Mô hình cơ quan độc lập chống tham nhũng ở một số nước Châu Á

(Pháp lý) – Nạn tham nhũng vẫn đang hoành hành tại nhiều quốc gia, làm biến dạng các quan hệ kinh tế, làm xói mòn đạo đức xã hội, làm suy đồi văn hóa dân tộc và tha hóa hệ thống chính trị. Tham nhũng đến mức độ nghiêm trọng sẽ triệt thoái niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Nhà nước và Đảng cầm quyền. Trước tình hình đó, nhiều quốc gia đã thành lập cơ quan chuyên trách chống tham nhũng độc lập với các cơ quan quản lý nhà nước, có quyền hạn lớn, được tổ chức và chỉ đạo tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương.

Ủy ban chống tham nhũng Malaysia (MACC)

Nằm ở vị trí trung tâm và nhạy cảm nhất của khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, là thành viên quan trọng của ASEAN, Malaysia đang ngày càng chứng tỏ được vị thế cũng như những tiềm năng của mình ở mọi mặt: kinh tế, văn hóa, chính trị. Trong công tác phòng, chống tham nhũng, Malaysia cũng có những nét rất riêng khi đã trải qua một chặng đường dài trong cuộc chiến chống tham nhũng. Cùng với sự phát triển của đất nước, sự thay đổi của hệ thống chính trị, từ năm 2009 đến nay, cơ quan chống tham nhũng của Malaysia chính thức mang tên “Ủy ban chống tham nhũng Malaysia”, chịu sự giám sát của Quốc hội và người đứng đầu Ủy ban do Quốc Vương bổ nhiệm. Với cơ cấu tổ chức một Chủ tịch, 03 Phó Chủ tịch, MACC có 15 ban và 04 bộ phận phụ trách những khu vực rộng trên đất nước Malaysia. Để phát huy tính tổng hợp của cộng đồng vào công tác phòng, chống tham nhũng, MACC đã thành lập 05 bộ phận độc lập, hoạt động chuyên sâu trên các lĩnh vực: chống tham nhũng; điều tra đặc biệt về tham nhũng; giải quyết khiếu nại, tố cáo; đào tạo, xem xét hoạt động của Ủy ban và tư vấn, định hướng phòng ngừa tham nhũng. Có quyền điều tra độc lập, hoạt động không bị chi phối bởi bất kỳ tổ chức nào là một trong những điều kiện tối ưu tạo hiệu quả họat động của MACC. Đồng thời, tất cả những đối tượng có dấu hiệu vi phạm tham nhũng đều được công bố công khai trên trang web của MACC. Việc công bố hình ảnh của những kẻ tham nhũng có tác dụng rất lớn trong cuộc chiến chống tham nhũng bởi vì danh dự của con người là rất quan trọng và điều đó có tác dụng răn đe rất lớn.

Song song với những hoạt động chuyên môn về điều tra, xử lý, hoạch địch chiến lược hành động, công tác đào tạo được MACC rất chú trọng. Không chỉ đầu tư về việc đào tạo đội ngũ cán bộ mới, việc củng cố, tăng cường nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ điều tra viên, đội ngũ nhân viên của MACC được tổ chức thường xuyên và việc định hướng, xây dựng ý thức cho toàn thể đội ngũ công chức nhà nước, giới luật sư, giới kinh doanh là nhiệm vụ thường xuyên của Bộ phận phụ trách giáo dục, đào tạo của MACC. Nơi đào tạo, giáo dục được trang bị hiện đại, tạo điều kiện tốt nhất trong học tập, rèn luyện.

Chính từ sự thay đổi tổng thể, trong ý thức và hành động, năm 2012, chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI) của tổ chức Minh bạch Quốc tế cho thấy xếp hạng toàn cầu của Malaysia đã được cải thiện từ vị trí 60 lên vị trí 54. Đó là nỗ lực đấu tranh chống tham nhũng của chính phủ Malaysia mà chúng ta có thể nghiên cứu, học hỏi.

Cơ quan điều tra chống tham nhũng Singapore (CTN)

Phó Giám đốc Cơ quan CTN Singapore, ông Koh Teck Hin, khẳng định rằng luật nghiêm khắc mà thực thi yếu kém thì tham nhũng vẫn sẽ sinh sôi, giống như có kế hoạch tác chiến hoàn hảo mà quân đội thì lại kém cỏi. Do đó, dứt khoát phải chú trọng việc xây dựng một cơ quan “thay trời hành luật” thật hiệu quả. Ở Singapore, cơ quan CTN là lực lượng duy nhất có quyền điều tra tham nhũng, độc lập hoàn toàn với cảnh sát. Bất kỳ cơ quan hành pháp nào khác, cho dù tình cờ phát hiện hoặc nhận được đơn thư tố cáo tham nhũng, đều phải giao vụ việc lại cho cơ quan CTN.

Cơ quan CTN có quyền điều tra bất kỳ cá nhân, công ty nào trong khu vực công hoặc tư, cho dù ở cấp bậc cao đến đâu chăng nữa. Cơ quan CTN báo cáo trực tiếp lên thủ tướng, ngoài ra không chịu sự can thiệp từ bất kỳ đâu. Bản thân thủ tướng cũng chịu một sự ràng buộc nhất định trong quan hệ với cơ quan CTN và tổng thống: Tính độc lập của cơ quan CTN đã được quy định tại Hiến pháp Singapore, theo đó tổng thống có quyền yêu cầu cơ quan CTN tiếp tục điều tra bất kỳ bộ trưởng hay quan chức cấp cao nào ngay cả khi thủ tướng không đồng ý.

Tổ chức của cơ quan CTN có thứ bậc rất chặt chẽ. Ở vị trí cao nhất là chủ tịch, người nhận tất cả báo cáo, khiếu nại, tố cáo và ra quyết định cuối cùng về việc cơ quan CTN có bắt tay vào điều tra một vụ việc cụ thể nào hay không. Dưới chủ tịch là giám đốc, phó giám đốc, trợ lý giám đốc và các nhân viên điều tra đặc biệt. Cơ quan này ngày nay có khoảng 100 nhân sự, so với con số năm nhân sự khi được thành lập năm 1952. Chức năng khá hẹp của cơ quan CTN (chỉ chuyên vào chống tham nhũng) khiến cho nó có ít người và tỉ lệ các vụ việc điều tra thành công, đưa đến khởi tố là khá cao.

Ủy ban diệt trừ tham nhũng tại Indonesia (KPK)

Tham nhũng trở thành vấn đề nghiêm trọng nhất tại Indonesia, đặc biệt sau thời kỳ cầm quyền của Tổng thống Suharto, người chỉ chịu rời nhiệm sở vào năm 1998, sau 32 năm tại vị. Các nỗ lực nhằm giải cứu đất nước này khỏi nạn tham nhũng đã đạt được hiệu quả bước đầu vào năm 2002, khi Quốc hội thông qua đạo luật thành lập Ủy ban diệt trừ tham nhũng (KPK), cùng với thiết chế tòa án khu vực về tham nhũng.

Kể từ đó tới nay, KPK đã đưa 68 nghị sĩ, 10 bộ trưởng, hàng loạt cảnh sát và doanh nhân đầy thế lực của nước này vào tù. Ủy ban này hoạt động hiệu quả đến mức nó ngày càng bị cô lập bởi các cơ quan khác của chính quyền.

Các chiến dịch chống tham nhũng của KPK sẽ không thể giành được kết quả như vậy, nếu không có một tòa án đặc trách về tham nhũng được thiết lập. Đây là một tòa án đặt tại trung tâm Jakarta, vốn được phép thành lập trong cùng một đạo luật năm 2002 với KPK và trở thành công cụ rất hiệu quả để đưa các quan chức tham nhũng vào tù.

Cho đến năm 2009, 100% số các vụ án tham nhũng được KPK chuyển sang tòa án này đều được kết án và mức án tù trung bình mà các bị cáo nhận được là bốn năm. Con số này cao hơn hẳn so với tỉ lệ kết án chỉ 38% so với cùng kỳ của hệ thống tòa án thông thường. Sự ưu việt này của tòa án về xét xử tham nhũng có được do hệ thống chứng cứ rất đầy đủ do KPK cung cấp, cùng với các thẩm phán được tuyển chọn từ các học giả có uy tín hoặc những người không có lợi ích liên quan đến vụ án nhằm đảm bảo tính độc lập và khách quan.

Tương tự KPK, tòa án đặc trách về tham nhũng cũng đứng trước các nguy cơ bị xóa sổ bởi các nhóm lợi ích khác nhau. Trên thực tế, nó đã từng bị Tòa án Hiến pháp xóa bỏ vào năm 2006 với lý do không thể tồn tại hai hệ thống tòa án khác nhau trong cùng một hệ thống tư pháp. Nó chỉ trở lại vào năm 2009, sau khi một đạo luật khác được Quốc hội thông qua, buộc Tòa án Tối cao phải thiết lập lại các tòa án chuyên trách về xét xử tham nhũng. Tuy vậy, cũng phải đến năm 2011, việc thiết lập này mới được triển khai trên thực tế.

Ủy ban diệt trừ tham nhũng (KPK có thể được xem như một “siêu cơ quan” có khả năng thanh toán nạn tham nhũng; thực hiện các nhiệm vụ và thẩm quyền một cách độc lập và không chịu sự tác động của các nhánh quyền lực: Lập pháp, hành pháp hay tư pháp. Hơn nữa, KPK còn có nhiệm vụ điều hành hoạt động phòng ngừa tham nhũng của các cơ quan nhà nước và điều phối những cơ quan đó chung sức trong cuộc chiến chống tham nhũng.

Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Trung Quốc

Nhìn từ bên ngoài, người ta không thể tưởng tượng được rằng bên trong tòa nhà lớn màu be không có biển hiệu nằm cạnh một con phố đông đúc ở trung tâm thủ đô Bắc Kinh lại là trụ sở của một cơ quan bí mật và đáng sợ nhất của Trung Quốc trong công cuộc đấu tranh chống tham nhũng.

Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Trung Quốc được thành lập từ năm 1927 với mục đích đấu tranh chống tham nhũng trong đảng. Tuy nhiên trong suốt thời gian tồn tại của mình, các cuộc điều tra của ủy ban này phần nhiều chỉ mang tính hình thức để xử lý, khai trừ những đảng viên cấp thấp hoặc các quan chức cấp cao bị thua to trong các cuộc đấu đá quyền lực.

Kể từ khi Chủ tịch Tập Cận Bình lên nắm quyền, nó đã trở thành vũ khí chính của ông trong chiến dịch chống tham nhũng quy mô lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc hiện đại. Và Ủy ban Kiểm tra đã thể hiện được vai trò quyền lực của mình trong việc bủa lưới vây bắt và tóm gọn con hổ to nhất từ trước tới nay mang tên Chu Vĩnh Khang hay những quan chức chức cao vọng trọng ở trung ương và địa phương.

Ủy ban này có quyền lực hơn nhiều so với các cơ quan của Mỹ như FBI, Bộ Tài chính, và nó cũng mang đậm màu sắc chính trị hơn. Hoạt động của Ủy ban Kiểm tra hoàn toàn nằm ngoài phạm vi của hệ thống pháp luật, và bản thân nó đóng vai trò như một cơ chế thi hành luật pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP). Các điều tra viên của ủy ban không cần lệnh của tòa án để thực hiện khám xét thu thập bằng chứng. Họ có quyền triệu tập bất cứ đảng viên nào trong suốt nhiều tháng trời để thẩm vấn, và quy trình đáng sợ này thường được gọi là song quy – quy định đôi. Theo quy trình “song quy” này, cơ quan điều tra của đảng có quyền chỉ định cả thời gian và địa điểm để thẩm vấn các đảng viên bị nghi ngờ dính dáng đến tham nhũng và các hành vi vi phạm khác.

Song quy được chính phủ Trung Quốc đưa ra lần đầu vào năm 1990 và dần dần được các cơ quan kiểm tra kỷ luật của Đảng Cộng sản Trung Quốc áp dụng trong nhiều nghi án tham nhũng.

Theo quy định của pháp luật, các sở công an Trung Quốc chỉ được tạm giữ người bị tình nghi tối đa 24 giờ, nên các quan tham có cơ hội hủy bằng chứng hoặc mua chuộc nhân chứng. Trong khi đó, hệ thống “song quy” của Trung Quốc không chịu bất cứ sự giám sát nào của các cơ quan tư pháp và cũng không bị điều chỉnh bởi quy định nào của pháp luật, các quan chức bị triệu tập đến cơ sở song quy lại không xác định thời hạn, vì vậy sự ra đời của song quy được nhiều người hoan nghênh.

Thu Thủy (tổng hợp)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *