Bài 7: Các quy định về đầu tư theo phương thức công tư: chồng chéo, thiếu thống nhất trong một số Luật

(Pháp lý) – Hoạt động đầu tư theo phương thức công tư được cho là cần thiết và cần khuyến khích trong bối cảnh hiện nay, tuy nhiên có không ít các quy định điều chỉnh lĩnh vực này ở trong một số Luật còn chồng chéo, cần tháo gỡ.

Một dự án PPP
Một dự án PPP

Quy định về đảm bảo đầu tư: Thiếu thống nhất với Luật Đất đai, Dân sự

Dự thảo Luật Đầu tư theo phương thức công tư (Luật PPP) tại điểm a, khoản 3 Điều 75 về bảo đảm đầu tư quy định: “Bảo đảm quyền thế chấp tài sản, quyền kinh doanh công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng”. Theo đó: a) Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP được thế chấp tài sản, quyền sử dụng đất và quyền kinh doanh công trình, hệ thống cơ sở hạ tầng tại bên cho vay theo quy định của pháp luật về đất đai và pháp luật về dân sự. Thời gian thế chấp không vượt quá thời hạn hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác tại hợp đồng.

Trên thực tế, Dự án PPP huy động vốn từ nhiều nhà đầu tư khác nhau, trong đó có cả vốn của nhà đầu tư nước ngoài. Để đảm bảo đầu tư, trên thực tế các nhà đầu tư nước ngoài thường thế chấp tài sản ở các ngân hàng, tổ chức tín dụng nước ngoài (cơ chế này tạo điều kiện cho nhà đầu tư huy động vốn, và có thêm các nguồn vốn khác nhau để nhà đầu tư đầu tư, đảm bảo sự đa dạng về vốn cho dự án PPP – PV).

Bên cho vay vốn cũng được đảm bảo quyền theo quy định tại Điều 48 dự thảo Luật PPP: “1. Bên cho vay có quyền tiếp nhận một phần hoặc toàn bộ các tài sản của nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP (sau đây gọi tắt là quyền tiếp nhận dự án) đã hình thành theo hợp đồng trong trường hợp nhà đầu tư hoặc doanh nghiệp dự án PPP không thực hiện được các nghĩa vụ quy định tại hợp đồng PPP hoặc hợp đồng vay vốn… 4. Đối với việc tiếp nhận tài sản bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm liên quan đến dự án của bên cho vay là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này và quy định của pháp luật ngân hàng, pháp luật về tài sản bảo đảm”.

Theo những dự thảo quy định trên của dự Luật PPP thì các dự án PPP cho phép thế chấp tài sản tại ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên, Luật Đất đai, Bộ Luật Dân sự lại không quy định rõ việc chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam được phép nhận thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Sự chưa thống nhất của các quy định này đang khiến nhà đầu tư và doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động vốn. Từ bất cập như đã phân tích trên, nhiều chuyên gia khuyến nghị các quy định về đảm bảo đầu tư nên theo quy định tại Luật PPP đang được trình Quốc hội, theo đó cho phép quyền được thế chấp quyền sử dụng đất trong các dự án PPP cho các đại lý nhận bảo đảm Việt Nam của các ngân hàng nước ngoài. Và quy định này sẽ được ưu tiên áp dụng so với quy định tại Luật Đất đai hiện không cho phép khả năng này (khả năng thế chấp tài sản tại ngân hàng nước ngoài – PV).

Quy định về giấy chứng nhận đăng ký đầu tư: Cần thống nhất giữa 3 Luật

Hiện nay, trong thời gian chờ Luật PPP được Quốc hội thảo luận và thông qua thì hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư được áp dụng theo Nghị định 63/2018/NĐ-CP ngày 4/5/2018. Theo quy định tại Nghị định này, sau khi nhà đầu tư được lựa chọn và phê duyệt, nhà đầu tư (bao gồm nhà đầu tư nước ngoài) của dự án có thể thành lập doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án. Nghị định 63 không quy định việc nhà đầu tư phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT). Mục đích của thay đổi này là để giúp các nhà đầu tư tránh khỏi việc “xin giấy phép hai lần”. Nhưng nếu không có GCNĐKĐT, nhà đầu tư và các doanh nghiệp dự án có thể gặp khó khăn trong việc xin các giấy phép quan trọng khác cho dự án và trong các hoạt động hàng ngày của dự án.

Các luật liên quan như Luật Doanh nghiệp và Luật Đất đai, có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định 63, quy định các nhà đầu tư nước ngoài phải nộp GCNĐKĐT để xin giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các doanh nghiệp dự án (đặc biệt là các Công ty có vốn đầu tư nước ngoài) cũng cần cung cấp bằng chứng cho ngân hàng hoặc bên thứ ba vì nhiều mục đích khác nhau, ví dụ như việc chuyển tiền ra nước ngoài. Việc doanh nghiệp dự án sẽ phải cung cấp cho các bên thứ ba này toàn bộ hợp đồng PPP để chứng minh quyền của mình trong các dự án PPP là không khả thi về mặt thương mại.

Về quy định này, nhóm công tác về Cơ sở hạ tầng của Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam đề xuất rằng Luật PPP mới nên quy định rằng nhà đầu tư sẽ được tự động cấp GCNĐKĐT sau khi hoàn tất việc đàm phán và ký tắt hợp đồng dự án. GCNĐKĐT là giấy phép quan trọng ghi nhận quyền của các nhà đầu tư đối với dự án.

Chỉ định thầu trong dự án PPP: Chưa thống nhất với Luật Đấu thầu

Hiện nay, Luật Đấu thầu quy định về chỉ định thầu được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

a) Gói thầu cần thực hiện để khắc phục ngay hoặc để xử lý kịp thời hậu quả gây ra do sự cố bất khả kháng; gói thầu cần thực hiện để bảo đảm bí mật nhà nước; gói thầu cần triển khai ngay để tránh gây nguy hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của cộng đồng dân cư trên địa bàn hoặc để không ảnh hưởng nghiêm trọng đến công trình liền kề; gói thầu mua thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế để triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh trong trường hợp cấp bách;

b) Gói thầu cấp bách cần triển khai nhằm mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia, biên giới quốc gia, hải đảo;

c) Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa phải mua từ nhà thầu đã thực hiện trước đó do phải bảo đảm tính tương thích về công nghệ, bản quyền mà không thể mua được từ nhà thầu khác; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm; mua bản quyền sở hữu trí tuệ;

d) Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế xây dựng được chỉ định cho tác giả của thiết kế kiến trúc công trình trúng tuyển hoặc được tuyển chọn khi tác giả có đủ điều kiện năng lực theo quy định; gói thầu thi công xây dựng tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng, tác phẩm nghệ thuật gắn với quyền tác giả từ khâu sáng tác đến thi công công trình;

đ) Gói thầu di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật do một đơn vị chuyên ngành trực tiếp quản lý để phục vụ công tác giải phóng mặt bằng; gói thầu rà phá bom, mìn, vật nổ để chuẩn bị mặt bằng thi công xây dựng công trình;

e) Gói thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, gói thầu có giá gói thầu trong hạn mức được áp dụng chỉ định thầu theo quy định của Chính phủ phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ.

Còn quy định chỉ định thầu trong dự Luật PPP tại Điều 31 về Hình thức, phương thức lựa chọn nhà đầu tư: “Chỉ định thầu: Việc lựa chọn nhà đầu tư theo hình thức chỉ định thầu được áp dụng đối với dự án có mục tiêu trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, bí mật nhà nước hoặc cần phải thực hiện ngay để bảo đảm tính liên tục trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ công”.

Khi quy định như vậy sẽ làm phát sinh 2 vấn đề: Bó hẹp lượng dự án được chỉ định thầu, làm hạn chế đầu tư. Mặt khác, ngoài quy định trên, Chính phủ lại cần một văn bản dưới luật khác để hướng dẫn thế nào là dự án có nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, bí mật nhà nước để tránh việc lạm dụng các quy định này.

Từ thực tế đó, kiến nghị thiết kế quy định này trong dự thảo Luật PPP càng cụ thể càng tốt. Ghi rõ các dự án đặc biệt để áp dụng chỉ định thầu. Để vừa nghiêm khắc, ngăn ngừa tiêu cực, vừa huy động thêm được vốn đầu tư vào dự án PPP.

Phan Tĩnh

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *