM cho thấy, mức độ ô nhiễm sông Thị Vải do Công ty Vedan gây ra chiếm 80-90%, phần còn lại là của doanh nghiệp khác trong khu vực. Bán kính vùng ô nhiễm do Công ty Vedan gây ra có phạm vi 10 km dọc bờ sông Thị Vải. Nước sông tại các vùng này bị ô nhiễm nặng nề, nước có màu đen hôi, cá chết hàng loạt… Về thiệt hại, Báo cáo của Viện Tài nguyên và Môi trường, gần 2.700 ha nuôi trồng thủy sản của khu vực này bị thiệt hại. Tỉnh Đồng Nai có hơn 2.100 ha nuôi trồng thủy sản bị tàn phá bởi nước ô nhiễm, còn TP HCM và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng bị ảnh hưởng gần 600 ha. Tuy nhiên, kết thúc vụ việc trách nhiệm pháp lý của Vedan chỉ dừng lại là trách nhiệm dân sự tức là bồi thường thiệt hại cho người dân và trách nhiệm hành chính với cơ quan nhà nước.

  Nhiều pháp nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa bị xử lý hình sự (Trong ảnh là cống nước thải mà Vedan từng xả trực tiếp ra môi trường)

Nhiều pháp nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa bị xử lý hình sự (Trong ảnh là cống nước thải mà Vedan từng xả trực tiếp ra môi trường)

 

Một vụ việc nghiêm trọng khác từng làm bàng hoàng dư luận cũng do pháp nhân gây ra đó là vụ Nicotex Thanh Hóa gây ô nhiễm môi trường. Trong khuôn viên xưởng sản xuất của Công ty CP Nicotex Thanh Thái có tổng số 10 hố chôn chất thải. Trong đó, ông Nguyễn Đức Việt (Giám đốc Cty giai đoạn 1998-11/2005) khai nhận, năm 2000 chỉ đạo chôn 380 kg thuốc bảo vệ thực vật quá hạn trong bể xi măng. Cũng tại vị trí đó, năm 2001, ông Việt chỉ đạo chôn lấp 10 phuy chất Methemedofor với khối lượng 1.000kg. Ngoài ra, các lãnh đạo khác trong công ty này còn chôn lấp khoảng 300-400 kg vỏ chai nhựa đựng thuốc bảo vệ thực vật, cặn bùn thải phát sinh trong quá trình xử lý nước thải… Việc chôn lấp chất thải đến năm 2009 thì dừng hẳn. Công an tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Tài nguyên và Môi trường đã lấy 13 mẫu vật môi trường đi kiểm tra và kết luận Cty CP Nicotex Thanh Thái là cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Hậu quả mà Nicotex Thanh Thái gây ra cho người dân vô cùng nghiêm trọng. Theo báo cáo xung quanh khu vực này có 142 người mắc bệnh ung thư, 160 người mắc các bệnh viêm đường hô hấp, 223 người mắc bệnh thần kinh, 127 người mắc bệnh liên quan đến thai nghén, 115 người mắc bệnh tiêu hóa, 56 người mắc bệnh về mắt…, trong đó có 162 người đã chết. Với hàng loạt vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, nhưng Công ty CP Nicotex Thanh Thái (Thanh Hóa) chỉ bị xử phạt hành chính hơn 420 triệu đồng, bị đình chỉ hoạt động để khắc phục hậu quả.

Công ty TNHH Nhà máy tàu biển Hyundai Vinashin cũng là một pháp nhân từng có hành vi vi phạm môi trường nghiêm trọng nhưng chỉ bị xử phạt hành chính rất nhẹ nhàng. Trong 6 tháng đầu năm 2008, công ty này đã thải ra 705,9 tấn rác thải nguy hại, trong đó có 196,6 tấn dầu thải và 509,2 tấn giẻ lau dầu thải. Công ty này đã chuyển cho các doanh nghiệp hợp đồng xử lý chất thải nguy hại xử lý được 586 tấn, số còn lại các doanh nghiệp đã tiếp nhận nhưng chưa xử lý. Điều đáng nói là số chất thải nguy hại mà Hyundai Vinashin báo cáo kể trên là không tính gần 200 tấn chất thải từ ụ sửa chữa tàu biển có xuất xứ từ Ukraine đang được sửa chữa tại nhà máy này. Trong đó có 60 tấn chất thải nguy hại mà Hyundai Vinashin đã cho vận chuyển để chôn trộm ở ngay sát đình làng và trường mẫu giáo của thôn Phú Thọ 3, xã Ninh Diêm, huyện Ninh Hòa mà cảnh sát môi trường Công an tỉnh Khánh Hòa phát hiện, ngăn chặn được. Những vi phạm của Hyundai Vinashin là cực kì nghiêm trọng, thế nhưng trách nhiệm pháp lý chỉ dừng lại… bị xử phạt hành chính.

Coca Cola là doanh nghiệp chiếm thị phần nước ngọt lớn nhất Việt Nam. Trong gần 20 năm đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam, Coca Cola liên tục báo lỗ. Điều này đã giúp Coca Cola tránh được việc đóng thuế cho nhà nước Việt Nam. Chỉ riêng năm 2010, hãng này đã báo cáo lỗ 188 tỷ đồng ở thị trường Việt Nam. Lũy kế, con số thua lỗ mà Coca Cola Việt Nam báo cáo lên tới 180 triệu đô trong thập kỷ vừa qua. Cho dù liên tục kêu lỗ, song, trong kế hoạch 3 năm tiếp theo của công ty này, Coca Cola vẫn dự kiến đầu tư thêm 300 triệu USD để mở rộng kinh doanh tại Việt Nam. Điều này khiến Coca Cola không tránh khỏi nghi án chuyển giá để trốn thuế. Người ta ước tính rằng tổng thuế trốn của Coca Cola trong 10 năm qua có thể đạt hàng nghìn tỷ đồng, bởi vì Coca Cola đang giữ thị phần nước uống lớn nhất tại Việt Nam với khối lượng rất lớn các sản phẩm tiêu thụ mỗi năm. Thế nhưng hành vi của Coca Cola không hề bị xử lý cả hành chính lẫn hình sự. Trách nhiệm pháp lý đặt ra với Coca Cola hiện nay vẫn bị bỏ lỏng, một phần do những lỗ hổng của pháp luật.

Truy cứu TNHS đối với pháp nhân sẽ nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu

Trao đổi với Pháp Lý xung quanh vấn đề này, Thạc sĩ Luật học Trần Đức Thìn (Giảng viên Bộ môn Luật hình sự, Đại học Luật Hà Nội) cho rằng: Tôi đồng ý với quan điểm cần phải truy cứu TNHS của pháp nhân nếu pháp nhân, tổ chức thực hiện tội phạm. Pháp nhân, trong hoạt động của mình có thể thực hiện hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội vì lợi ích chung của pháp nhân. Nếu không quy định TNHS đối với họ mà chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế về dân sự, hành chính… là không thỏa đáng vì các biện pháp đó không đủ mạnh để trừng phạt, răn đe và ngăn ngừa các vi phạm tiếp sau của họ!

Thạc sĩ Luật học Trần Đức Thìn cho rằng bổ sung TNHS đối với pháp nhân là cần thiết.
Thạc sĩ Luật học Trần Đức Thìn cho rằng bổ sung TNHS đối với pháp nhân
là cần thiết.

 

Việc quy định pháp nhân là chủ thể của tội phạm có một số ưu điểm như có thể áp dụng biện pháp cứng rắn hơn để trừng phạt tổ chức khi họ có hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội mà trong LHS quy định đó là tội phạm và các biện pháp cưỡng chế khác là không thỏa đáng; để ngăn ngừa các hành vi khác tương tự của tổ chức và răn đe các tổ chức khác; việc truy cứu TNHS và áp dụng hình phạt đối với pháp nhân phạm tội còn thể hiện nguyên tắc công bằng và bình đẳng bởi theo nguyên tắc này, mọi hành vi phạm tội đều phải bị xử lý, không thể có sự phân biệt đó là hành vi của cá nhân hay tổ chức; đồng thời truy cứu TNHS các tổ chức sẽ hiệu quả hơn trong việc thi hành hình phạt và bồi thường thiệt hại cho người bị hại bởi công tác hậu xét xử là thi hành án hình sự đã được quy định một cách rất nghiêm ngặt, cụ thể.

Tuy nhiên, việc truy cứu TNHS của pháp nhân cũng tồn tại một số vấn đề như có thể gây thiệt hại cho những thành viên của tổ chức hoàn toàn vô tội trong việc thực hiện tội phạm. Chẳng hạn, việc pháp nhân bị đình chỉ hoạt động dù là có thời hạn hay vĩnh viễn sẽ gây thiệt hại đến lợi ích của người lao động trong tổ chức.

Theo dự thảo BLHS (sửa đổi), hệ thống chế tài xử lý hình sự đối với pháp nhân phạm tội bao gồm: hình phạt chính (phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, tước quyền sử dụng giấy phép vĩnh viễn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn); hình phạt bổ sung (cấm kinh doanh,cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định; cấm huy động vốn; phạt tiền…) và các biện pháp tư pháp. Các chế tài này đều đã được quy định trong Luật xử lý vi phạm hành chính.

Có băn khoăn cho rằng việc truy cứu TNHS của pháp nhân chỉ mang tính hình thức, chứ bản chất vẫn là những biện pháp cưỡng chế hành chính… Với quan điểm này, Thạc sĩ Trần Đức Thìn cho hay: Hiểu như vậy là chưa đúng. Cần hiểu rằng các biện pháp hình phạt này chỉ giống với các biện pháp cưỡng chế hành chính ở hình thức thôi còn bản chất của nó là khác nhau. Các chế tài quy định trong dự thảo BLHS nghiêm khắc hơn rất nhiều so với các chế tài tương tự quy định trong Luật xử lý vi phạm hành chính. Tính chất nghiêm khắc của nó thể hiện ở chỗ pháp nhân phải chịu án tích. Án tích này sẽ là một “vết đen” khó tẩy trong hoạt động của pháp nhân.

Ông Thìn cũng cho rằng, truy cứu TNHS đối với pháp nhân sẽ góp phần hạn chế thực trạng vi phạm pháp luật của pháp nhân thông qua việc nâng cao ý thức trách nhiệm của người đứng đầu. Bởi mặc dù pháp nhân hoạt động độc lập và nhân danh mình tham gia các quan hệ xã hội nhưng pháp nhân tồn tại thông qua hoạt động của người đại diện, người đứng đầu. Do đó, chắc chắn việc quy TNHS cho pháp nhân sẽ tác động lớn đến ý thức, trách nhiệm khi đại diện pháp nhân tham gia các quan hệ pháp luật. Từ đó, các cá nhân này sẽ hạn chế tối đa các hành vi phạm tội.

Theo các nguyên tắc của BLHS, TNHS là sự cá thể hóa và chỉ đặt ra khi chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật có lỗi. Có không ít băn khoăn cho rằng việc truy cứu TNHS pháp nhân mâu thuẫn với nguyên tắc này… Ông Thìn cho rằng: Trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, hoạt động của một số công ty (pháp nhân, tổ chức) bên cạnh việc mang đến những lợi ích cho sự phát triển của xã hội thì còn gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội. Nhằm đạt được lợi nhuận cao, vì lợi ích của công ty hay của một nhóm người nhất định mà nhiều công ty, nhiều doanh nghiệp, nhiều tập đoàn kinh tế đã có những hoạt động gây thiệt hại không chỉ về mặt vật chất, mà còn thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe của con người. Hành vi của các cá nhân trong trường hợp này được thực hiện chủ yếu là nhân danh pháp nhân, tổ chức, thay mặt pháp nhân, tổ chức hoặc vì lợi ích của pháp nhân, tổ chức; chứ không hoàn toàn vì lợi ích cá nhân. Tuy vậy, pháp nhân hoạt động thông qua người đại diện. Do đó, lỗi của pháp nhân cần được xác định trên cơ sở lỗi của người đại diện, người đứng đầu pháp nhân.

Đồng thời việc truy cứu TNHS pháp nhân có khả thi hay không, phụ thuộc nhiều yếu tố trong đó sự đồng bộ của các VBPL là một yếu tố quan trọng. Khi có quy định về TNHS của pháp nhân thì trong luật TTHS cần có thêm một chương về các thủ tục phải áp dụng đối với pháp nhân phạm tội.

Luật sư Nguyễn An băn khoăn khi thể chế TNHS với pháp nhân. "Nếu pháp nhân là cơ quan nhà nước thì sao?" Luật sư này đặt câu hỏi
Luật sư Nguyễn An băn khoăn khi thể chế TNHS với pháp nhân. “Nếu pháp nhân là cơ quan nhà nước thì sao?” Luật sư này đặt câu hỏi

 

Có cùng quan điểm đồng tình với việc truy cứu TNHS với pháp nhân, một luật sư của Đoàn luật sư thành phố Hà Nội chia sẻ: Điều 84 về “Pháp nhân” của Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: Được thành lập hợp pháp; Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập”. Tôi cho rằng pháp nhân có quyền và có tài sản chính vì vậy phải chịu trách nhiệm pháp lý là lẽ đương nhiên. Ở Việt Nam, pháp nhân đã phải chịu trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính và trên thực tế hiện nay, có nhiều pháp nhân có hành vi nguy hiểm cho xã hội, đến mức tội phạm… nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Pháp nhân là một chủ thể trìu tượng, pháp nhân không thể tự mình thực hiện hành vi tội phạm mà thông qua những cá nhân để thực hiện hoặc ý định thực hiện tội phạm là do các cá nhân cộng lại (có thể là một hội đồng quản trị, một tập thể). Pháp nhân có thể thực hiện tội phạm thì cũng có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Bởi vậy việc truy cứu trách nhiệm hình sự với pháp nhân là cần thiết, thể hiện nguyên tắc công bằng và bình đẳng, nguyên tắc mọi hành vi phạm tội không thoát khỏi việc chịu trách nhiệm hình sự. Ngoài ra, tôi cho rằng, việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân có thể nâng cao trách nhiệm của người đại diện của pháp nhân trước mỗi quyết định của pháp nhân.

Đồng thời truy cứu TNHS của pháp nhân sẽ bảo đảm sự tương thích của hệ thống pháp luật nước ta với pháp luật quốc tế bởi trên thế giới đã có nhiều nước truy cứu TNHS pháp nhân. Có nhiều ý kiến băn khoăn rằng việc truy cứu TNHS pháp nhân sẽ được thể chế như thế nào (từ hành vi đến chế tài là hình phạt)… Trong hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam, tôi nghĩ chúng ta cần nghiên cứu kĩ lưỡng và học tập kinh nghiệm của các nước đã có quy định này.

Pháp nhân là đơn vị nhà nước thì tính sao?

Đồng tình và cho rằng cần thiết phải truy cứu TNHS của pháp nhân nhưng ông Thìn cũng chỉ ra không ít những băn khoăn như: Việc xử lý hình sự pháp nhân sẽ ảnh hưởng không ít đến quyền, lợi ích của người vô tội. Bên cạnh đó, trường hợp pháp nhân là cơ quan Nhà nước, hành vi phạm tội xuất phát từ mục tiêu đem lại lợi ích công cho công dân thì công tác xử lý hình sự đối với chủ thể này cũng sẽ gặp không ít khó khăn.

Trao đổi với chúng tôi, có không ít ý kiến băn khoăn về việc thể chế quy định TNHS của pháp nhân. Luật sư Nguyễn An (Đoàn luật sư thành phố Hà Nội) cho rằng: Trong thời gian vừa qua, có nhiều vụ do doanh nghiệp gây ra để lại hậu quả lớn cho xã hội. Nhiều ý kiến cho rằng cần truy cứu TNHS mới thỏa đáng… Thế nhưng nếu nhìn lại các hành vi, hành động đó thì đều do chủ ý của con người. Cụ thể, trong vụ Vedan làm hỏng môi trường sông Thị Vải thì do chủ ý của người điều hành doanh nghiệp gây ra, ngoài ra còn phải truy trách nhiệm ở nhiều cơ quan quản lý nhà nước nữa (Ban quản lý khu công nghiệp, Cảnh sát môi trường và các sở ban ngành quản lý trực thuộc chuyên môn)… Vậy có những trường hợp nếu truy cứu TNHS của pháp nhân thì ngoài người điều hành doanh nghiệp sẽ kéo theo nhiều cơ quan quản lý nhà nước nữa. Tuy nhiên vấn đề này rất khó thể chế… và chưa phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Do vậy quan điểm của tôi là không đồng tình việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân trong những trường hợp này.

Thế nhưng, làm thế nào để thỏa đáng trong việc xử lý pháp nhân vi phạm pháp luật nghiêm trọng? Luật sư Nguyễn An cho rằng: Mặc dù từ trước đến nay chưa có việc pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng trên thực tế vẫn có việc phân tách trách nhiệm làm sai gây hậu quả nghiêm trọng của cá nhân trong doanh nghiệp. Ta chỉ cần quy định chế tài nghiêm khắc, rõ ràng đối với cá nhân điều hành pháp nhân là có thể giải quyết được băn khoăn trên.

Nhóm Phóng viên chuyên mục TCSĐNT (thực hiện)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *