Tăng cường giám sát thực hiện chính sách, Pháp luật về BHXH, BHYT để đảm bảo chế độ, quyền lợi cho NLD

(Pháp lý) – Quan điểm, đường lối xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta là giải quyết tốt các vấn đề xã hội để phát triển bền vững đất nước. Trong đó, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực liên quan đến sự phát triển của con người, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe người lao động (NLĐ) và nhân dân, bảo đảm phúc lợi xã hội và an sinh xã hội. Do đó việc giám sát về BHXH nhằm đảm bảo công bằng xã hội, an sinh xã hội đòi hỏi Nhà nước thực hiện chính sách hiệu quả, bảo đảm quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân theo quy định của Hiến pháp.

 TS. Bùi Sỹ Lợi

TS. Bùi Sỹ Lợi

Trên cơ cở giám sát chính sách pháp luật về BHXH, BHYT hàng năm cho thấy, chỉ tiêu phát triển đối tượng, dự toán thu BHXH, BHYT được giao năm sau cao hơn năm trước đã góp phần tăng diện bao phủ BHYT lên 85,6%/năm vào năm 2017, tốc độ phát triển đối tượng tham gia BHXH tăng bình quân 5,8%, giảm nợ đọng từ mức 4,8% năm 2015 xuống còn dưới 3% so với kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao năm 2017; ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lý và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính (TTHC) được đặc biệt quan tâm, một số dự án CNTT đưa vào sử dụng đã phát huy hiệu quả như: đã cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 đối với 14 TTHC; Trung tâm điều hành hệ thống CNTT và Trung tâm dịch vụ khách hàng tiếp nhận thông tin 2 chiều giữa BHXH VN và người dân; hệ thống thông tin giám định BHYT đã giảm chi phí KCB BHYT gần 4.800 tỷ đồng so với kế hoạch…; Đến hết năm 2017 đã cắt giảm được 115 thủ tục hành chính và giảm được 284 giờ giao dịch về BHXH của một doanh nghiệp, theo đánh giá của Ngân hàng thế giới tại Báo cáo môi trường kinh doanh toàn cầu năm 2018 về mức độ thuận lợi trong môi trường kinh doanh chỉ số nộp thuế, BHXH của Việt Nam xếp thứ 86/190, tăng 81 bậc so với Báo cáo 2016; tổ chức đấu thầu thuốc tập trung quốc gia đối với 21 mặt hàng thuốc sử dụng trong lĩnh vực BHYT năm 2018, giảm 252,92 tỷ đồng (21,1%) so với giá thuốc trúng thầu của các Sở Y tế, các bệnh viện trên toàn quốc năm 2017; Tổ chức chi trả đầy đủ, kịp thời các chế độ BHXH cho người hưởng không xảy ra rủi ro mất tiền trong chi trả; Đầu tư tăng trưởng Quỹ BHXH bảo đảm an toàn và hiệu quả, lãi suất đầu tư bình quân đạt 7,25% cao hơn chỉ số CPI và mức tăng trưởng kinh tế.

Một số thách thức đối với chính sách BHXH, BHYT

Về chính sách BHXH:

Thứ nhất, theo dự báo của Tổ chức lao động quốc tế, với các chính sách BHXH như hiện hành thì đến năm 2021, mức thu của nước ta sẽ không đủ để chi trong năm; đến năm 2034, phần kết dư không còn, số chi lớn hơn rất nhiều so với số thu, quỹ sẽ bị mất cân đối. Quỹ hưu trí và tử tuất đang đối mặt với nguy cơ mất cân đối trong tương lai gần. Hiện nay, khi chỉ số giá tăng, mức thu nhập bình quân tăng, cũng như mức lương trung bình tăng, dẫn đến mức thụ hưởng hưu trí cũng tăng. Trong khi đó số đối tượng tham gia BHXH chỉ tăng bình quân khoảng 1%/năm, do đó gánh nặng quỹ ngày một tăng.

Thứ hai, mục tiêu đến năm 2020, số đối tượng tham gia BHXH chiếm 50% lực lượng lao động, tương đương với gần 29 triệu lao động theo Nghị quyết số 21 ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị là không khả thi là một thách thức rất lớn.

Thứ ba, công thức tính lương hưu ở nước ta chưa hợp lý. Hiện nay ở các nước trên thế giới, mức hưởng lương hưu trung bình không quá 60%. Theo thống kê số liệu của OECD năm 2014, khối OECD trung bình mức hưởng chỉ khoảng 60%. Hàn Quốc 45%, Nhật Bản 40%, trong khi đó mức hưởng lương hưu hiện nay của Việt Nam tối đa 75% là quá cao so với mức đóng góp của NLĐ.

Thứ tư, tình hình nợ và trốn đóng BHXH vẫn ở mức cao. Tính đến hết ngày 31/12/2017, số nợ BHXH bắt buộc là 5.737 tỷ đồng, bằng 2,9%, giảm 0,8% so với tỷ lệ nợ năm 2016, nợ BHTN là 236 tỷ đồng, chiếm 1,7% so với số phải thu (giảm 0,8% so với năm 2016). Mặc dù đã có nhiều biện pháp tăng cường thanh tra, kiểm tra cũng như tăng chế tài xử lý nhưng tình trạng này vẫn chưa được khắc phục.

Thứ năm, gần đây NLĐ có xu hướng muốn nhận BHXH một lần thay vì bảo lưu để sau này nhận lương hưu theo chế độ (năm 2017 có 666 ngàn người hưởng BHXH một lần). Điều này đi ngược với xu hướng của an sinh xã hội vì mục tiêu của BHXH hưu trí là nhằm bảo đảm quyền lợi cho đối tượng ngay trong quá trình lao động và đến khi không còn khả năng lao động được hưởng lương hưu, BHYT để đảm bảo cuộc sống về già.

Thứ sáu, các quỹ bảo hiểm ngắn hạn kết dư cao. Nguyên nhân chủ yếu là do có độ vênh của chính sách và thực tế triển khai thực hiện, như vậy quỹ bảo hiểm ngắn hạn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của người lao động. Đối với chính sách BHTN vẫn chưa hướng đến mục tiêu hỗ trợ đào tạo nghề, tư vấn việc làm mà mới chủ yếu thực hiện chi trả trợ cấp thất nghiệp; NLĐ mất việc làm hưởng chính sách thất nghiệp, tham gia học nghề còn rất thấp (khoảng 5-6% số người thất nghiệp). Bảo hiểm TNLĐ, BNN chưa hướng được đến phòng ngừa rủi ro, bảo đảm ATVSLĐ cho NLĐ tại nơi làm việc, mới chỉ tập trung vào chi trả trợ cấp.

Cuối cùng, thời kỳ dân số vàng đồng thời với xu hướng già hóa dân số tăng nhanh tạo ra sức ép đối với giải quyết việc làm. Hệ quả của xu hướng này chính là sự gia tăng nhu cầu việc làm của người cao tuổi, nhu cầu chăm sóc y tế và bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi trong tương lai.

Về chính sách BHYT:

Thứ nhất, dù mục tiêu là bao phủ toàn dân, nhưng đến nay vẫn còn khoảng gần 14% dân số chưa tham gia BHYT và để duy trì được số đối tượng tham gia BHYT cũng là một vấn đề đáng quan tâm; do đó, việc thực hiện BHYT toàn dân đang là một thách thức rất lớn.

Thứ hai, chất lượng KCB tại tuyến cơ sở còn nhiều hạn chế, đội ngũ y bác sỹ ở các tuyến xã, huyện còn thiếu nên việc nâng cao chất lượng KCB là một vấn đề thách thức cho cơ quan y tế.

Thứ ba, vấn đề lạm dụng quỹ BHYT là sự bất cập do nhiều nguyên nhân như: phát trùng thẻ BHYT, một số bệnh viện kê khống, lập bệnh án khống. Bệnh nhân đã ra viện vẫn chỉ định thuốc, dịch vụ kỹ thuật để bệnh nhân được mang thuốc về; tăng cường cho bệnh nhân nhập viện điều trị nội trú để lách Luật BHYT; chỉ định quá mức cần thiết, không phù hợp; thống kê sai, áp giá sai để thanh toán BHYT mức giá cao hơn; nhân viên y tế chỉ định khám, chữa bệnh không đủ điều kiện hành nghề; đặc biệt là lạm dụng chỉ định các máy móc xã hội hóa…Thống kê của BHXH Việt Nam cho biết, năm 2016 có 45/63 tỉnh, thành phố bội chi quỹ khám chữa bệnh với số tiền 5.500 tỷ đồng, trong đó có 9 tỉnh, thành phố có số tiền vượt quỹ lớn hơn 200 tỷ đồng.

Thứ tư, việc thực hiện đồng bộ lộ trình BHYT toàn dân với lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế, lộ trình chuyển từ chi trực tiếp cho cơ sở y tế sang hỗ trợ cho người dân và lộ trình xây dựng cơ chế tự chủ đối với các cơ sở y tế; xây dựng gói dịch vụ y tế cơ bản do quỹ BHYT chi trả phù hợp điều kiện KT-XH; thực hiện chính sách bảo hiểm y tế bắt buộc theo hộ gia đình; nâng cao chất lượng dịch vụ, đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, nhân lực y tế cho vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số là đòi hỏi cấp bách hiện nay đang trở thành thách thức lớn.

Báo chí góp phần tích cực giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH
Báo chí góp phần tích cực giám sát thực hiện chính sách, pháp luật về BHXH

Những vấn đề rút ra qua công tác giám sát thực hiện an sinh xã hội về BHXH, BHYT

Về chính sách BHXH, BHTN: Hiệu quả tuyên truyền chưa như mong muốn, đối tượng lao động lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và phi chính thức chưa được quan tâm đúng mức, do đó BHXH tự nguyện tăng chậm, thậm chí lại giảm sút. Vấn đề rút ra là cần gắn chặt hơn nữa công tác tuyên truyền với phát triển đối tượng, tránh dàn trải. Hiện nay công tác tuyên truyền mới chỉ tập trung lớn vào nhóm đã tham gia BHXH, BHTN, nhóm có hợp đồng lao động từ đủ 1 đến dưới 3 tháng chưa thấy thể hiện có những chuyên đề tuyên truyền riêng. Trong khi theo quy định của Luật BHXH thì từ 01/01/2018, nhóm này sẽ phải tham gia BHXH bắt buộc và rất cần phải tuyên truyền. Đây cũng là hạn chế trong công tác thông tin tuyên truyền do chưa thực sự sát đối tượng, hay nhóm đối tượng chưa tham gia hoặc có khả năng sẽ tham gia BHXH.

Dù độ bao phủ rộng nhưng chưa làm rõ cho NLĐ biết được quyền và nghĩa vụ khi tham gia BHXH. Văn bản hướng dẫn Luật BHXH vẫn còn một số nội dung chưa kịp thời, hoặc chưa đồng bộ, thống nhất dẫn đến khó khăn trong triển khai thực hiện.

Công tác thanh tra chưa tập trung vào nhóm doanh nghiệp, tổ chức sử dụng lao động có nguy cơ trốn đóng, nợ đọng. Việc xử lý vi phạm về BHXH chưa nghiêm khắc, tính răn đe chưa cao. Tình trạng không thống kê được chính xác số lượng doanh nghiệp và NLĐ thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc, BHTN, BHYT chưa được khắc phục; công tác khai trình lao động theo quy định của Bộ Luật lao động còn rất hạn chế, chưa có các giải pháp hiệu quả. Thực trạng hưởng BHXH một lần có xu hướng gia tăng là một bất lợi cho chính sách BHXH.

Việc khởi kiện ra Tòa án đối với hành vi vi phạm pháp luật về BHXH chưa được thực hiện gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ. Việc xử lý tiền nợ BHXH, BHYT, BHTN tồn đọng kéo dài (không có khả năng trả nợ) của các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động, giải thể, phá sản hoặc chủ bỏ trốn chưa có biện pháp xử lý, mặc dù đã có quy định (khoản 7, Điều 10 Luật BHXH).

Về BHTN, do việc ứng dụng CNTT, nối mạng giữa BHXH và Trung tâm dịch vụ việc làm tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa tốt, dẫn đến tình trạng NLĐ nhảy việc nhưng vẫn hưởng chính sách BHTN mặc dù vẫn đang có việc làm. Đặc biệt chính sách BHTN vẫn chủ yếu là chi trả trợ cấp thất nghiệp mà chưa quan tâm công tác đào tạo nghề để NLĐ quay lại thị trường lao động…

Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện còn rất chậm, cho đến nay số người tham gia BHXH tự nguyện cả nước mới chỉ có hơn 270 ngàn người, chiếm tỷ lệ rất thấp. Trong khi số lao động làm công ăn lương trong nền kinh tế khoảng 8,2 triệu người và khoảng 3 triệu lao động có quan hệ lao động nhưng làm việc theo thời vụ không giao kết HĐLĐ chưa được tham gia BHXH.

Về chính sách BHYT: Một số đối tượng mặc dù được NSNN đóng 100% nhưng chưa tham gia đủ 100% (Cựu chiến binh, thân nhân người có công, trẻ em dưới 6 tuổi, người sống tại khu vực khó khăn, đặc biệt khó khăn). Một số đối tượng được NSNN hỗ trợ đóng nhưng tỷ lệ tham gia BHYT thấp (2,2 triệu HSSV, người thuộc hộ gia đình cận nghèo, người thuộc hộ gia đình nông lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình).

Đối tượng là thân nhân, quân nhân do Bộ Quốc phòng quản lý chưa có quy định phối hợp với cơ quan BHXH để rà soát tình trạng cấp trùng thẻ. Tình trạng cấp trùng thẻ BHYT vẫn còn phổ biến, do việc áp dụng CNTT trong quản lý đối tượng chưa đồng đều.

Chưa có sự thống nhất, đồng bộ trong các văn bản quy định về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật, về giá dịch vụ y tế; những quy định về phân tuyến khám bệnh, chữa bệnh và phân hạng bệnh viện đã phần nào ảnh hưởng đến việc thực hiện thông suốt quy định về thông tuyến khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

Số lượng bệnh nhân đến khám bệnh, chữa bệnh tăng mạnh ở bệnh viện tuyến huyện (năm 2016 tăng 27,7% so với năm 2015), gây quá tải ở một số bệnh viện huyện nhưng cũng có tình trạng giảm mạnh số lượng khám, chữa bệnh tại một số bệnh viện tuyến huyện và các trạm y tế xã (tuyến xã giảm 14,1% so với năm 2015).

Các cơ sở khám, chữa bệnh ban đầu còn khó khăn trong chủ động kiểm soát khám bệnh, chữa bệnh của người đã đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu ở cơ sở mình cũng như chi phí và quỹ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế được khoán.

Công tác đánh giá, thống kê còn bất cập, chưa liên thông trong toàn hệ thống nên chưa đánh giá được chính xác tình hình thực hiện công tác khám, chữa bệnh trên phạm vi toàn quốc. Chất lượng công tác giám định việc thanh, quyết toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế chưa cao và còn tình trạng vừa phiền hà vừa sơ hở, dễ dẫn tới thất thoát.

Một số giải pháp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát chính sách an sinh xã hội về BHXH, BHYT

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát an sinh xã hội về BHXH, BHYT của cơ quan dân cử nói chung và Ủy ban về các vấn đề Xã hội nói riêng, có rất nhiều việc phải làm, từ nâng cao năng lực, trình độ đến bảo đảm các điều kiện cần thiết cho hoạt động giám sát của cơ quan dân cử, đại biểu dân cử, cụ thể:

Một là: Quán triệt đầy đủ tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về cải cách chính sách BHXH với mục tiêu tổng quát: Cải cách chính sách BHXH để BHXH thực sự là một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội, từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ BHXH, hướng tới mục tiêu BHXH toàn dân. Phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc đóng – hưởng, công bằng, bình đẳng, chia sẻ và bền vững. Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển hệ thống thực hiện chính sách BHXH tinh gọn, chuyên nghiệp, hiện đại, tin cậy và minh bạch.

Hai là: Bám sát đầy đủ các nội dung, quy định của Luật BHXH, Luật BHYT và các văn bản quy phạm quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật này để thường xuyên theo dõi (định kỳ hằng năm) hoặc khi có vấn đề phát sinh mới cần tổ chức khảo sát, giám sát.

Ba là: Nâng cao năng lực, chất lượng hoạt động bộ máy tham mưu, giúp việc theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, hiện đại để nâng cao chất lượng tham mưu tổng hợp. Trong đó công tác chuẩn bị nội dung và những vấn đề lớn, trọng tâm, trọng điểm cần được đặc biệt lưu ý, chuẩn bị kỹ càng cho các đại biểu trước khi tiến hành hoạt động giám sát. Tiến tới, trước mỗi nội dung giám sát cần xây dựng bộ công cụ (câu hỏi) chi tiết liên quan đến các nội dung giám sát để nâng cao hiệu quả và chất lượng giám sát.

Bốn là: Thực hiện linh hoạt các hình thức giám sát để bảo đảm tính kịp thời, hiệu quả, nhằm khắc phục các sai phạm để điều chỉnh kịp thời bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho NLĐ và nhân dân.

Năm là: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát thông qua áp dụng nguyên tắc giám sát phải đi đến cùng vấn đề trách nhiệm và giải pháp khắc phục hạn chế, gắn giám sát với chế tài thực hiện.

Như vậy, đối với các tỉnh, thành phố cần đưa chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH, BHTN trong Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội hằng năm, 5 năm tại địa phương để có giải pháp mở rộng nhanh đối tượng tham gia BHXH, BHTN làm cơ sở cho việc giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHTN trên địa bàn quản lý. Với tổ chức công đoàn thì cần có giải pháp thực hiện chức năng bảo vệ quyền lợi cho NLĐ theo quy định của pháp luật; xây dựng cơ chế phối hợp giữa Công đoàn và cơ quan BHXH các cấp, Thanh tra ngành lao động – Thương binh và xã hội quan tâm giải quyết các vụ án tranh chấp lao động về BHXH, tăng cường thực hiện trách nhiệm, vai trò đại diện bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của NLĐ tham gia BHXH để kịp thời phát hiện và kiến nghị xử lý các doanh nghiệp nợ lương, nợ BHXH của NLĐ theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản và Luật BHXH.

Tính đến hết năm 2017, tổng số đối tượng tham gia BHXH bắt buộc là 13.591.492 người (tăng 5,76% nhưng chỉ chiếm khoảng 24,8% lực lượng lao động).

Tính đến hết 2017 số người tham gia BHTN là 11.774.742 người (tăng 6,46% so với 2016)

TS. Bùi Sỹ Lợi
Phó Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *