Những quan niệm về “công lý” ở thời kỳ cổ đại

(Pháp lý) – Công lý là một đối tượng của nhiều khoa học xã hội, trong đó phải kể đến xã hội học, luật học, nhân quyền… Tuy vậy, các công trình khoa học lấy công lý như một đối tượng nghiên cứu trực tiếp lại chưa có nhiều. Chúng ta chỉ có thể thấy một cách rải rác trong các tác phẩm của một số nhà khoa học có nhắc tới công lý như một phần liên quan đến vấn đề chính mà thôi. Nhưng như vậy không có nghĩa công lý là một khái niệm không phức tạp và dễ thống nhất.

Vậy, công lý xuất hiện ở thời cổ đại như thế nào được quan niệm như thế nào? Có nhiều bộ luật được soạn ra ở thời cổ đại như Đạo luật Solon (thế kỷ VI TCN), Luật 12 bảng của La Mã (thế kỷ V TCN) hay nhiều tác phẩm của hàng loạt các nhà tư tưởng, triết gia trong thời kỳ này đã có quan niệm về công lý. Bài viết sau đây của tác giả chỉ khảo sát đối với một số nhà tư tưởng chính có tính ảnh hưởng lớn và một số bộ luật mà trong đó, công lý được thể hiện rõ nét nhất.

Thật thiếu sót nếu đi tìm hiểu một định nghĩa chỉ ở nơi các nhà tư tưởng hay các triết gia lỗi lạc, đặc biệt ở giai đoạn này ở phương Tây. Bởi văn minh phương Tây thời cổ đại gắn liền với hệ thống các truyền thuyết, thần thoại mà ở đó thể hiện sự kiến giải vũ trụ, con người và những khát vọng của họ. Do đó, việc đi tìm quan niệm về công lý xuất phát từ các câu chuyện với sự tồn tại của các vị thần theo tín ngưỡng của người dân thời cổ đại lúc bấy giờ là một điều cần thiết.

Ai Cập cổ đại và hai vị thần đại diện cho công lý

  Bộ Luật Hammurabi của nền văn minh Lưỡng Hà

Bộ Luật Hammurabi của nền văn minh Lưỡng Hà

Theo truyền thyết, ở thời cổ đại của Hy Lạp, người con của Trời và Đất, nữ thần Thémis lấy Jupiter (Zeus) sinh ra các nữ thần Thời Khắc và ba nữ thần Se Tơ (Les Parques). Ngồi gần ngai vàng của Jupiter, Thémis tượng trưng cho Luật Pháp. Thémis tham dự các cuộc tranh luận của chư thần, làm cố vấn cho chư thần trong các dịp đó. Thémis thường chủ tọa các cuộc họp của thường nhân. Những thỏa hiệp kí kết giữa thường nhân đều được sự bảo trợ của Thémis. Thémis được tạc tượng một tay cầm cái cân và một tay mang cây kiếm, đôi khi mắt lại che kín để biểu lộ sự ngay thẳng công minh của phán quan.

Thuở đó, người Ai Cập cổ đại có 2 vị thần đại diện cho công lý, đó là nữ thần Isis và nữ thần Maats, có 2 đoạn nói về 2 vị thần này: Lời nữ thần Maat và Lời nữ thần Isis:

Lời nữ thần Maat: Ta là thần Maat, nữ chủ nhân của Phòng phân xử. Ta đứng trên bệ cao, bằng đơn vị đo chiều dài cubit của người thợ nên tất cả đều thắng tắp. Ta là người thẳng thắn. Ta là cây thước. Ta là thước thẳng, thước luật pháp. Ta là người duy trì luật pháp thần thánh vốn chính xác đến mức hoàn hảo và trí tuệ tuyệt đối. Ta là trật tự trong vũ trụ vốn tự thân là chân lý. Ta cầm quyền trường và ankh. Ta khoác bộ long chân lý màu trắng… Trên trái đất ta áp dụng luật đạo đức thông qua ngôi nhà lớn, peraa, pharaoh. Ta là công lý. Tất cả những người làm luật và ban hành luật pháp đều hành động nhân danh ta. Tất cả sẽ được thông qua Phòng của nữ thần Maat. Người chết sẽ đối mặt với 42 Viên hội thẩm, ta chỉ quan sát và chờ đợi, vì ta đánh giá tất cả bằng sự xem xét tình cảm thận trọng.

Lời nữ thần ISIS: Ta là nữ thần ISIS, người ta gọi ta là Ast… Ta đội mũ kên kên, tay cầm quyền trường bằng cói và ankh….Ta ban luật pháp cho con người, không một ai được quyền thay đổi….

Qua những hình tượng thần thoại kể trên, chúng ta có thể thấy được, dù ở các khu vực địa lý, nền văn minh khác nhau nhưng, công lý – ước vọng của con người luôn được thể hiện bởi sự nghiêm minh, khách quan của pháp luật. Ở đây, công lý dường như tách bạch khỏi công bằng, khi không có sự xuất hiện của bất kỳ một tầng lớp, hay một giai cấp nào cả. Nó chỉ là quan hệ giữa cái đúng – sai, cái thiện – ác và pháp luật – sự trừng phạt.

Công lý dưới góc nhìn của hai triết gia Platon và Aristotle

Trong nền văn minh Hy Lạp cổ đại, công lý được cho rằng bắt nguồn từ trật tự xã hội, một xã hội ổn định, có trật tự sẽ thúc đẩy sự phát triển của công lý và ngược lại, một nền công lý mạnh mẽ sẽ thúc đẩy một xã hội trật tự, ổn định. Platon, triết gia vĩ đại của Hy Lạp, người mà ảnh hưởng của ông được mô tả một cách tuyệt vời bởi nhà triết học thế kỷ 20 Alfred North Whitehead: “Nét đặc trưng chung rõ ràng nhất của truyền thống triết học châu Âu là nó bao gồm một chuỗi những phụ chú cho tác phẩm của Platon”, đã đưa những quan điểm, tư tưởng của mình về vấn đề công lý trong những tranh luận về vấn đề đạo đức và pháp luật, đặc biệt trong cuốn Luật pháp, tác phẩm cuối cùng còn dang dở trước khi ông qua đời.

Trong Quyển IV tác phẩm Luật pháp, khi bàn về cuộc sống đức hạnh, Platon cho rằng, công lý hay những nguyên tắc tôn giáo cùng những đạo đức đóng vai trò dẫn dắt cuộc sống của họ: “Này các bạn, Thượng đế, theo truyền thuyết, nắm giữ trong tay Ngài cái đầu, cái giữa và cái cuối của mọi sự vật, nghĩa là chúng vận hành theo luật tự nhiên do Ngài xếp đặt trên một đường thẳng cho đến lúc kết thúc. Công lý luôn đi theo Ngài và sẽ trừng phạt những kẻ không thực hành đến nơi đến chốn luật của Thượng đế…hắn bị luận phạt vì công lý không có gì khác hơn là phải thuận nhận mà thôi”.

Như vậy, khi nói về pháp luật, Platon nhấn mạnh đến luật tự nhiên, theo đó, công lý với nghĩa trừng phạt những kẻ vi phạm luật tự nhiên cũng mang tính tự nhiên. Ngoài ra, sự “thuận nhận” hay “tâm phục khẩu phục” cũng mang lại ý nghĩa tốt đẹp cho công lý. Tức là kẻ làm sai cũng nhận thấy cái sai của mình và vui vẻ, chấp thuận mà đồng ý với biện pháp trừng phạt áp dụng đối với mình. Đấy là sự khác nhau giữa “trừng phạt” theo nghĩa thông thường và “trừng phạt” của “công lý tự nhiên”. Trừng phạt theo nghĩa thông thường, có thể hiểu là sự trừng phạt theo quy định của pháp luật, do nhà làm luật quy định, kẻ làm điều sai có thể không “thuận nhận”.

Trong Quyển X, khi bàn về các tội của những người không tin vào Thần linh hoặc có những ý tưởng sai lầm về các ngài. Platon thể hiện rõ sự bất khoan dung của mình đối với những người này. Thái độ này xuất phát bởi lòng yêu nước của ông, chỉ nhằm chống lại cái mà ông cho rằng sẽ làm tổn thương nền đạo đức quốc gia. Về việc trừng phạt đối với những loại người này.

Platon cho rằng, công lý nằm ở chỗ các vị thần. Khi tiếp xúc với tư tưởng này, chúng ta có thể thấy có điểm giống với tư tưởng của Phật giáo phương Đông về “luật nhân – quả”. Gieo nhân gì, gặp quả nấy và cũng tuân theo cái lý tự nhiên, hay công lý tự nhiên mà thôi.

Còn theo Aristotle, vị triết gia mà ảnh hưởng và uy tín của ông mang tính quốc tế và vượt lên trên mọi trường phí, thì công lý được chia thành “công lý cải tạo” – nơi mà toà án với các quyết định của mình nhằm sửa chữa một lỗi lầm do một bên gây ra đối với bên khác và “công lý phân phối” – cách thức phân chia thành quả làm ra để công bằng với mỗi người, đúng theo những gì mà người đó xứng đáng được hưởng. Theo Aristotle, công lý phân phối chính là mối quan tâm chủ yếu, hàng đầu của các nhà lập pháp. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng luật pháp và công lý là hai khái niệm không hoàn toàn đồng nhất, thậm chí, trong một số xã hội, luật pháp đôi khi đi chệch hướng hoặc đối nghịch với công lý.

Công lý thể hiện trong Bộ Luật Hammurabi

Nền văn minh Lưỡng Hà thời BaBylon cổ đại lại có quan niệm công lý theo khía cạnh trao đổi, ngang bằng. Điều đó thể hiện rất rõ ở Bộ luật Hammurabi (khoảng năm 1750 TCN và hiện là văn bản luật cổ nhất của con người được bảo tồn khá tốt). Vua là người được các vị thần trao cho trọng trách giữ gìn công lý trong xã hội. Theo đó, “vì hạnh phúc loài người, thần Anu và thần Enlin đã ra lệnh cho trẫm, Hammurabi, một vị vua quang minh và ngoan đạo trẫm, phát huy chính nghĩa ở đời, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không hà hiếp người yếu”. Công lý được định ra để “đình chỉ phân tranh làm cho đất nước được hưởng thái bình, nơi ăn chốn ở của nhân dân được che chở, không có gì phải lo âu sợ hãi”. Công lý được đặt ra “Để cho người mạnh không hà hiếp kẻ yếu, để cho những người cô quả có chỗ nương tựa ở thành Babilon, nơi mà vị thủ lĩnh của nó được thần Anu và thần Enlin khen ngợi, ở đền Exajin mà nền móng của nó lâu bền cùng với trời đất, để cho toà án trong nước tiện việc xét xử, để cho sự tuyên án trong nước tiện việc quyết định, để cho những kẻ bị thiệt thòi được trình bày chính nghĩa”. Tư tưởng công lý trong Bộ luật này được thể hiện rõ sự gắn kết với việc giải quyết các vụ kiện tụng: “Nếu có được dân tự do nào đi kiện mà bị thiệt thòi thì đến trước bức tượng của trẫm tức là đến trước bức tượng của vị vua công bằng đọc cái cột đá mà trẫm khắc chữ, lắng nghe những lời vàng ngọc của trẫm, để cái cột đá của trẫm làm rõ vụ án cho người đó để người đó đựơc xét xử một cách công bằng, để cho lòng được nhẹ nhõm”.

Nhưng việc thể hiện cụ thể công lý trong Bộ luật Hammurabi lại có phần cứng nhắc và khắc nghiệt khi công lý gắn liền với sự trừng phạt, nó là sự trả thù ngang bằng, nghĩa là họ phải nhận lại một sự đau đớn về thể xác giống hệt như những gì họ làm cho người khác. Một số các điều luật thể hiện nguyên tắc đó rất rõ:

Điều 196: Nếu dân tự do làm hỏng mắt của con của bất cứ người dân tự do nào, thì phải làm hỏng mắt của y.

Điều 197: Nếu dân tự do làm gãy xương của dân tự do, thì phải làm gãy xương của y.

Điều 200: Nếu dân tự do đánh gãy răng của người dân tự do ngang hàng với mình, thì phải đánh gãy răng của y.

Nguyên tắc công lý thể hiện trong Bộ luật lại là việc áp dụng hình phạt ngang bằng, bắt nguồn từ tập quán trả thù nguyên thủy (Talion), “mắt đền mắt, răng đền răng”, hay “lấy mắt đổi mắt, lấy răng đổi răng”, hay theo kiểu thường nghe là “mạng đền mạng”, là một nguyên tắc là bất cứ ai làm cho người khác bị thương vì lý do gì thì cũng phải bị trừng phạt y như vậy. Đây là sự trả đũa theo pháp luật tùy theo mức độ nặng nhẹ việc làm ai đó bị thương. Dù cho những quan điểm, tư tưởng của các nhà khoa học thời kỳ này tiến bộ đến đâu chăng nữa, nhưng chỉ xuất hiện ở các giai thoại, tác phẩm khoa học… thì tính đại diện vẫn khó có thể so bằng Bộ luật thành văn như thế này. Và rõ ràng, khi nhắc đến nền công lý thời cổ đại, chúng ta ám chỉ ngay đến nền công lý báo thù như vậy.

Nguyễn Thế Anh Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh